tóm tắt luận án tiến sĩ Nghiên cứu chất lƣợng đất, nƣớc của khu vực Ramsar Xuân Thuỷ - Nam Định trong bối cảnh nƣớc biển dâng - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Trần Thị Kim Tĩnh
NGHIÊN CỨU CHẤT LƢỢNG ĐẤT, NƢỚC
CỦA KHU VỰC RAMSAR XUÂN THỦY - NAM ĐỊNH
TRONG BỐI CẢNH NƢỚC BIỂN DÂNG
Chuyên ngành: Môi trường đất và nước
Mã số: 62440303
(DỰ THẢO) TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
HÀ NỘI - 2014

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Khu Ramsar Xuân Thủy là vùng đất ngập nước (ĐNN) có
tầm quan trọng quốc tế bởi đây là môi trường sống, nơi nuôi dưỡng
nhiều loài sinh vật có giá trị toàn cầu và là “ga” chim quan trọng
trong chu trình di cư của nhiều loài chim quý hiếm. Chất lượng môi
trường đất, nước nơi đây là yếu tố nền tảng duy trì sự tồn tại và phát
triển của sinh vật, tạo cho khu Ramsar Xuân Thủy các chức năng và
giá trị kinh tế - xã hội, môi trường và văn hóa vô cùng quan trọng đối
với cộng đồng dân cư vùng cửa sông ven biển Giao Thuỷ. Tuy nhiên,
tác động của con người và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước
biển dâng đã, đang và sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng đất, nước
và gây nguy cơ suy thoái hệ sinh thái đa dạng sinh học, giảm sút số
lượng hoặc tuyệt chủng các loài quý hiếm đang sinh sống trong khu
vực. Do vậy, đề tài “Nghiên cứu chất lƣợng đất, nƣớc của khu vực
Ramsar Xuân Thuỷ - Nam Định trong bối cảnh nƣớc biển dâng”
được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn về tầm
quan trọng của việc bảo vệ chất lượng môi trường đất và nước, góp
phần bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì được các dịch vụ sinh thái,
môi trường khu Ramsar Xuân Thuỷ và đảm bảo sự phát triển bền
vững vùng ven biển Giao Thuỷ, Nam Định.
2. Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài
Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn về hiện trạng,
nguyên nhân, xu thế biến đổi chất lượng đất, nước và ảnh hưởng đến
đa dạng sinh học (ĐDSH) khu Ramsar Xuân Thủy trong bối cảnh
nước biển dâng (NBD) nhằm quản lý bền vững và sử dụng khôn
khéo vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế của Việt Nam.
2


Thuỷ trong bối cảnh NBD, góp một phần nhỏ trong việc thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH ở Việt Nam.
5. Những đóng góp mới của luận án:
i) Lần đầu tiên đánh giá hiện trạng nguyên nhân, xu thế biến
đổi của chất lượng đất, nước và ảnh hưởng của chúng đến ĐDSH
khu Ramsar Xuân Thủy trong bối cảnh nước biển dâng;
ii) Lần đầu tiên mô tả và dự báo được đầy đủ các yếu tố tác
động (tự nhiên và nhân sinh) đến chất lượng đất, nước và đa dạng
sinh học của khu Ramsar Xuân Thủy, đặc biệt trong bối cảnh nước
biển dâng;
iii) Đề xuất được các giải pháp quản lý tổng hợp và sử dụng
khôn khéo ĐNN góp phần duy trì đặc tính sinh thái khu Ramsar
Xuân Thủy trong bối cảnh nước biển dâng.
6. Luận điểm bảo vệ
- Hiện trạng, xu thế diễn diến chất lượng đất, nước và mối
quan hệ với ĐDSH khu Ramsar Xuân Thủy trong bối cảnh nước biển
dâng được xác định trên cơ sở phân tích tính chất hóa lý của môi
trường đất, nước và sự biến đổi về cấu trúc, thành phần loài ở khu
vực Ramsar Xuân Thủy.
- Sử dụng phương pháp đánh giá tổng hợp theo mô hình
DPSIR (Động lực – Áp lực - Hiện trạng – Tác động và Đáp ứng) để
mô tả, dự báo các tác động của con người và NBD đến chất lượng
đất, nước và ĐDSH khu Ramsar Xuân Thủy.
- Các giải pháp bảo vệ môi trường đất, nước và bảo tồn
ĐDSH được xây dựng trên cơ sở tiếp cận sử dụng khôn khéo ĐNN
và quản lý tổng hợp đới bờ nhằm duy trì, phát triển các dịch vụ hệ
sinh thái ĐNN khu Ramsar Xuân Thủy trong bối cảnh NBD.
4

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

rác ở miền Bắc (Xuân Thủy và Ba Bể) và miền Nam (Bầu Sấu, Tràm
Chim, Mũi Cà Mau và Côn Đảo).
1.1.3. Tình hình nghiên cứu chất lƣợng đất, nƣớc: đến nay thế
giới có rất nhiều nghiên cứu về chất lượng đất, nước tại các khu
Ramsar, vùng ĐNN nhằm kiểm soát sự suy thoái chất lượng môi
trường các vùng ĐNN, hạn chế ảnh hưởng đến ĐDSH và đảm bảo
duy trì phát triển kinh tế cộng đồng địa phương xung quanh các khu
Ramsar như Đức, Ý, Thụy Điển, Oxtraylia, Malaysia….
1.2. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG ĐẤT, NƯỚC KHU RAMSAR
VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN
1.2.1. Đặc điểm môi trƣờng đất của khu Ramsar vùng cửa sông
ven biển
Đất cát ven biển, đất bãi triều ngập mặn là các nhóm đất
điển hình của khu Ramsar vùng cửa sông ven biển. Đất cát có hàm
lượng sét, mùn và độ ẩm rất thấp, thuộc loại ít chua đến trung tính,
Ca
++
và Mg
++
trao đổi không cao, N, P, K và các khoáng dinh
dưỡng rất nghèo. Hàm lượng cacbon hữu cơ và N
ts
khu Ramsar ven
biển miền Bắc (0,4-1,2% C hữu cơ và 0,08-0,14% N) thấp hơn
miền Nam (0,5-1,5% C hữu cơ và 0,10-0,15% N) nhưng hàm lượng
P
ts
(0,070-0,120% P
2
O

/
00
- 31
0
/
00
(miền Nam). Hàm lượng bùn cát lơ lửng
từ 50-500g/m
3
(miền Bắc) và 200g/m
3
- 550g/m
3
(miền Nam). Tính
chất hóa học và hàm lượng các chất dinh dưỡng N, P hòa tan trong
nước vùng triều ven biển dao động không lớn.
1.3. MỐI ĐE DỌA VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ KHU RAMSAR VEN
BIỂN
1.3.1. Các mối đe dọa đến khu Ramsar vùng cửa sông ven biển
Các tác động của con người nhưkhai thác tài nguyên quá
mức và trái phép, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ĐNN sang nuôi
trồng thủy sản (NTTS).v.v. đã và đang gây ra những hệ lụy về suy
thoái các vùng ĐNN, suy giảm tài nguyên, giảm thiểu chất lượng
môi trường và đe dọa an ninh lương thực.
BĐKH và NBD sẽ gây ngập lụt, xói lở bờ biển, nước mặn
xâm nhập sâu vào đất liền cuốn theo các chất thải, làm tăng độ mặn
của đất và ô nhiễm môi trường đất, nước vùng cửa sông ven biển và
ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của các sinh vật.
1.3.2. Công tác bảo vệ môi trƣờng, ĐDSH học khu Ramsar: được
triển khai thông qua các giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý và

đổi và một số kim loại nặng); sinh cảnh RNM, một số loài chim di cư
quý hiếm và các giải pháp giảm thiểu mối đe dọa đến đất, nước và
ĐDSH khu Ramsar Xuân Thủy trong bối cảnh NBD.
Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu: tại khu Ramsar
Xuân Thủy, Nam Định từ năm 2010 - 2014.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phƣơng pháp thu thập và kế thừa thông tin tài liệu: về hiện
trạng kinh tế xã hội, môi trường, ĐDSH, công tác quản lý khu
8

Ramsar và tài liệu liên quan luận án.
2.2.2. Phƣơng pháp điều tra khảo sát: được tiến hành mỗi năm/lần.
2.2.3. Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích thông tin tài liệu
2.2.4. Phƣơng pháp thu mẫu: Mẫu nước được lấy chủ yếu trên 2
sông chính (sông Trà và sông Vọp). Mẫu đất được lấy ở cồn Ngạn và
cồn Lu. Mẫu thực vật được thu thập (tháng 7/2013) cùng vị trí lấy
mẫu đất. Các mẫu đất, nước được lấy vào mùa khô 2012, 2013 và
mùa mưa 2011, 2013 và 2014 để đánh giá chất lượng đất, nước.
2.2.5. Phƣơng pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Tiến hành
phân tích các chỉ tiêu hóa lý của đất, nước khu Ramsar bằng phương
pháp thông dụng theo QCVN. Chỉ tiêu thủy hóa (nhiệt độ, pH, độ
mặn, độ đục, DO) được xác định ngay tại hiện trường. Mẫu thực vật
được phân tích theo các chỉ tiêu kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, Cd, As).
2.2.6. Phƣơng pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả
2.2.7. Phân tích mô hình Động lực, Áp lực, Hiện trạng, Tác động
và Giải pháp (DPSIR) đểquản lý bền vững Ramsar Xuân Thủy.
2.2.8. Phƣơng pháp phân tích, xử lý ảnh vệ tinh, vẽ bản đồ: giải
đoán, chiết tách thông tin từ ảnh vệ tinh, điều vẽ trực tiếp trên máy
tính, sử dụng GIS để chồng lớp thông tin nền và thành lập bản đồ.
2.2.9. Phƣơng pháp nội suy: được sử dụng để nội suy sự phân bố

Hàm lượng muối tan, SO
4
2-
và Cl
-
dao động lần lượt từ 0,15 -
0,425%, 0,11 - 0,26% và 0,013 - 0,109%. Mẫu đất ở cồn Ngạn có độ
mặn thấp (thấp nhất với 0,15%), bị nhiễm phèn trung bình và ở cồn
Lu có độ mặn cao (cao nhất 0,432%). Hàm lượng kim loại nặng (Cu,
Pd, Zn, Cd, As) trong mẫu đất cồn Ngạn cao hơn mẫu đất cồn Lu
vànằm trong giới hạn cho phép của QCVN 03:2008, ngoại trừ As cao
gấp 3,7 – 9,9 lần. Nguyên nhân do tính chất đặc trưng của ĐNN
vùng cửa sông ven biển (hấp thụ chất ô nhiễm) từ quá trình sinh địa
hóa, chất thải từ các đầm NTTS và tàu thuyền qua lại trong khu
Ramsar, chất thải nội đồng và tải lượng bùn cát (chứa chất ô nhiễm)
từ sông Hồng chảy vào khu Ramsar. Hàm lượng Phốt pho và Kali
trong các mẫu đất có giá trị từ trung bình tới khá giàu, trong khi Nitơ
10

có giá trị thấp và thuộc loại nghèo đến trung bình (0,019-0,172%).
Nitơ, Phốt pho, Kali và TOC trong các mẫu đất ở cồn Ngạn cao hơn
so với nhiều mẫu đất cồn Lu, riêng ĐCL11 có hàm lượng P
ts
cao nhất
và cao hơn tiêu chuẩn nhóm đất mặn (0,336 % P
2
O
5
). Nguyên nhân
chính do một lượng lớn chất dinh dưỡng được bổ sung vào các đầm

TOC
(%)
1
Cồn
Ngạn
ĐCN1
0,019
0,110
2,16
1,30
2
ĐCN2
0,075
0,095
2,13
1,61
3
ĐCN3
0,075
0,109
2,23
1,46
4
ĐCN4
0,056
0,099
1,89
1,31
5
ĐCN5

2
ĐCL2
0,075
0,114
1,50
1,37
3
ĐCL3
0,037
0,096
1,72
1,00
4
ĐCL4
0,088
0,052
0,256
2,349
11

5
ĐCL5
0,039
0,031
1,715
1,158
6
ĐCL6
0,102
0,056

0,234
0,204 Trung bình
0,062
0,087
1,002
1,489
Nhìn chung, đất khu vực cồn Lu có dấu hiệu nghèo dinh
dưỡng hơn so với cồn Ngạn (hàm lượng Nitơ, Phốt pho, Kali thấp
hơn cồn Ngạn) trừ khu vực RNM cồn Lu. Giá trị pH tại cồn Lu biến
động nhiều hơn so với cồn Ngạn. Các khu vực đầm NTTS tại cồn
Ngạn và cồn Lu đều có hàm lượng dinh dưỡng, kim loại nặng cao,
độ mặn của đất thấp hơn so với các khu vực ngoài đầm NTTS.
3.1.1.2. Xu thế biến đổi chất lượng đất khu Ramsar Xuân Thủy
Chất lượng đất khu Ramsar Xuân Thủy có xu thế biến đổi
theo không gian và thời gian. Các chỉ tiêu chất lượng đất trong khu
vực dao động không nhiều, ngoại trừ hàm lượng KLN trong đất tăng
nhẹ (Pb, As và Zn) do xu thế tăng khả năng tích lũy chất ô nhiễm của
đất ĐNN vùng cửa sông ven biển. Giá trị trung bình các chất dinh
dưỡng có xu hướng giảm nhưng TOC trong đất gia tăng ở cồn Lu và
giảm ở cồn Ngạn. Tổng số muối tan, N
ts
, P
ts
, Cl
-
, Ca
2+

, P
ts
và K
ts
có xu hướng giảm nhẹ.
Giá trị trung bình N
ts
, P
ts
và K
ts
đo được mùa khô năm 2012 là 0,054
%N, 0,044 %P
2
O
5
, 1,580 %K
2
O
5
cao hơn so với kết quả đo vào mùa
mưa năm 2013 là 0,053 %N, 0,042 %P
2
O
5
và 1,001 %K
2
O
5
. Hàm

độ ô nhiễm hữu cơ và sự phát triển, tồn tại của các loài động vật thủy
sinh. Hàm lượng DO giảm dần từ cửa sông Ba Lạt (thượng lưu sông
Trà, sông Vọp) xuống hạ lưu sông Trà và sông Vọp. DO tại cửa sông

Trà từ 5,06 mg/l
giảm xuống 4,72mg/l
ở hạ lưu và cửa sông
Vọp từ 5,4mg/l giảm
còn 3,95mg/l ở hạ
lưu) (Thể hiện bởi
màu đỏ cam sang
màu xanh lơ nhạt tại
hình 3.10).
Hình 3.10: Phân bố hàm lượng DO trong nước
Ngược lại, hàm lượng COD, BOD tăng từ thượng lưu (cửa
sông Ba Lạt) dần về phía hạ lưu của sông Trà và sông Vọp. Đặc biệt,
hậu quả của việc nuôi ngao vạng với mật độ dày ở đuôi cồn Lu đã
làm gia tăng đột biến hàm lượng BOD và COD, đạt giá trị cao nhất
tại NV7 (12,5mg/l COD và 9mg/l BOD) (Hình 3.11 và Hình 3.12).
Nước mặt khu Ramsar Xuân Thủy có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ do
hàm lượng BOD và COD trong các mẫu nước vượt quá tiêu chuẩn
cho phép (QCVN 10:2008 và A2 của QCVN 08:2008).
14
Hình 3.11: Phân bố hàm lượng BOD
Hình 3.12: Phân bố hàm lượng COD
Hàm lượng NH
4

giao giữa sông Vọp, sông Trà với các cống thải từ các ao đầm NTTS.
Hàm lượng DO trong các mẫu nước mặt thấp hơn QCVN 10:2008
(ngoại trừ mẫu khu vực cửa sông Vọp, sông Trà và RNM cồn Lu) và
có chiều hướng giảm dần từ các cửa sông Trà, sông Vọp và thấp nhất
ở hạ lưu các sông này. Hàm lượng BOD, COD vượt quá tiêu chuẩn
cho phép của QCVN 10:2008 (trừ nước mặt khu vực RNM cồn Lu
và RNM cồn Ngạn) và tăng dần từ cửa sông Vọp, sông Trà xuống hạ
lưu các sông và đạt giá trị cao nhất tại cuối sông Vọp, đuôi cồn Lu.
Hàm lượng NH
4
+
và NO
3
-
cao tại cửa sông Vọp, sông Trà và giảm
dần xuống vùng hạ lưu, trong khi NO
2
-
tăng dần xuống hạ lưu. Nước
mặt sông Trà, sông Vọp và khu vực cồn Ngạn bị ô nhiễm vi sinh do
chỉ số T-Coliform cao hơn tiêu chuẩn cho phép QCVN 10:2008. Giá
trị pH và các KLN trong nước đều nằm trong QCVN 10:2008, ngoại
trừ một số mẫu có hàm lượng Cd cao do ảnh hưởng của nước lũ sông
Hồng và chất thải nội địa chảy vào khu Ramsar trong mùa mưa.
3.1.3.2. Xu thế biến đổi chất lượng nước năm 2011 – 2014
Chất lượng nước mặt khu Ramsar Xuân Thủy biến đổi theo
không gian và thời gian. Nước mặt có xu hướng kiềm tính và không
ổn định do chịu ảnh hưởng của chế độ triều cường, lưu lượng nước
sông Hồng và lượng mưa. Độ mặn có xu hướng tăng (cao nhất năm
2011 là 20,3‰, đến năm 2014 tăng lên 26,82‰), phân bố khác nhau

Năm 2014
(mùa mƣa)
Sông
Vọp
DO
NV1
5,8
5,4
6,86
5,08
NV4
4,23
4,72
6,62
4,35
BOD
NV1
5,3
5,7
5,0
8,0
NV4
7,0
6,5
6,0
9,0
COD
NV1
7,8
8,5

8,0
COD
NT3
8,3
10,2
8,4
11,0
NT5
27,7
7,3
7,5
11,0
Việc thiếu quy hoạch các vùng NTTS khiến lượng lớn vật
chất hữu cơ trong đầm được xả thẳng ra hai con sông chính, kéo theo
17

nguy cơ phì dưỡng khi hàm lượng N, P tăng lên, đặc biệt là hàm
lượng N-NH
4
+
trên sông Vọp và PO
4
3-
trên sông Trà. Hàm lượng
amoni và nitrat cao tại cửa sông Vọp (NV1) và giảm dần xuống vùng
hạ lưu (NV7), quá trình này diễn biến trái chiều so với các chỉ số ô
nhiễm hữu cơ. Diễn biến hàm lượng amoni, nitrat và nitrit trên sông
Vọp và sông Trà tương đối phức tạp, kết quả quan trắc mùa đông
năm 2013 không có sự biến đổi như mùa hè, hàm lượng nitrit không
có sự biến đổi nhiều giữa các điểm quan trắc và tại các điểm NV4,

Hoạt động NTTS: phát triển nhanh chóng trong khu Ramsar
đã có những tác động nghiêm trọng đến môi trường đất, nước. Nước
thải từ các đầm NTTS chứa hàm lượng BOD, COB, N, P cao đã làm
gia tăng ô nhiễm hữu cơ, phú dưỡng và ô nhiễm vi sinh trong khu
Ramsar. Chất lượng đất ở đuôi cồn Lu bị biến đổi, giảm lượng phù
sa, tăng hàm lượng cát, nền đất chai cứng do bổ sung thêm cát từ
sông Hồng trong quá trình nuôi ngao (200-300m
3
cát/ha).
Hoạt động nông nghiệp và công nghiệp: ảnh hưởng đến môi
trường đất và nước bởi các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp và
chất thải nguy hại.
Hạn chế kiểm soát tài nguyên, môi trường: đã làm gia tăng
lượng chất thải (hóa chất làm sạch các đầm NTTS tại cồn Ngạn) ra
vùng lõi khu Ramsar, gây ô nhiễm môi trường nước, đất và phá huỷ
chu trình dinh dưỡng và sự phát triển của sinh vật trong khu Ramsar.
3.2.2. Tác động của nƣớc biển dâng tới chất lƣợng đất, nƣớc
NBD tại khu vực Ramsar Xuân Thủy thể hiện qua số liệu
quan trắc tại trạm hải văn khu vực Hòn Dấu trong 50 năm qua đã
dâng lên 20cm. Cao độ của đê Vành lược đã được nâng cấp hơn
60cm để hạn chế NBD gây ngập nhiều khu vực trong cồn Ngạn.
NBD ảnh hưởng đến chất lượng đất, nước thông qua sự gia
19

tăng độ mặn, nước mặn xâm nhập sâu hơn vào khu vực nội đồng và
gây mất đất. Độ mặn tại cửa sông Vọp tăng từ 0,18‰ (năm 2013) lên
0,53‰ (năm 2014) đã ảnh hưởng đến hoạt động NTTS khu vực bãi
triều và canh tác nông nghiệp vùng cửa sông Ba Lạt. Để nâng cao
sản lượng thu hoạch, nhiều chủ đầm đổ thêm cát làm tăng cốt nền cát
cho ngao phát triển, dẫn tới thay đổi tính chất đất, ảnh hưởng sự phát

Trung bình
Thấp ->TB
Bão
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Tổng hợp
yếu tố tự
nhiên
Cao: Gây
ngập, mất diện
tích RNM, đất
bãi triều thấp.
Cao: thay đổi
tính chất đất,
tăng độ mặn
và ô nhiễm.
Cao: tăng độ
mặn, nhiệt độ
và ô nhiễm
nước mặt.
Cao: suy giảm số
lượng và tính đa
dạng loài, đặc biệt
loài quý hiếm giảm
Phá RNM
Trung bình
Trung bình
Trung bình

sông Trà và
cồn Ngạn.
sinh vật phù du,
động vật đáy cho
các loài thủy sản,
giảm số lượng các
loài chim di cư
quý hiếm.
Tác
động
tổng
hợp của
tự
nhiên
và con
ngƣời
Rất cao:
Ngập các bãi
triều, cồn
Ngạn, bãi
Trong, gây xói
mòn và biến
đồng đường
bờ, giảm diện
tích RNM, bãi
triều khu
Ramsar.
Rất cao:
Tích lũy chất
thải từ NTTS

đến chất lượng đất và nước khu Ramsar Xuân Thủy. Mối đe dọa này
sẽ gia tăng, gây ô nhiễm nước và suy thoái chất lượng đất khi xu thế
NBD đang diễn ra trên toàn cầu và khu vực ĐBSH.
3.2.3. Ảnh hƣởng của sự biến đổi chất lƣợng đất, nƣớc đến
ĐDSH
Chất lượng môi trường đất, nước ảnh hưởng trực tiếp đến
ĐDSH (hệ sinh thái RNM, thành phần và số lượng các loài động
21

thực vật) khu Ramsar Xuân Thủy bởi chúng nuôi dưỡng và đầu vào
cho sự phát triển của HST RNM và các loài sinh vật nơi đây.
Các yếu tố hóa học tác động đến ĐDSH: tại khu vực NTTS
hoặc cống thoát từ đầm NTTS ở cồn Ngạn, hạ lưu sông Trà, sông
Vọp có hàm lượng DO giảm, BOD, COD, N, P tăng cao nên sinh vật
ít phát triển, đặc biệt tại đuôi cồn Lu. Nước thải từ hoạt động NTTS
luôn có lẫn một số vi khuẩn gây bệnh đối với động thực vật hoặc sử
dụng hóa chất tẩy rửa đầm NTTS tại cồn Ngạn đã gây rụng lá và chết
cây Trang.Đất của ĐNN vừa là môi trường chuyển hóa của nhiều
hóa chất ĐNN và cũng là nơi tồn trữ đầu tiên của những hóa chất
dành cho thực vật ĐNN nên hàm lượng KLN trong đất cao sẽ dẫn tới
khả năng tích lũy KLN trong thực vật cao. Kết quả phân tích năm
2013 đã cho thấy hàm lượng As trong mẫu đất ĐCN3 cao
(105,782mg/kg) và trong mẫu cây Trang (PCN3) (cùng vị trí mẫu
đất) cũng cao (320,02mg/kg). Sự gia tăng ô nhiễm hữu cơ và vi
sinhkhu vực đuôi cồn Lu đã dẫn tới suy giảm nguồn động, thực vật
phù du và các loài thủy sinh, làm giảm nguồn thức ăn và mất nơi
kiếm ăn của các loài chim nước, dẫn tới số lượng và số loài chim
nước di cư quý hiếm hiện nay giảm.
Yếu tố độ mặn tác động tới cấu trúc thành phần loài: quá
trình xâm nhập mặn, ngọt hóa, sự biến đổi độ mặn, nhiệt độ và pH

Đẩy mạnh các hoạt động quản lý hiệu quả khu Ramsar: tăng
cường năng lực và đầu tư thiết bị bảo vệ môi trường và ĐDSH.
Thúc đẩy sử dụng khôn khéo ĐNN: duy trì, sử dụng bền
vững các kiểu ĐNN trong khu Ramsar Xuân Thủy và giám sát sự
biến động các kiểu ĐNN và khả năng cung cấp dịch vụ HST, đặc
biệt dịch vụ hỗ trợ là nơi nuôi dưỡng, trú ẩn của loài quý hiếm.
Bảo vệ chất lượng đất, nước và bảo tồn ĐDSH: quan trắc
23

định kỳ các chỉ tiêu chất lượng đất ở cồn Ngạn, cồn Lu và nước mặt
trên các sông Trà, sông Vọp và kiểm soát chặt chẽ các tác nhân gây
ảnh hưởng môi trường đất, nước và chú trọng quản lý lưu vực.
Thúc đẩy phương thức đồng quản lý khu Ramsar: hỗ trợ các
sinh kế bền vững và huy động sự tham gia của cộng đồng bảo vệ môi
trường, bảo tồn ĐDSH và sử dụng khôn khéo ĐNN; thành lập tổ tự
quản để cùng bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên ĐNN; quản lý
chặt chẽ HST RNM và giảm diện tích NTTS trên các bãi triều - môi
trường sống của nhiều loài chim di cư quý hiếm.
- Giải pháp ứng phó với mực nước biển dâng: phục hồi, phát
triển các loài cây ngập mặn có tính chống chịu cao; bảo vệ chặt chẽ
RNM và loại bỏ hoạt động NTTS trong các HST RNM, thúc đẩy tái
sinh tự nhiên thực vật ngập mặn nhằm cố định bãi bồi và môi trường
sống cho các loài sinh vật. Nâng cấp đê biển, đê vùng cửa sông theo
kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu của huyện Giao Thủy; xây
dựng công trình ngăn mặn, nâng cao cốt đê ngăn cách giữa vùng lõi
và vùng đệm VQG Xuân Thủy; gia cố và tăng chiều cao của đầm
nuôi thủy sản quảng canh tại khu vực Bãi Trong và cồn Ngạn.
KẾT LUẬN
1. Chất lượng đất, nước khu Ramsar Xuân Thủy biến đổi
theo không gian, thời gian và ảnh hưởng tới cấu trúc và thành phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status