TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHÙNG THỊ HỒNG GẤM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2014
1
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH
NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ
TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHÙNG THỊ HỒNG GẤM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. VÕ NAM SƠN
PGs. Ts. ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG
2014
LỜI CẢM TẠ
2
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH
NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ
TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN
Xin chân thành cảm ơn !
Trước hết, tôi xin gửi lời tri ân đến PGs.Ts Lê Xuân Sinh đã giúp tôi hoàn
thành đề cương và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Võ Nam Sơn và
PGs.Ts Đỗ Thị Thanh Hương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện
luận văn.
Quý Thầy, Cô Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những
kinh nghiệm quý báu trong những năm tôi học tại trường.
23 con/m
2
. Năng suất trung bình nuôi TCT - C là 15,97 tấn/ha/vụ cao hơn và
khác biệt có ý nghĩa thống kê so với mô hình nuôi TCT - TT là 9,14 tấn/ha/vụ
và sú - TT là 4,22 tấn/ha/vụ. Tổng chi phí đầu tư mô hình nuôi tôm bổ sung
carbon cao hơn mô hình nuôi tôm TCT - TT và sú - TT lần lượt là 1,7 và 3,1
lần. Lợi nhuận từ mô hình nuôi tôm bổ sung carbon cao 689
tr.đ/ha/vụ, MH
nuôi tôm TCT - TT là 225
tr.đ/ha/vụ và nuôi tôm sú - TT 112
tr.đ/ha/vụ. Tỷ lệ
LN/TC mô hình nuôi tôm bổ sung carbon cao 0,57 và khác biệt có ý nghĩa so
với MH nuôi tôm TCT - TT 0,32 và nuôi tôm sú - TT 0,27. Tỷ lệ rủi ro MH
nuôi tôm TCT - C là 22% thấp hơn MH nuôi tôm TCT - TT 53% và sú - TT
64%. Hộ nuôi có sử dụng ao lắng, sục khí đáy ao và kiểm tra PCR giống trước
khi thả thì tỷ lệ rủi ro thấp hơn nhóm không sử dụng.
Khó khăn chung các MH nuôi tôm là: Bệnh tôm khó/không điều trị được và
tần suất xuất hiện bệnh ngày càng cao; thiếu vốn sản xuất; chất lượng con
giống kém; CP đầu vào luôn tăng; nguồn nước ngày càng ô nhiễm.
Từ khóa: tôm thẻ chân trắng, tôm sú, mô hình nuôi, chi phí – lợi nhuận
4
ABSTRACT
The study was carried out from April 2013 to April 2014 to figure out
the production efficiencies and cost-benefit characteristics of intensive culture
of added organic carbon and traditional systems of white leg shrimp and
traditional culture system of tiger shrimp in Ninh Thuan province.
The specific objectives are (i) to determine current status of intensive
the shrimp culture systems are rising of production costs, poor seed quality,
shrimp disease (Early Mortality Syndrome), and poor water quality.
Keywords: white leg shrimp, tiger shrinp, farming system, cost-
benefit analysis.
5
CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu
của tôi trong khuôn khổ dự án “Nuôi trồng Thủy sản bền vững theo tiêu chuẩn
thương mại” (SEAT: Sustaining Ethical Aquaculture Trade, EU) và các kết
quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ chuyên đề cùng cấp nào
khác. Dự án có quyền sử dụng kết quả của luận văn này để phục vụ dự án.
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
PHÙNG THỊ HỒNG GẤM
6
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ
TÓM TẮT
ABSTRACT
CAM KẾT KẾT QUẢ
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Nội dung nghiên cứu
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
15
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
15
3.2 Phương pháp thu thập số liệu
16
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
16
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
16
3.3 Các biến chủ yếu trong nghiên cứu
16
3.4 Phương pháp phân tích số liệu
17
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN
18
4.1 Hiện trạng nuôi tôm biển Ninh Thuận
18
4.1.1 Hiện trạng nuôi tôm sú
18
4.1.2 Hiện trạng nuôi tôm thẻ chân trắng
19
8
4.1.3 Ứng dụng công nghệ biofloc (bổ sung carbon hữu cơ) vào ao nuôi tôm
20
4.2 Mô hình nuôi tôm tỉnh Ninh Thuận
21
4.2.1 Thông tin chung các mô hình nuôi tôm
22
4.2.2 Đặc điểm ao nuôi tôm
50
4.4.4 Các loại hỗn hợp dinh dưỡng bổ sung vào thức ăn
54
4.5.5 Nhóm chế phẩm sinh học (CPSH)
52
4.5 Những thuận lợi khó khăn các mô hình nuôi tôm ở tỉnh Ninh Thuận
54
4.5.1 Mô hình nuôi tôm truyền thống
53
4.5.2 Ứng dụng mô hình nuôi tôm theo công nghệ biofloc
55
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
56
5.1 Kết luận
56
5.2 Đề xuất
56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
58
PHỤ LỤC A: CHI PHÍ BIẾN ĐỔI CÁC HỘ LỖ 3 MÔ HÌNH NUÔI TÔM
66
PHỤ LỤC B: PHIẾU PHỎNG VẤN NÔNG HỘ
67
10
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Số lượng và phân bố mẫu khảo sát
16
Bảng 3.2: Các biến phức và biến đơn thể hiện trong biểu mẫu phỏng vấn
41
Bảng 4.15: Phân nhóm mật độ ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả sản xuất
các mô hình nuôi tôm
42
Bảng 4.16: Phân nhóm diện tích ao nuôi ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả
sản xuất các mô hình nuôi tôm
43
Bảng 4.17: Phân nhóm sục khí đáy ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả sản
xuất các mô hình nuôi tôm
44
Bảng 4.18: Phân nhóm ao lắng ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả sản xuất
các mô hình nuôi tôm
45
Bảng 4.19: Phân nhóm kiểm tra PCR giống ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả
sản xuất các mô hình nuôi tôm
45
Bảng 4.20: Tỷ lệ phần trăm hộ lời và lỗ 3 mô hình nuôi tôm
46
Bảng 4.21: Chi phí các hộ nuôi tôm bị lỗ
47
Bảng 4.22: Thuốc, hóa chất diệt khuẩn trong khâu chuẩn bị ao nuôi
51
Bảng 4.23: Các nhóm khoáng được sử dụng trong nuôi tôm
51
Bảng 4.24: Các loại hỗn hợp dinh dưỡng bổ sung vào thức ăn
53
Bảng 4.25: Những thuận lợi mô hình nuôi tôm truyền thống
55
Bảng 4.26: Những khó khăn mô hình nuôi tôm truyền thống
55
52
Hình 4.11: Nhóm CPSH sử dụng trong nuôi tôm
54
14
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AHPNS
Acute hepatopancreatic necrosis syndrome
(bệnh hoại tử gan tụy)
Bio
Security shrimp culture (nuôi an toàn sinh học)
BMP
Best management practice (thực hành quản lý tốt)
BNN & PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CĐ Cao đẳng
CP Chi phí
ĐBSCL
Đồng Bằng Sông Cửu Long
ĐH Đại học
EMS
Earyly Mortality Syndrome (bệnh tôm chết sớm)
FAO Food and Agriculture Ỏganization
GAP
Good aquaculture practice (thực hành nuôi tốt)
LN Lợi nhuận
MBV Monodon Baculovirus (bệnh còi)
MH Mô hình
NTTS Nuôi trồng thủy sản
PL
Post (kích cỡ tôm)
TA Thức ăn
đạt chất lượng tốt.
Nhằm hướng đến phát triển bền vững nghề nuôi tôm trên thế giới, các mô
hình nuôi cải tiến không ngừng đảm bảo an toàn sinh học, an toàn tiêu dùng và thân
thiện môi trường được ứng dụng rộng rải giúp quản lý nghề nuôi tốt hơn như: thực
hành nuôi tốt (GAP - good aquaculture practice), thực hành quản lý tốt (BMP - best
management practice), nuôi an toàn sinh học (Bio - security shrimp culture), nuôi có
trách nhiệm, nuôi kết hợp, nuôi sinh thái (Boyd, 2003), nuôi theo công nghệ biofloc
(biện pháp bổ sung nguồn carbon) vào ao nuôi tôm đã được thảo luận trong nhiều
công trình nghiên cứu. Ở nước ta Ninh Thuận là tỉnh dẫn đầu nuôi tôm thẻ chân trắng
và tôm sú thâm canh với các mô hình nuôi khác nhau như nuôi theo truyền thống,
nuôi bổ sung carbon hữu cơ. Trong đó mô hình nuôi có bổ sung carbon hữu cơ đã
đem lại thành công đáng kể và khống chế được dịch bệnh. Vấn đề cấp thiết đặt ra lúc
này là lựa chọn phương thức nuôi và đối tượng nào để đảm bảo nghề nuôi phát triển
bền vững và thân thiện với môi trường. Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Phân tích
hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú thâm canh
tỉnh Ninh Thuận” được thực hiện là hết sức cần thiết.
1.2 Mục tiêu đề tài
Mục tiêu chung của đề tài nhằm làm rõ những mặt ưu điểm, mặt hạn chế của
từng đối tượng và mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú thâm canh qua đó giúp
nghề nuôi phát triển một cách hiệu quả và bền vững ở tỉnh Ninh Thuận.
17
Mục tiêu cụ thể gồm có
1. Khảo sát quá trình phát triển của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú
thâm canh ở tỉnh Ninh Thuận.
2. Đánh giá hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng
và tôm sú.
3. Đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả sản xuất, lựa chọn đối tượng và mô
hình nuôi đem lại hiệu quả.
1.3 Nội dung thực hiện đề tài
1. Điều tra hiện trạng nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng và tôm sú ở tỉnh Ninh
o
C, độ mặn thích hợp nhất cho tăng trưởng là 25 - 30‰, oxy hòa
tan là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình nuôi tôm, hàm lượng
oxy hòa tan thích hợp là 4 - 8 mg/L (Nguyễn Khắc Hường, 2007). Tôm thẻ chân
trắng có khả năng thích ứng với biến động môi truờng rất cao. Theo Nguyễn Khắc
Hường (2007), thẻ chân trắng chịu đựng nhiệt độ cao tốt, giới hạn tối đa là 43,5
o
C,
nhưng trái lại nhiệt độ thấp thì rất kém dưới 18
o
C hoạt động bắt mồi giảm, duới 9
o
C
thì tôm chết. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm là 23 - 30
o
C. Theo Đỗ
Thị Thanh Hương (2008), tôm thẻ chân trắng có khả năng chịu đựng được với độ
mặn của môi trường thấp. Loài này có thể tăng trưởng tốt ở môi trường nuôi có độ
mặn thấp tại một số vùng ở Mỹ và Ecuador. Có thể chịu đựng độ muối trong phạm vi
2 - 78‰, thích hợp: 7 - 34‰ và tăng trưởng tốt ở độ mặn khá thấp: 10 - 15‰.
2.1.3 Tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng
Tôm sú là loài ăn tạp, ăn đáy thiên về động vật. Thức ăn của tôm bao gồm
giáp xác, các mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, côn trùn (Phạm Văn Tình, 2003). Tôm
sú có nhu cầu đạm rất cao (45% - 40%) nên thức ăn thường có giá cao hơn các loại
thức ăn của các loại tôm khác. Tôm thường ăn vào ban đêm (2/3 khẩu phần ăn của
ngày) và ăn lẫn nhau đặc biệt là khi nguồn thức ăn bị thiếu. Vào những tháng cuối
của thu hoạch thì nên cho tôm ăn thêm những loại thức ăn tươi sống như mực,
nhuyễn thể để tôm chắc thịt và và có độ bóng nhất định. Tôm thẻ chân trắng là loài
ăn tạp (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2003), tôm thẻ ăn cả thực vật và động vật ở
các dạng phiêu sinh, ăn chất hữu cơ…Đối với thức ăn công nghiệp thì cần độ đạm
Năm 2012, nuôi tôm nước lợ cả nước phải đối diện với hàng loạt khó khăn, nhất là
tình trạng dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả
sản xuất. Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, năm 2012, cả nước có 30 tỉnh, thành
phố nuôi tôm nước lợ, với diện tích thả nuôi 657.523 ha, đạt sản lượng 476.424 tấn.
So với năm 2011 diện tích tăng 0,2%, sản lượng giảm 3,9%. Trong đó, nuôi tôm sú
chiếm 94,1% tổng diện tích và 62,7% sản lượng tôm nuôi trong cả nước. Tôm thẻ
nuôi chiếm 5,9% diện tích, sản lượng chiếm 27,3%. Khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long là vùng nuôi tôm nước lợ chủ yếu của cả nước, diện tích nuôi tôm là 595.723
ha, sản lượng 358.477 tấn (chiếm 90,61% diện tích, 75,2% sản lượng nuôi tôm cả
nước), trong đó diện tích nuôi tôm sú là 579.997 ha, sản lượng 280.647 tấn (chiếm
93,6 % diện tích, 94% sản lượng tôm sú cả nước), diện tích nuôi tôm chân trắng là
20
15.727 ha, sản lượng 77.830 tấn (chiếm 41,2.% diện tích, 42% sản lương tôm chân
trắng nuôi cả nước). Năm 2012 cả nước có 1.529 cơ sở sản xuất tôm sú giống, sản
xuất được hơn 37 tỷ con giống và có 185 cơ sở sản xuất tôm chân trắng giống, sản
xuất được gần 30 tỷ giống. Số lượng cơ sở sản xuất giống giảm đi so với 2009 gần
600 cơ sở nhưng quy mô cơ sở lại lớn hơn nên sản lượng giống không giảm mà tăng
lên. Theo thống kê của Tổng Cục Thủy sản, đến cuối tháng 10 năm 2011, diện tích
tôm bị thiệt hại đã lên đến gần 85.000 ha, bằng 302% so với cùng kỳ năm 2010 và
đến năm 2012, cả nước có khoảng 100.776 ha diện tích tôm nước lợ bị thiệt hại do
dịch bệnh (trong đó 91.174 ha nuôi tôm sú và 7.068 ha nuôi tôm thẻ), bao gồm hội
chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) (Bộ NN&PTNT, 2012).
Tuy vậy, nghề nuôi tôm ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức,
ảnh hưởng đến tính bền vững của ngành. Đó là các tác động kinh tế, xã hội, môi
trường của ngành nuôi tôm và gần đây là các vấn đề về rào cản chất lượng sản phẩm
và tranh chấp thương mại giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu. Việc chuyển đổi
quá nhanh một diện tích lớn ruộng lúa, ruộng muối năng suất thấp và đất hoang hoá
ven biển sang nuôi tôm kéo theo một loạt các vấn đề bất cập về cung ứng vốn đầu tư,
giống, kỹ thuật công nghệ, quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh, quy hoạch và
phát triển cơ sở hạ tầng. Nuôi tôm vẫn mang tính tự phát thiếu quy hoạch. Ngoài một
, có 3 cửa khẩu ra biển là Đông Hải, Cà Ná và Khánh Hải.
Vùng ven biển có nhiều đầm vịnh phù hợp phát triển nuôi trồng thủy sản và sản xuất
tôm giống là một thế mạnh của tỉnh. Khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc
trưng khô nóng, thời tiết có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa ngắn chỉ có ba tháng từ tháng 9
đến tháng 11 với lượng mưa trung bình năm 750 mm; mùa khô từ tháng 12 đến tháng
8 dương lịch năm sau, gió nhiều, bốc hơi mạnh, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26 -
27
o
C. Chế độ thủy triều biển có tính chất phức tạp, vừa có nhật triều, vừa có bán nhật
triều, biên độ dao động từ 1,9 - 2,2 m nên có điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy
sản. Vùng nuôi tôm TCT tập trung chủ yếu huyện Thuận Nam và Ninh Phước, nuôi
tôm sú ở huyện Ninh Hải (vùng nuôi tôm Đầm Nại).
2.4 Hiện trạng sản xuất giống
Tôm sú giống: Đầu năm 2012 toàn tỉnh có khoảng 210 cơ sở hoạt động sản
xuất tôm sú, nhưng do chuyển đổi đối tượng nuôi tôm thương phẩm tại khu vực miền
Tây nên đến giữa năm nhiều cơ sở chuyển sang sản xuất giống tôm TCT, cuối năm
chỉ còn khoảng 50 cơ sở hoạt động sản xuất tôm sú. Sản lượng giống tôm sú sản xuất
được trong năm là 4,5 tỷ PL, đạt 82% so kế hoạch và so với năm 2011. Năm 2013
tỉnh có 190 cơ sở sản xuất được 6,5 tỷ PL. Hoạt động sản xuất tôm sú trong năm gặp
khó khăn: nhu cầu con giống giảm, khí hậu thay đổi thất thường, chất lượng nước
nuôi ngày càng ô nhiễm nên hiệu quả sản xuất không cao. Ngoài một số cơ sở đầu tư
nâng cấp trang thiết bị thì phần lớn các cơ sở sản xuất tôm sú mang tính sản xuất nhỏ
lẻ, đầu ra không ổn định, khả năng dự đoán thị trường và cạnh tranh không cao nên
gây khó khăn cho quy hoạch và phát triển.
Tôm thẻ chân trắng: Đầu năm 2012 toàn tỉnh có 86 cơ sở hoạt động sản
xuất tôm thẻ chân trắng giống, nhưng đến giữa năm nhiều cơ sở sản xuất giống tôm
sú chuyển sang sản xuất giống tôm TCT nên cơ sở sản xuất tăng lên 246. Sản lượng
giống tôm TCT sản xuất được trong năm 12,0 tỷ PL và 4 tỷ nauplius. Năm 2013 toàn
vùng có 430 cơ sở sản xuất tôm giống và sản xuất được 20 tỷ PL. Phần lớn các cơ sở
sản xuất tôm thẻ là các công ty, doanh nghiệp lớn, chú trọng đầu tư mở rộng quy mô
2.6 Mô hình nuôi tôm ở Ninh Thuận
2.6.1 Nuôi tôm theo mô hình truyền thống
Trong ao nuôi truyền thống các chất thải hữu cơ trong ao nuôi được vi sinh
vật phân hủy, tạo ra các muối dinh dưỡng được hấp thu bởi tảo nhờ vậy mà sạch
nước và vi sinh vật phát triển. Tuy nhiên, thời gian phân hủy các chất hữu cơ kéo dài
tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh phát triển ảnh hưởng đến sức khỏe
tôm nuôi. Khi mô hình thâm canh và bán thâm canh phát triển trên diện rộng thì một
lượng lớn chất thải từ thức ăn dư thừa, các loại phân bón, hóa chất xử lý nước và chất
thải của tôm được thải ra môi trường nước làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và
giảm đi tính ổn định trong nuôi tôm (Boyd, 1990). Vì vậy, nuôi trồng thủy sản quy
mô thâm canh có khả năng gây ô nhiễm cao hơn nhiều so với quảng canh và bán
thâm canh. Mức độ thâm canh hóa của mô hình nuôi chuyên tôm càng cao sẽ rủi ro
càng cao, làm giảm năng suất do bùng phát dịch bệnh bởi chất lượng nước. Trong ao
nuôi tôm thâm canh có lượng thức ăn dư thừa và vật chất hữu cơ chôn vùi nhiều vào
trong đất, tạo điều kiện yếm khí cho vi khuẩn phát triển và gây độc cho nguồn nước
ao nuôi. Năng suất tôm nuôi đã suy giảm nghiêm trọng ở nhiều quốc gia trên thế
giới, nguyên nhân cơ bản là môi trường diễn biến ngày càng xấu ở nhiều quốc gia.
Một trong những vấn đề chủ yếu đối với chất thải của ao nuôi tôm là chất thải của hộ
này có thể là nguồn nước cấp của hộ khác ở gần đó, sẽ gây lan truyền ô nhiễm nước
23
và dịch bệnh giữa các nông hộ nuôi tôm (Boyd, 2003). Theo Shatat (2003) kết thúc
vụ nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh mật độ vi khuẩn trung bình trong nước (1,8
- 4,5 x 103 CFU/ml) và trong lớp bùn đáy (1,85 x 105 - 6,18 x 106 CFU/g) đặc biệt
một số mẫu bùn đáy có số lượng vi khuẩn gram âm chiếm hơn 50% và phần lớn là
những vi khuẩn gây bệnh. Trong ao nuôi từ tháng thứ 3 trở đi hàm lượng dinh dưỡng
tăng lên, đồng thời hàm lượng oxy trong ao giảm thấp là cơ hội cho các vi khuẩn gia
tăng về mật độ để tham gia vào các quá trình phân hủy yếm khí sinh ra nhiều khí gây
độc cho tôm nuôi như NH
3
, H
nội tại như sục khí (quạt nước) hay do bên ngoài tác động (sóng gió) làm xói lỡ thành
ao hay nguồn nước cấp và thức ăn dư thừa theo thời gian. Hàm lượng N bài tiết ra
tích lũy trong chất cặn lắng tăng theo mật độ tôm nuôi, nguồn đạm trong ao có đến
90% từ thức ăn đưa vào ao qua quá trình cho tôm ăn. Đạm trong tôm tích lũy được là
22% tổng đạm đầu vào và 38,4% hàm lượng N cung cấp vào ao nuôi tôm là từ
nguồn nước lấy vào, nguồn bốc hơi vào không khí và quá trình nitrate hóa chiếm từ
9,7-32,4% trên tổng số. Dinh dưỡng trong ao nuôi tôm bán thâm canh cho thấy sự
tăng thêm đạm trong ao nuôi tôm chủ yếu từ nguồn nước lấy vào chiếm 63% và thức
24
ăn chiếm 36%, lượng đạm mất đi từ sự trao đổi nước là 72% và thu hoạch tôm là
14%. Sản xuất được một kilogram tôm thì có đến 16,8 g đạm bị mất đi bởi sự trao
đổi nước.
Theo Limsuwan et al. (1997) lân là một yếu tố dinh dưỡng rất cần thiết cho
thủy sinh vật, quá trình tổng hợp protein chỉ tiến hành được khi có sự tham gia của
H
3
PO
4
và sự thiếu hụt nó trong thủy vực còn hạn chế quá trình phân hủy các hợp chất
hữu cơ bởi vi sinh vật. Trong môi trường tự nhiên lân tồn tại dưới các dạng muối
orthophosphate hòa tan như: H
2
PO
4
-, HPO
4
2-
và PO
4
3-
vật chất hữu cơ chưa được khoáng hóa như ammonia và nitrite, theo nghiên cứu của
(Boyd, 2003) lượng đạm thải ra môi trường trong khoảng 60 - 80%. Mức dinh
dưỡng cao kéo theo mật độ tảo phù du phát triển mạnh có thể gây biến động pH và
tiêu hao oxy hòa tan rất lớn, thậm chí có thể đến mức gây chết vật nuôi. Thông
thường, mật độ tảo phát triển quá mức đến độ nở hoa thì sau khi tảo tàn sẽ tạo ra
nhiều ammonia gây độc trong môi trường. Mục tiêu đặt ra cho các nhà khoa học là
tìm ra các giải pháp hạn chế nước thải trong NTTS. Vì thế, để đảm bảo chất lượng
nước tốt, người nuôi cần phải xử lý triệt để chất thải có trong nước ao. Hiện nay
hướng sử dụng vi khuẩn tự dưỡng để chúng có thể chuyển cơ chất (các chất thải hữu
cơ) trực tiếp thành sinh khối vi khuẩn được xem là giải pháp hiệu quả hơn. Trong
môi trường ao nuôi luôn có sự hiện diện của các vi khuẩn dị dưỡng, chúng có khả
25