CHUYÊN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
1
CHUYÊN
2
CHUYÊN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT
TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐÓNG TÀU HỒNG HÀ
3
CHUYÊN
Sinh viên thực hiện
:
Trần Thị Phượng Ngân
Lớp
:
KTLĐ_52B
Mã sinh viên
:
CQ522482
4
CHUYÊN
Khoa
TNHHMTV Đóng tàu Hồng Hà đã cho phép em thực tập tại đơn vị.
Xin cảm ơn các cô chú, anh chị phòng kinh doanh, phòng hành chính, phòng
kỹ thuật, phòng kế toán, phòng tổ chức lao động đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong
quá trình thực tập tại công ty.
Tuy nhiên nội dung được đề cập trong đề tài này chỉ là kết quả của quá trình
nghiên cứu bước đầu mang tính chủ quan cá nhân trong việc nhận xét và ý kiến
đóng góp. Do điều kiện thời gian và năng lực của bản thân chắc chắn đề tài của em
không tránh khỏi những khiếm khuyết, em rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của thầy cô giáo cũng như cô chú, anh chị làm việc ở công ty để đề tài của em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
MỤC LỤC
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
PGS.TS Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
MTV Một thành viên
TC – LĐ Tổ chức – Lao động
CNKT Công nhân kỹ thuật
CN Công nhân
TT Trung tâm
PP Phương pháp
XD Xây dựng
VĐT Vốn đầu tư
KHCN Khoa học công nghệ
NSLĐ Năng suất lao động
NNL Nguồn nhân lực
triển. Sứ mạng đào tạo nhân lực có chất lượng của doanh nghiệp, việc khai thác và
sử dụng các sản phẩm của đào tạo lao động ở Việt Nam hiện nay đang là đề tài đang
thu hút sự chú ý đặc biệt của toàn xã hội.
Công ty Hồng Hà tự hào là một trong những doanh nghiệp đóng tàu hàng đầu
của đất nước, hàng năm lượng tàu cung ứng cho xuất khẩu và phục vụ an ninh quốc
phòng là rất lớn. Vì thế, công ty rất chú trọng đào tạo chất lượng CNKT, những
người trực tiếp tham gia sản xuất và quyết định lớn đến chất lượng đầu ra của sản
phẩm. Tuy nhiên, đối với công tác đào tạo CNKT hiện nay của công ty vẫn tồn tại
nhiều bất cập, việc nâng cao chất lượng đào tạo CNKT hiện đang là một bài toán
khó. Do đặc thù tính chất chính trị, vì thế công ty còn mang nặng tính hành chính,
cơ cấu bao cấp, chưa thực sự năng động và chủ động trong công tác đào tạo nói
riêng cũng như thực trạng quản trị nhân lực trong công ty nói chung.
Nhận thức được tính bức thiết của vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo CNKT
của công ty Hồng Hà, tác giả đã lựa chọn đề tài : “Hoàn thiện công tác đào tạo
công nhân kỹ thuật tại công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà”, nhằm nghiên
cứu thực trạng kỹ năng, năng lực, kiến thức chuyên môn… của CNKT tại công ty
trước và sau đào tạo. Từ đó, đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào
tạo cho công ty Hồng Hà nói riêng cũng như các doanh nghiệp cùng ngành, cùng
quy mô nói chung, đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo CNKT cho toàn xã hội
Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu.
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
12
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Nghiên cứu về thực trạng công tác đào tạo công nhân kỹ thuật tại công ty
TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà; từ đó phân tích các tác động ảnh hưởng đến vấn
đề đào tạo CNKT và đề xuất một số các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác đào tạo CNKT tại công ty.
Phạm vi nghiên cứu
Đội ngũ công nhân kỹ thuật của công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà
trong giai đoạn 2011 - 2013
“ Công nhân kỹ thuật là người được đào tạo và cấp bằng (đối với những người
tốt nghiệp các chương trình dạy nghề dài hạn từ 1 đến 3 năm) hoặc chứng chỉ (đối
với những người tốt nghiệp các chương trình dạy nghề ngắn hạn dưới 1 năm) của
bậc giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục để có năng lực thực hành - thực
hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu ” ( PGS.TS Trần Xuân Cầu, Giáo
trình Kinh tế Nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2012,
trang 103).
Đào tạo công nhân kỹ thuật
Đào tạo công nhân kỹ thuật là các hoạt động của quá trình học tập nhằm
truyền tải thông tin từ người dạy sang học viên là công nhân kỹ thuật. Kết quả là
giúp cho công nhân kỹ thuật nắm vững được về công việc, nâng cao trình độ, kỹ
năng, thái độ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
Đào tạo CNKT được thực hiện bởi mạng lưới dạy nghề. Mạng lưới đào tạo
nghề bao gồm các trường dạy nghề thuộc các Bộ, ngành, địa phương, kể cả các
trường trung học chuyên nghiệp và cao đẳng kỹ thuật có chức năng và nhiệm vụ
dạy nghề; các trung tâm dạy nghề; các lớp dạy nghề. Cũng như các cơ sở dạy nghề
tại doanh nghiệp, ngoài công lập, các cơ sở có VĐT nước ngoài và các chương trình
dạy nghề trong các TT giáo dục cộng đồng. Do đặc điểm đào tạo, để đào tạo nguồn
nhân lực cho mình các tổ chức phải xây dựng được kế hoạch đào tạo. Trong kế
hoạch đào tạo CNKT phải thể hiện được dự toán về phát triển KHCN, xu hướng
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
14
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
phát triển các ngành nghề, nhu cầu của cá nhân và của doanh nghiệp, của ngành…
đảm bảo sự cân đối giữa nhu cầu và khả năng đào tạo, giữa yêu cầu về số lượng,
chất lượng CNKT với thời gian đào tạo, sử dụng và các hình thức đào tạo.
1.1.2 Công tác đào tạo công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp
Xác định nhu cầu đào tạo
Xác định nhu cầu đào tạo là việc xác định khi nào, ở bộ phận nào cần phải
đào tạo, đào tạo kỹ năng nào, cho loại lao động nào và bao nhiêu người.
cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc dưới sự hướng dẫn của những
công nhân lành nghề hơn (người hướng dẫn). Kèm cặp có thể theo nhóm hoặc kèm
cặp từng cá nhân. Thời gian đào tạo ngắn, thường chỉ 1 đến 3 tháng, thậm chí dưới
1 tháng. Đối với hình thức này thì chương trình đào tạo được tiến hành tại nơi làm
việc, bắt đầu bằng việc học lý thuyết (nghe và quan sát người hướng dẫn tại nơi làm
việc) sau đó học viên được thực hành theo hướng dẫn của công nhân lành nghề.
Người học nghề làm thử dưới sự kèm cặp và giám sát của người hướng dẫn cho tới
khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề thì người học nghề sẽ tự mình tiến hành
công việc.
Các lớp cạnh doanh nghiệp: Hình thức này dành cho những nghề tương đối
phức tạp, các công việc có tính đặc thù thì các doanh nghiệp lớn tự tổ chức hoặc
phối hợp với các doanh nghiệp khác có tính chất sản xuất tương đối giống nhau
(cùng một loại ngành nghề) và có vị trí địa lý tương đối gần nhau để tổ chức các lớp
đào tạo với các phương tiện và thiết bị dành riêng cho học tập. Thời gian đào tạo
thường kéo dài từ 9 đến 12 tháng. Theo PP này quá trình đào tạo gồm hai giai đoạn:
giai đoạn học lý thuyết (học tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật trực tiếp giảng
dạy) và giai đoạn thực hành (được tiến hành ở xưởng thực tập hoặc các doanh
nghiệp có nghề liên quan do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn)
Các trường dạy nghề: Quá trình đào tạo được chia làm 2 giai đoạn: học lý
thuyết (học cơ bản và học chuyên môn) và giai đoạn thực hành. Hai giai đoạn kết
hợp chặt chẽ, đan xen trong quá trình học tập. Hình thức này dành cho người học
nghề được học tập một cách có hệ thống từ đơn giản tới phức tạp, từ lý thuyết tới
thực hành, tạo điều kiện tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng, mặt khác, kiến
thức được truyền tải tương đối toàn diện nên giúp CN khi ra trường có đầy đủ kỹ
năng để tự giải quyết công việc, đảm nhận các công việc tương đối phức tạp đòi hỏi
trình độ lành nghề cao.
Dự tính chi phí đào tạo
Dự tính chi phí đào tạo là việc dự toán các loại chi phí cần thiết cho việc đào
tạo như chi phí cho việc học, cho việc giảng dạy, chi phí cho các tài liệu Việc dự
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
kĩ thuật tại Tổng công ty Cổ phần Dệt May Hà Nội – Hanosimex”
Đề tài đã đi sâu phân tích được tầm quan trọng của công tác đào tạo và phát
triển công nhân kĩ thuật đến công tác Quản trị nhân lực. Đồng thời cũng đánh giá
thực trạng Quản trị nguồn nhân lực tại Tổng công ty Dệt May Hà Nội – Hanosimex.
Từ đó hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển công nhân kĩ thuật tại Tổng công ty
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
17
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Cổ phần Dệt May Hà Nội – Hanosimex. Ngoài ra còn đưa được ra một số hướng
thiết kế và phân tích công tác đào tạo và phát triển công nhân kĩ thuật tại Tổng công
ty Cổ phần Dệt May Hà Nội – Hanosimex.
Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài đã làm rõ được thực trạng đào tạo CNKT
tại Tổng công ty Hanosimex. Đối với công tác đào tạo CNKT, Tổng công ty đã
thực hiện khá tốt, từ khâu xác định nhu cầu đào tạo đến việc đánh giá thực hiện đào
tạo, từng bước đi đúng tiến độ đào tạo, đảm bảo bố trí công việc sau đào tạo hợp lý.
Cách thức đào tạo tại các trường dạy nghề là lý thuyết kết hợp thực hành, do đó
phần lớn người lao động đều cho rằng hình thức đào tạo này giúp tay nghề của họ
được nâng cao hơn và kỹ năng đào tạo được áp dụng ngay vào thực tế công việc.
Nội dung chương trình đào tạo được xây dựng phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá
công việc tại Tổng công ty, kế hoạch nâng cao tay nghề của CNKT được thực hiện
rõ ràng. Ngoài ra, chế độ đãi ngộ của Hanosimex được đánh giá là khá tốt nhằm giữ
chân và thu hút người lao động, có thể kể đến như việc trang trải các chi phí học tập
và cung cấp tài liệu học tập cho CN khi thực hành tại xưởng sản xuất, hỗ trợ một
phần kinh phí và phụ cấp đối với những CN được Tổng công ty cử đi học (những
CN mới sẽ không được hưởng ưu đãi này), sắp xếp và bố trí công việc phù hợp với
kiến thức và kỹ năng của CN sau đào tạo; xem xét và đề bạt thăng chức, tăng lương
đối với những CN có thành tích tốt.
Qua đó, có thể thấy rằng đối với một công ty có quy mô lớn như Hanosimex,
công tác đào tạo CNKT rất được chú trọng. Tổng công ty đã thực hiện tốt khâu xác
định nhu cầu đào tạo, mục tiêu đào tạo và đối tượng đào tạo; xây dựng chương trình
ngành công nghiệp tầu thủy Việt nam trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước.
Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài đã đi sâu phân tích được thực trạng công
tác đào tạo CNKT tại Tổng công ty. Về khâu xác định nhu cầu đào tạo, việc xác
định nhu cầu đào tạo CNKT của các đơn vị được căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh
doanh, căn cứ vào giá trị sản lượng kế hoạch, tốc độ tăng trưởng để xác định số
lượng CNKT cần có, từ đó Tổng công ty sẽ tổ chức đào tạo tại các đơn vị của mình
hoặc liên kết đào tạo với các đơn vị khác ở trong và ngoài nước. Trong công nghiệp
tàu thủy các ngành nghề của công nhân kỹ thuật là rất đa dạng, mỗi công vịêc có
một đặc thù riêng và nó sẽ ảnh hưởng đến việc xác định nhu cầu đào tạo. Đối với
những công việc mà mức độ lao động trí óc không nhiều, cần sức khỏe là chính thì
Tổng công ty có thể kèm cặp công nhân ngay tại nơi làm việc, còn đối với những
công việc đòi hỏi trình độ cao cần sự sáng tạo thì công nhân có thể được gửi đi đào
tạo ở nước ngoài.Nhìn chung việc xác định nhu cầu đào tạo CNKT tại Tổng công ty
đã được thực hiện khá tốt nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế tồn tại. Việc
xác định nhu cầu chưa thực sự khoa học và cụ thể, căn cứ được dùng để xác định
nhu cầu chỉ mang tính chất ước lượng nên các kết quả để xác định không sát với
thực tế nhu cầu công việc, ngoài ra yếu tố chủ quan còn đặt nặng khi xác định và
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
19
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
đánh giá khả năng, kỹ năng, trình độ của người lao động, điều đó gây nên tính thiếu
chính xác trong khâu xác định nhu cầu đào tạo của Tổng công ty. Bên cạnh đó, do
việc xác định nhu cầu đào tạo chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục nên dễ
gặp phải tình trạng bị động về số lượng và cả chất lượng của NNL trong Tổng công
ty, dẫn đến việc phải tuyển dụng cả những lao động không có kỹ năng chuyên môn
đáp ứng được yêu cầu công việc, trong khi không tập trung đào tạo nâng cao trình
độ cho những lao động sẵn có tại Tổng công ty.
Đối với mục tiêu đào tạo, Tổng công ty đặt ra những mục tiêu rất cụ thể, hợp
lý và thực tế, theo sát được phương hướng phát triển của công ty cũng như kế hoạch
đảm bảo được tiến độ cho quy trình đào tạo. Có thể thấy, trong khâu này, Tổng công
ty đã thực hiện tốt đem lại hiệu quả cao cho công việc, tuy vẫn còn tồn tại một số
hạn chế có thể kể đến như: Nội dung đào tạo tại một số lĩnh vực chưa được chuyên
sâu, chưa thể hiện được tính chất đặc thù của ngành công nghiệp tàu thủy, nhiều khi
nội dung học còn dàn trải, không có trọng tâm và không sát với thực tế công việc,
việc biên soạn các giáo trình tài liệu giảng dạy còn một số khó khăn và chưa hiệu
quả, PP giảng dạy nhiều khi không thích hợp, không gây hứng thú cho người học.
Kinh phí cho đào tạo của Tổng công ty được hình thành từ nhiều nguồn cung
ứng, khối lượng chi cho đào tạo khá lớn, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về
chất lượng và số lượng NNL. Điều này có thể lý giải là do nguồn vốn đầu tư của
công ty dàn trải, khả năng khai thác nguồn vốn còn thấp, quỹ hỗ trợ và đầu tư cho
đào tạo còn thiếu và không huy động kịp thời. Do đó, việc mở rộng đào tạo nhằm
đáp ứng đủ và kịp thời yêu cầu về CNKT là khá khó khăn.
Tổng công ty cũng đã chú trọng, quan tâm xây dựng CSVC cho đào tạo. Hiện
nay, Tổng công ty có bốn trường kỹ thuật lớn tập trung tại cả ba miền Bắc, Trung,
Nam. Ngoài các trường trực thuộc Tổng công ty, các đơn vị thành viên còn có các
trường dạy nghề riêng. Như vậy có thể thấy Tổng công ty có khá nhiều cơ sở đào
tạo nghề, được trang bị máy móc, phương tiện dạy học, tạo điều kiện cho học viên
được thực hành một cách có hiệu quả, tuy nhiên những trường đang hoạt động có
quy mô chưa đủ lớn, trang thiết bị còn khá lạc hậu chưa đáp ứng được yêu cầu đào
tạo các chuyên môn sâu, hiện đại; khu nghỉ ngơi, giải trí sinh hoạt còn hạn chế, số
lượng lớp đào tạo cũng như số lượng trang thiết chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu
cầu học tập. Hiện nay các trường đang cố gắng đầu tư, nâng cấp tăng năng lực đào
tạo, tuy nhiên khả năng cung ứng công nhân kỹ thuật vẫn bị thiếu hụt, mới chỉ đáp
ứng khoảng 70% nhu cầu hiện tại. Đây là một vấn đề khó khăn và nan giải, Tổng
công ty cần phải thường xuyên theo sát và quan tâm hơn.
Đội ngũ giảng viên giảng dạy tại các trường dạy nghề của Tổng công ty có thể
là cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty và có thể là giảng viên thuê ngoài ở
các trường cao đẳng, đại học.Đa số cán bộ, giáo viên giảng dạy trong Tổng công ty
là người có tay nghề cao, có kinh nghiệm trong nghề nghiệp. Tuy vậy so với yêu
trình xác định nhu cầu các trưởng phòng hay tổ trưởng cũng không tìm hiểu nguyên
nhân dẫn tới việc phải đào tạo lại công nhân để xác định liệu đào tạo có phải đào tạo là
giải pháp phù hợp mà chủ yếu là dựa vào ý kiến chủ quan của tổ trưởng, căn cứ vào
tiêu chuẩn sản phẩm nếu tổ trưởng thấy công nhân nào sản xuất ra nhiều sản phẩm
hỏng thì tiến hành lập danh sách cho đi đào tạo lại. Thứ ba là bộ phận chịu trách nhiệm
về công tác đào tạo chưa chủ động xác định nhu cầu đào tạo CNKT của công ty, chủ
yếu mới dừng lại ở việc tổng hợp và lập danh sách đào tạo từ các phòng ban thể hiện ở
chỗ từ trước tới nay chưa bao giờ thực hiện một chương trình khảo sát nhu cầu đào tạo
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
22
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
của CNKT. Và cuối cùng là chưa quan tâm đến ý kiến của công nhân trong việc xác
định nhu cầu đào tạo, điều này dễ dẫn đến việc lựa chọn sai đối tượng đào tạo ảnh
hưởng đến hiệu quả chương trình đào tạo, không có tác dụng nhiều trong nâng cao kiến
thức và hiệu suất của công việc bởi ý kiến của trưởng bộ phận và tổ trưởng có thể
không chính xác do việc quan sát không sát sao và liên tục, thiên vị trong quá trình
đánh giá. Như vậy có thể đánh giá rằng nguồn thông tin để xác định nhu cầu đào tạo
CNKT của công ty chủ yếu là dựa vào đề xuất của trưởng bộ phận là chưa thực sự cho
kết quả chính xác.
Đối với vấn đề lựa chọn mục tiêu đào tạo và đối tượng đào tạo, công ty đã
thực hiện chưa tốt, không theo từng bước cụ thể và chi tiết, chưa thực sự phù hợp
với kế hoạch sản xuất kinh doanh và chiến lược phát triển trong giai đoạn tới cũng
như những yêu cầu về chất lượng thực hiện công việc và trình độ, kỹ năng của CN
phải đạt được đối với từng loại hình công việc cụ thể. Việc lựa chọn đối tượng đào
tạo chỉ được lấy ý kiến từ tổ trưởng sản xuất, không tham khảo ý kiến trực tiếp của
CNKT, điều này gây nên tình trạng chưa hài lòng của CN đối với công tác lựa chọn
đối tượng đào tạo của công ty.
Về vấn đề xây dựng nội dung đào tạo và lựa chọn PP đào tạo, công ty đã chú
trọng xây dựng nội dung đào tạo phù hợp với công việc thực tiễn (theo ý kiến từ
phần lớn CN). Nội dung đào tạo được xây dựng theo nội dung tiêu chuẩn đối với
nghiêm túc và chỉn chu, cụ thể, sát sao.
Nguồn kinh phí đào tạo CNKT là do công ty trích từ doanh thu để chi cho hoạt
động đào tạo và hạch toán vào chi phí. Công ty không có quỹ cho hoạt động đào tạo
và không lên kế hoạch tính toán cụ thể chi phí đào tạo cho hằng năm. Tùy vào tình
hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà công ty tiến hành lập kế hoạch đào
tạo và việc tính toán chi phí đào tạo sẽ dựa trên bản kế hoạch đào tạo hằng năm của
công ty. Nhìn chung kinh phí đào tạo hằng năm cũng không có sự biến động nhiều
vì công ty chủ yếu là đào tạo nội bộ, ít tốn kém chi phí nên việc lập kinh phí đào tạo
cũng không quá khó khăn và phức tạp. Nhưng nó lại dẫn đến tình trạng thiếu chủ
động trong việc lên kế hoạch tính toán chi phí của công ty. Do đó, công ty nên tiến
hành lập quỹ đào tạo để cán bộ chuyên trách về đào tạo chủ động hơn trong chi tiêu
cho đào tạo.
Tại công ty hiện nay quá trình đánh giá hiệu quả đào tạo gần như không được
thực hiện. Kết quả đào tạo mang lại cho CNKT đi học: Thay đổi hành vi thực hiện
công việc, CNKT học được gì từ khoá đào tạo, chi phí hợp lý hay không, kết quả
công việc sau đào tạo có gì khác so với trước khi đào tạo chưa được xem xét,
đánh giá. Bộ phận phụ trách công tác đào tạo chỉ xem xét CNKT có đạt được các
văn bằng, chứng chỉ mang lại từ khoá đào tạo, còn đối với công việc của CNKT sau
khi đào tạo vẫn không thực hiện được thì có thể cho đi đào tạo tiếp hoặc thuyên
chuyển công việc khác. Để tăng thêm hiệu quả của chương trình đào tạo, công ty
cần chú ý đến vấn đề bố trí sử dụng sau đào tạo. Nhìn chung là việc bố trí công
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
24
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
nhân sau đào tạo được công ty thực hiện khá hợp lý, bố trí đúng công việc và
chuyên môn được đào tạo.
Có thể thấy rằng, hoạt động đào tạo của công ty còn mang nặng tính chủ quan,
ít xem xét đến ý kiến và nhu cầu thực sự của CN trong việc thực hiện công tác đào
tạo. Tuy việc thực hiện đào tạo đã mang lại ít nhiều hiệu quả cho quá trình sản xuất
kinh doanh, và quy trình thực hiện nội dung đào tạo cũng theo từng bước, từng khâu