CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM - Pdf 27

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1. Lý do nghiên cứu 1
2. Vấn đề nghiên cứu 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 2
4. Câu hỏi nghiên cứu 3
5. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 3
6. Cơ sở lý thuyết 4
6.1 Các mục tiêu của doanh nghiệp ảnh hưởng đến vận dụng chính sách kế toán tại doanh nghiệp.4
6.2 Một số nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán. 5
6.2.1 Các vấn đề về nợ vay của doanh nghiệp 5
6.2.2Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 7
6.2.3 Đặc thù của doanh nghiệp 8
6.2.4 Mức độ sử dụng các hợp đồng liên quan đến các chỉ tiêu kế toán 10
6.2.5 Sự ổn định của thu nhập (income smoothing) 10
7. Giả thuyết nghiên cứu 11
8. Phương pháp và mô hình nghiên cứu 12
8.1 Phương pháp nghiên cứu 12
8.2 Mô hình nghiên cứu 12
9. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
10. Dữ liệu nghiên cứu 15
11. Ý nghĩa nghiên cứu 16
12. Kết cấu dự kiến của luận văn: 16
13. Tài liệu tham khảo 17
1. Lý do nghiên cứu
Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán. Là mục tiêu của bộ
phận kế toán để cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp như cơ quan thuế, nhà đầu tư và các ngân hàng,…
Trang 1
Do tính đa dạng của đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính cung cấp
thông tin gì, mức độ chi tiết và chính xác của thông tin luôn là chủ đề được nhiều đối

theo quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
- Tổng hợp các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn
chính sách kế toán tại các doanh nghiệp trên thế giới
- Tìm hiểu các hạn chế có thể xảy ra từ việc lựa chọn chính sách kế toán. Trên cơ
sở đó đề xuất các giải pháp để làm giảm ảnh hưởng của những tác động này.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Chính sách kế toán là gì? Việc lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng như thế nào
đến thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính?
- Nhân tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các đoanh nghiệp
trên địa bàn TPHCM?
5. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Chính sách kế toán : Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 về “Trình bày báo
cáo tài chính”, chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phương
pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo
cáo tài chính. Trong đề tài này, chính sách kế toán được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao
gồm các quyết định của ngành quản trị về nguyên tắc, cơ sở, các phương pháp kế toán
cụ thể và các quyết định về ước tính kế toán.
Ước tính kế toán : Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 540 – Kiểm toán các
ước tính kế toán, “là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến báo cáo tài
chính được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính
Trang 3
xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa
phát sinh nhưng đã được ước tính để lập báo cáo tài chính”. Ước tính chỉ tiêu đã phát
sinh ví dụ như : dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, trích
khấu hao tài sản cố định… Ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh chẳng hạn như chi phí
trích trước, dự phòng chi phí bảo hành,…
Báo cáo tài chính : kết quả của công tác kế toán, hệ thống báo cáo được lập theo
quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán, dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình
hình kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
Vai trò của chính sách kế toán đối với quản trị của doanh nghiệp :

chính sách kế toán
Dựa vào các lý thuyết đã nêu trên, một số nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng
các nhân tố sau được dùng để giải thích hành vi lựa chọn chính sách kế toán của các
doanh nghiệp.
6.2.1 Các vấn đề về nợ vay của doanh nghiệp
Các hợp đồng vay nợ (debt contracts)
Watts và Zimmerman (1978, theo Steven và Laurie S. Swinney 2004) có những
nghiên cứu chứng minh được rằng trong trường hợp, doanh nghiệp có nguy cơ vi
phạm các điều khoản trong hợp đồng vay nợ, để tránh phải đối mặt với tình trạng vỡ
nợ kỹ thuật (technical default) và phải gánh chịu các khoản chi phí liên quan, doanh
nghiệp thường có xu hướng thay đổi chính sách kế toán cũng như lựa chọn chính
sách kế toán phù hợp hơn để làm tăng mức lợi nhuận công bố.
Nhiều nghiên cứu khác như nghiên cứu của Steven Young (1998), Steven và
Laurie S. Swinney (2004), cũng cung cấp những kết quả tương tự cho thấy các nhà
quản trị sẽ thực hiện các quyết định về chính sách kế toán để giảm khả năng vi phạm
các điều khoản trong hợp đồng vay nợ, cũng như để tránh hoặc trì hoãn các chi phí
do vi phạm hợp đồng.Zmijewski và Hagerman (1981, theo Cathy J.Mccall 2007),
Trang 5
Beatty và Weber (2003, theo Cathy J.Mccall 2007) cũng chứng minh được ảnh
hưởng quan trọng của các hợp đồng vay nợ lên các quyết định về chính sách kế toán
của nhà quản trị.
Mức độ vay nợ của doanh nghiệp (leverage)
Theo Watts và Zimmerman (1990), mức độ vay nợ có liên quan chặt chẽ và ảnh
hưởng thuận chiều tới khả năng các nhà quản trị lựa chọn các chính sách kế toán làm
tăng lợi nhuận; tức là mức vay nợ càng cao, các doanh nghiệp càng có xu hướng
thực hiện chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận. Bên cạnh đó, Watts và Zimmerman
(1990) còn cho rằng tùy thuộc vào mức độ giám sát của các chủ nợ mà các doanh
nghiệp có xu hướng chọn chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận.
Dhaliwal (1980, theo Cathy J.Mccall 2007) cũng có những nghiên cứu để kiểm
tra ảnh hưởng của cấu trúc vốn của doanh nghiệp lên quyết định của nhà quản trị đối

chính sách kế toán theo quan điểm nhà quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất ở
Anh cung cấp những bằng chứng cho thấy các nhà quản trị thực hiện các quyết định
về chính sách kế toán để ra tín hiệu cho sự thực hiện dòng tiền hi vọng trong tương
lai và giảm khả năng vi phạm các điều khoản trong hợp đồng vay nợ.
Các nghiên cứu của Cloyd et al. (1996), Bosnyák (2003, theo Nguyễn Thị Kim
Oanh 2012) tại Hungary về các lựa chọn chính sách kế toán của các tập đoàn lớn và
doanh nghiệp nhỏ đã xác nhận tác động của thuế đến kế toán, thuế luôn là yếu tố
mạnh mẽ nhất ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán.
Một chính sách kế toán tiết kiệm thuế có thể giúp cải thiện dòng tiền của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, việc tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệpthường đi đôi
với việc công bố một mức thu nhập chịu thuế thấp hơn, điều này có những ảnh
hưởng nghiêm trọng. Chẳng hạn như ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp
trong việc đáp ứng các yêu cầu về tuân thủ hợp đồng, quyền lợi nhà quản trị cũng
như các bên liên quan sẽ bị ảnh hưởng, đây chính là chi phí phi thuế của chính sách
tiết kiệm thuế. Họ phải lựa chọn giữa chi phí thuế hay các chi phí phi thuế, kết quả
Trang 7
của việc lựa chọn này sẽ ảnh hưởng đến việc quyết định lựa chọn chính sách kế toán
(Christos Tzovas, 2006).
6.2.3 Đặc thù của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
Thuyết kế toán thực nghiệm (Positive Accounting Theory) của Watts và
Zimmerman năm 1990 cho rằng chủ nghĩa cơ hội quản lý (managerial opportunism)
ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán. Các nhà nghiên cứu thuyết kế toán
thực nghiệm giả định và chứng minh được rằng các để tăng mức thưởng của mình
(trong trường hợp chính sách thưởng dựa trên lợi nhuận kế toán) các nhà quản trị sẽ
thường ưu tiên chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm bao gồm Hagerman và Zmijewski (1979, theo
Cathy J.Mccall 2007),Dhaliwal, Salamon, và Smith (1982), và Healy (1985) đã tiến
hành xem xét liệu các kế hoạch trả thù lao có liên quan tới việc lựa chọn chính sách
kế toán hay không.Dhaliwal, Salamon, và Smith (1982) sử dụng các lựa chọn trong

Lạp năm 2006 cho thấy rằng đặc điểmquyền kiểm soát tập trung trong tay các chủ sở
hữu đã khiến các doanh nghiệp này ít quan tâm tới các chi phí phi thuế và họ có xu
hướng lựa chọn chính sách kế toán có thể giúp họ tiết kiệm thuế hơn.
Bài nghiên cứu tương tự của Colin.R. Dey cùng các đồng nghiệp tại Ai Cập
năm 2007 cũng cho thấy đặc điểm các doanh nghiệp có chủ sở hữu trực tiếp nắm
quyền kiểm soát tại đây đã khiến cho các chính sách kế toán làm giảm mức lợi nhuận
công bố được ưu tiên hơn để giảm bớt gánh nặng thuế và thông qua đó cải thiện
dòng tiền của doanh nghiệp.
Tình trạng niêm yết của doanh nghiệp
Các công ty được niêm yết trên sàn giao dịch thường có quy mô lớn và hình thức
chủ sở hữu tách biệt chức năng quản lý, do vậy cũng phải chịu ảnh hưởng của các
chính sách trả thù lao nói trên trong quá trình ra quyết định. Cloy et al. (1996) cho
rằng, so với các công ty không niêm yết trên sàn, các công ty niêm yết phải đối mặt
với chi phí phi thuế lớn hơn là bởi đặc thù doanh nghiệp dàn trải dẫn đến nhu cầu tín
Trang 9
nhiệm nhiều (được thể hiện trong các hợp đồng thưởng mà các hợp đồng này dựa trên
các chỉ tiêu kế toán làm ảnh hưởng đến các quyết định về chính sách kế toán của nhà
quản trị), và bởi vì các nhà quản trị tin rằng mức lợi nhuận công bố sẽ quyết định giá
trị thị trường của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh thị trường vốn hoạt động hiệu quả, tuy các cổ đông của các công
ty được niêm yết ưu chuộng một dòng tiền thuần cao hơn (vì điều này có thể dẫn đến
mức cổ tức được chia cao hơn) nhưng Christos Tzovas (2006) cho rằng trong trường
hợp nhà quản trị doanh nghiệp tin rằng, những con số kế toán được công bố có ảnh
hưởng đáng kể lên giá của cổ phiếu và các ảnh hưởng này có thể lớn hơn ảnh hưởng
do việc tiết kiệm mức thuế phải nộp mang lại, có khả năng các nhà quản trị sẽ hướng
đến mục tiêu công bố lợi nhuận cao hơn để tạo ảnh hưởng tốt lên giá cổ phiếu, mặc dù
điều này thông thường kéo theo các khoản thuế phải nộp tăng theo. Christos Tzovas
(2006) cũng chứng minh được rằng những công ty được niêm yết trên sàn quan tâm
đến giá cổ phiếu hơn là mức thuế tiết kiệm được, do vậy mà các công ty này phải đối
mặt với chi phí phi thuế lớn. Kết quả là những công ty được niêm yết trên sàn giao

quyết định. Các kết quả nghiên cứu của Hagerman và Zmijewski’s (1979, theo Cathy
J.Mccall 2007) đã chỉ ra rằng các động cơ kinh tế thật sự là những động cơ trong
việc lựa chọn quyết định chính sách kế toán.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Các giả thuyết được đưa ra như sau:
H1:Mức vay nợ của một Doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế
toán của Doanh nghiệp đó.
H2: Khả năng vi phạm hợp đồng của Doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc lựa chọn
chính sách kế toán của Doanh nghiệp.
H3: Chính sách thưởng cho nhà quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc lựa chọn
chính sách kế toán của Doanh nghiệp.
Trang 11
H4: tình trạng niêm yết trên sàn giao dịch của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc lựa
chọn chính sách kế toán của Doanh nghiệp.
H5: sự ổn định giữa các mức lợi nhuận của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc lựa chọn
chính sách kế toán của Doanh nghiệp.
H6: mức độ sử dụng các hợp đồng có liên quan của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc
lựa chọn chính sách kế toán của Doanh nghiệp.
H7: chi phí thuế thu nhập doanh nghiệpảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế
toán của Doanh nghiệp.
8. Phương pháp và mô hình nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để tìm hiểu quan điểm của kế toán
viên và kiểm toán viên về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán
tại các doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM.
Dựa trên một số nghiên cứu trước đây có liên quan về đề tài nghiên cứu, kết hợp
việc xem xét áp dụng trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, tác giả lập ra mô hình
nghiên cứu phù hợp, sau đó xây dựng bảng câu hỏi để thu thập số liệu và tiến hành
nghiên cứu định lượng.
8.2 Mô hình nghiên cứu

2
+ β
3
X
3
+ β
4
X
4
+ β
5
X
5
+ β
6
X
6
+ β
7
X
7
- Y : Việc lựa chọn chính sách kế toán
- X
1
Mức vay nợ : Doanh nghiệp vay càng nhiều càng có động cơ thực hiện
chính sách kế toán tăng lợi nhuận để tác động đến quyết định cho vay của chủ
nợ và ký kết được những điều khoản thuận lợi hơn. Kỳ vọng dấu (+)
- X
2
Khảnăng vi phạm hợp đồng vay nợ : Chính sách kế toán có liên hệ mật

Mức độ sử dụng các hợp đồng có liên quan : Việc sử dụng thường xuyên
các hợp đồng liên quan đến các chỉ tiêu kế toán có thể buộc các nhà quản trị
phải đạt được một mức lợi nhuận nhất định phù hợp để tránh các chi phí phi
thuế. Như vậy, doanh nghiệp sử dụng càng nhiều hợp đồng liên quan tới các
chỉ tiêu kế toán thì càng có động cơ thực hiện chính sách kế toán làm tăng lợi
nhuận, do việc công bố lợi nhuận kế toán ở mức thấp có thể có những ảnh
hưởng tiêu cực đến các thỏa thuận trong các hợp đồng. Kỳ vọng dấu (+)
- X
7
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp :Ngoài việc được sử dụng cho các điều
khoản trong hợp đồng, các chỉ tiêu kế toán cònđược sử dụng cho các mục
đích thuế, làm ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp.Do đó mà các nhà
quản trị cần phải thực hiện hành động quản trị lợi nhuận sao cho số thuế phải
nộp là hợp lý và tiết kiệm nhất. Kỳ vọng dấu (-)
9. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là các kế toán
trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán viên, kiểm toán viên, cụ thể là các quan điểm của họ
về nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp trên
địa bàn TPHCM.
- Phạm vi nghiên cứu : Các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn TPHCM.
10. Dữ liệu nghiên cứu
Đề tài sẽ sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, mẫu được chọn khảo sát gồm
150 kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán viên và kiểm toán viên (ở đây bao gồm
cả các trợ lý kiểm toán) các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn TPHCM.
Phương pháp thu thập dữ liệu được thông qua việc khảo sát trực tiếp và sử dụng
các công cụ như Email, Facebook… để gửi đường link câu hỏi. Bảng câu hỏi gồm 2
phần với phần đầu hỏi về thông tin về nhân khẩu học và phần sau nhằm khảo sát mức
độ đồng ý của 150 kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán viên và kiểm toán viên về
các nhân tố ảnh hưởng việc lựa chọn chính sách kế toán ở Việt Nam .Bảng câu hỏi sử
dụng thang đo định danh và thang đo Likert năm mức độ: (1) – Rất không đồng ý, (2)

vô hình”, theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC, Hà Nội;
3. Bộ Tài Chính (2001), “Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và
thu nhập khác”, theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC, Hà Nội;
4. Bộ Tài Chính (2003), “Chuẩn mực kế toán số 21 – Trình bày báo cáo tài
chính”, theo quyết định số 234/2003/QĐ – BTC, Hà Nội;
5. Bộ Tài Chính (2006), “Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 540 – Kiểm toán
các ước tính kế toán”, theo Quyết định số 143/2001/QĐ-BTC, Hà Nội;
6. Bộ Tài Chính (2009), “Hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản
dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ
phai3 thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp tại
doanh nghiệp”, theo Thông tư 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009, Hà Nội;
7. Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật
công ty Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp luật số 4 (41);
8. Chính phủ (2012), “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Chứng khoán vàLuật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Chứng khoán”, theo Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012, Hà Nội;
9. Chu Bích Thu, Nguyễn Ngọc Trâm, Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Thúy
Khanh, Phạm Hùng Việt (2011), “Từ điển Tiếng Việt Phổ Thông”, NXB
Phương Đông, TP.HCM;
10.Nguyễn Thị Kim Oanh (2012), “Đánh giá sự vận dụng các chính sách kế
toán tại Công ty Cổ phần lương thực và Dịch vụ Quảng Nam”, Tóm Tắt
Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng;
11.Phạm Thị Bích Vân (2013), “Các cách đo lường sự trung thực của chỉ tiêu
lợi nhuận”, Tạp chí khoa học số 1, tr. 39-47;
12.Quốc Hội (2003), “Luật Kế Toán”, theo Luật số 03/2003/QH11 ngày
17/6/2013;
13.Quốc Hội (2011), “Luật Kiểm Toán Độc Lập”, theo Luật số 67/2011/QH12
ngày 29/3/2011, Hà Nội;
Trang 17
14.Vũ Hữu Đức (2010), “Những vấn đề cơ bản của lý thuyết kế toán”, NXB


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status