Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, cuộc sống của người
dân được cải thiện và nâng cao nên nhu cầu sử dụng thực phẩm tươi sống có
nguồn gốc động vật ngày càng nhiều. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có
nguồn gốc động vật, ngoài việc tuân thủ các quy trình chăn nuôi, tiêm phòng,
chất lượng thức ăn… thì giết mổ đúng tiêu chuẩn vệ sinh thú y và được kiểm
tra chặt chẽ từ khâu thu mua nguyên liệu đến giết mổ, chế biến, vận chyển…
là rất quan trọng, đặc biệt là khâu giết mổ động vât. Thực tế cho thấy, nếu
công tác giết mổ không theo đúng quy trình kỹ thuật và vệ sinh thú y sẽ làm
biến đổi chất lượng hoặc gây ô nhiễm vi sinh vật sản phẩm, ảnh hưởng tới
sức khỏe người tiêu dùng. Động vật khỏe mạnh hầu như không có hoặc có rất
ít vi khuẩn trong các mô cơ. Theo số liệu thống kê của FAO và WHO thì
trong số bệnh nhân bị ngộ độc có tới 90% là do thịt bị nhiễm vi khuẩn trong
quá trình giết mổ, chỉ có 10% là do thịt gia súc bệnh. Điều đó chứng tỏ nếu
giết mổ không làm tốt khâu vệ sinh thú y thì thịt có khả năng bị nhiễm khuẩn
rất cao.
Từ khi xóa bỏ kinh tế bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường, các lò mổ
tập trung ở các quận huyện không còn, việc giết mổ trở thành tự do, không có
sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Sau khi pháp lệnh thú y năm 1993
ra đời, giết mổ tập trung có sự kiểm soát được lập lại nhưng chủ yếu ở các
thành phố lớn, các tỉnh phía Nam, còn đại đa số vẫn giết mổ thủ công ngoài
sự quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quan thú y.
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 1 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
Quảng Minh là một xã nông nghiệp với 9726 nhân khẩu nên nhu cầu thực
phẩm rất lớn. Thực phẩm có nguồi gốc động vật được cung cấp từ các điểm
chưa đủ điều kiện đánh giá, chưa chẩn đoán, thống kê và mô tả được. Do vậy theo
Bộ Y tế thì “ Ngộ độc thực phẩm” là hội chứng cấp tính xảy ra do ăn, uống phải
thức ăn có chất độc, biểu hiện bằng những triệu chứng dạ dày -ruột, thần kinh
hoặc những triệu chứng khác tuỳ theo tác nhân gây ngộ độc và “Vụ ngộ độc thực
phẩm” là tình trạng ngộ độc cấp xảy ra với 2 người trở lên có dấu hiệu ngộ độc
khi ăn cùng một loại thực phẩm tại cùng một địa điểm, thời gian. Trường hợp chỉ
có một người mắc và bị tử vong cũng được coi là một vụ ngộ độc thực phẩm.
2.1.2. Tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam
Theo thống kê năm 2012 trên toàn quốc đã có gần 4.700 người mắc, 3.700
ca nhập viện và 28 ca tử vong. So với cùng kỳ năm ngoái, năm nay tăng cả số
ca, số người mắc, số người tử vong vì ngộ độc thực phẩm. Cụ thể, trong tổng số
142 vụ ngộ độc thực phẩm, nhiều nhất là ngộ độc thực phẩm xảy ra tại gia đình
chiếm 56%, ngộ độc thực phẩm lớn trên 30 người mắc/vụ gần 30%, còn lại
là ngộ độc xảy ra tại bếp ăn tập thể.Trong số các nguyên nhân gây ra các vụ ngộ
độc thực phẩm, nguyên nhân do vi sinh vật chiếm gần 49%, do độc tố tự nhiên
là gần 24%, còn lại là do hóa chất So với cùng kỳ năm 2011, số vụ ngộ độc
thực phẩm tăng khoảng 15%, số mắc tăng 19%, nhập viện tăng 24,6%, tử vong
tăng 33,3%. Trong đó, số ca ngộ độc tại bếp ăn gia đình tăng còn số ca ngộ độc
tại bếp ăn tập thể có giảm xuống.Như vậy so với năm 2011 tình hình ngộ độc
thực phẩm gia tăng cả số vụ, số mắc số chết. Nguy cơ
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 3 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
vụ NĐTP có xu hướng diễn biến khá phức tạp do NĐTP tại bếp ăn gia đình
tăng, nguy cơ NĐTP do rượu kông có nguồn gốc do nấm độc , do độc tố tự
nhiên vẫn chưa kiểm soát được triệt để, người tiêu dùng vẫn sử dụng những
thực phẩm không an toàn.
2.1.3. Tình hình ngộ độc thực phẩm trên thế giới
Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 1/3 dân số
chi 1 tỷ USD cho biện pháp phòng chống bệnh lở mồm long móng (2001), các
nước EU chi cho 2 biện pháp “giết bỏ” và “cấm nhập” hết 500 triệu USD. Tại
Trung Quốc, gần đây nhất, ngày 7/4/2006 đã xẩy ra vụ NĐTP ở trường học
Thiểm Tây với hơn 500 học sinh bị, ngày 19/9/2006 vụ NĐTP ở Thượng Hải
với 336 người bị do ăn phải thịt lợn bị tồn dư hormone Clenbutanol. Tại Nga,
mỗi năm trung bình có 42.000 chết do ngộ độc rượu. Tại Hàn Quốc, tháng 6
năm 2006 có 3.000 học sinh ở 36 trường học bị ngộ độc thực phẩm.
Xu hướng ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm xẩy ra ở quy
mô rộng nhiều quốc gia càng trở nên phổ biến, việc phòng ngừa và xử lý vấn đề
này càng ngày càng khó khăn với mỗi quốc gia trở thành một thách thức lớn của
toàn nhân loại. Hàng loạt các vấn đề liên quan đến ATTP xẩy ra liên tục trong
thời gian gần đây đã cho thấy rõ vấn đề này, như là: vấn đề melamine (năm
2008).
2.2 Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn vào thịt
- Môi trường bị ô nhiễm: vi sinh vật từ đất, nước, không khí, dụng cụ, nhiễm
vào thực phẩm.
- Do thiếu vệ sinh trong quá trình chế biến, vệ sinh cá nhân không đảm bảo (tay
người chế biến, người lành mang trùng), làm nhiễm vi sinh vật vào thực phẩm.
Bên cạnh, thức ăn không chín kỹ (tái) hoặc sống (gỏi cá, thủy sản sống, nem, ) bị
nhiễm vi sinh vật, ký sinh trùng gây ngộ độc và bệnh truyền qua thực phẩm.
- Do bảo quản thực phẩm không đảm bảo vệ sinh: bảo quản thực phẩm sống
chung với thực phẩm đã qua chế biến, không che đậy thực phẩm đã qua chế biến
làm vật nuôi, côn trùng mang mầm bệnh làm lây nhiễm vi sinh vật gây bệnh vào
thực phẩm.
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 5 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
- Do bản thân thực phẩm là gia súc, gia cầm bị bệnh trước khi giết mổ, khi chế
biến, nấu nướng không đảm bảo tiêu diệt hết mầm bệnh. Do quá trình giết mổ,
Ninh Bình.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ô nhiễm thực phẩm nguyên nhân chính là do vi khuẩn xâm nhập, thưc tế
nhiễm khuẩn cũng là nguyên nhân chính gây nên ngộ độc thực phẩm làm ảnh
hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, thiệt hại đến kinh tế không nhỏ.
Để giải quyết vấn đề này không hề dễ dàng chính điều đó đã thu hút các
nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 7 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
Inggram và Simonsen (1980) đã nghiên cứu hệ sinh vật xâm nhập vào thực
phẩm được rất nhiều nhà khoa học quan tâm và chú y đến.
Mpamugo và các cộng sự (1995) đã nghiên cứu độc tố Enterotoxin gây ỉa
chảy đơn phát do vi khuẩn Clostridium perfringens.
Beutin và Karch (1997) nghiên cứu plasmid mang yếu tố gây dung huyết
của E. coli 0157 : H7 type EDN93.
Akiko Nakama, Michinori Terao (1997) nghiên cứu phương pháp phát hiện
Listeria monocytogene trong thực phẩm .
Các nghiên cứu trên bước đầu đánh giá được thực trạng vệ sinh an toàn
thực phẩm của một số địa phương, kết quả đưa ra một số giải pháp cần thiết để có
biện pháp tối ưu trước mắt cũng như lâu dài, hiện nay có nhiều dự án, đề tài của
các ngành , các cấp các nhà khao học đang tiếp tục triển khai nghiên cứu.
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 8 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
Phần III
ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
(người)
Nguồn
gia súc
Giấy
phép
giết mổ
Số lượng
giết thịt
(con/ngày)
Hệ
thống
sử lý
chất
thải
Xuất
bán
sản
phẩm
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
Bảng 3.2: Phiếu điều tra các điểm bày bán thịt gia súc :
- Thu thập số liệu về tình hình chăn nuôi, giết mổ gia súc ở xã Quảng
Minh bằng cách xin số liệu thống kê của trạm thú y xã.
3.4.2 Phương pháp sử lý số liệu.
Các công thức sử dụng:
+ Sử dụng phương pháp thống kê sinh học.
+ Số trung bình :
n
xi
X
n
4.1.1. Khí hậu.
Xã Quảng Minh mang đầy đủ đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa của
vùng Đông Bắc Bộ,chia làm 4 mùa rõ rệt là: Xuân-Hạ-Thu-Đông.
Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, lượng mưa
chiếm 85%, nhiều nhất vào các tháng 7, tháng 8.
Mùa đông lạnh, khô, ít mưa kéo dài từ tháng 11đến tháng 4 năm sau.
Khí hậu của xã Quảng Minh có những đặc điểm sau:
Nhiệt độ trung bình của xã: 17 – 28
0
C.
Nhiệt độ mùa hè từ : 26 -38.5
0
C, nhiệt độ thấp nhất là 3 ẩm độ trung
bình năm là 81%
Lượng mưa trung bình là 1500 – 1600mm. Lượng mưa tháng lớn nhất
là 13 – 20mm.
Có 2 hướng gió chính là:Đông bắc và Đông nam.
Với nền nhiệt độ trung bình không cao, lượng mưa lớn, khí hậu thời tiết
Quảng Minh tương đối thuận lợi cho nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây
trồng, vật nuôi cùng các yếu tố nguồn nước và thổ nhưỡng rất thuận lợi ccho
việc thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, tăng năng suất cây trồng
trong sản xuất nông nghiệp.
Trong mấy năm trở lại đây thời tiết khí hậu thay đổi phức tạp. Bên cạnh 2
mùa xuân và mùa thu khá ổn định, thời tiết mát mẻ thuận lợi cho cây trồng vật
nuôi phát triển thì xen kẽ vào đó là 2 mùa, mùa hè và mùa đông khá phức tạp.
Mùa đông thì thời tiết giá lạnh hanh khô làm ảnh hưởng tới sự sinh trưởng
và phát triển của vật nuôi, cây trồng.Với kiểu thời tiết này đã tạo điều kiên phát
sinh mầm bệnh phá hủy sự sống của vật nuôi và cây trồng. Đặc biệt trong năm
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 11 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
Theo kết qủa điều tra bổ sung của việc quy hoạch và thiết kế nông nghiệp
năm 1997 cho thấy đặc điể thổ nhưỡng của xã Quảng Minh có hai loại đất
chính:
Đất phù sa không được bồi có tầng loang lổ: Thành phần cơ giới là đất thịt
trung bình, hàm lượng mùn trung bình là 1,8%- 2,6% . Đạm tổng số trung bình
là 0,16%-2%. Lân tổng số là 0,06%-0,09%. Và một vài thành phần khác.
Hiện tại loại đất này được khai thác trồng lúa hoặc một vụ lúa + một vụ màu.
Đất bạc màu trên phù sa cổ: Đất được hình thành trên mẫu đất phù sa cổ ở
điạ hình cao. Đất có phản ứng chua (pH =-4,5-5).
Với điều kiện đất đai như trên thì chính sách “Dồn điền đổi thửa” là một chính
sách hợp lý. Đưa những vùng có địa hình trũng thường xuyên bị ngập lụt, canh
tác kém hiệu quả thành những mô hình chăn nuôi thủy sản, còn những nơi địa
hình cao, chất đất tốt có hệ thống tưới tiêu đảm bảo thì phát triển sản xuất nông
nghiệp theo hướng chuyên canh hoặc thâm canh cho năng suất cao. Như vậy, đất
sẽ được sử dụng triệt để hiệu quả tạo ra năng suất cao, mang lại lợi ích kinh tế
cho địa phương.
4.1.3. Giao thông và thủy lợi.
* Giao thông:
Trên địa bàn xã Quảng Minh với loại hình giao thông chính là đường bộ ,xã có
tỉnh lộ 269 dài 3,6km, huyện lộ đường bờ hồ Khả Lý dài 3km. Đường Nếnh-
Ninh Sơn-Chùa Bổ- Vân Hà dài 1,3km.
Đây là những tuyến giao thông quan trọng, giúp cho xã có điều kiện để
phát triển giao lưu buôn bán hàng hóa với các địa bàn lân cận. Ngoài ra các
tuyến giao thông nông thôn của xã có mật độ quá dày và phân bố tương đối hợp
lý. Hằng năm, ủy Ban Nhân Dân xã đều phát động phong trào làm đường giao
thông nông thôn bằng vốn của nông dân tự đóng góp .Trong năm toàn xã bê
tông hóa được 1765m đường dân sinh, đưa tổng số đường bê tông hóa toàn xã
Khả Lý có 3280 người, 746 hộ, thôn Đông Long 2518 người, 657 hộ. Thấp nhất
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 14 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
là thôn Kẻ có 759 người, 191 hộ. Những năm vừa qua công tác dân số được tuyên
truyền tích cực nên số hộ sinh con thứ 3 ngày càng giảm. Vi vậy đời sống nhân
dân ngày được nâng cao, đặc biệt vấn đề giáo dục và chăm sóc con cái ngày đạt
hiệu quả.
Ngày nay xã hội phát triển, dân số tăng lên thì kéo theo sự phân công lao
động trong xã hội ngày càng phức tạp. Vấn đề lao động và việc làm đã và đang
là lỗi lo cho toàn xã hội.Trên thực tế điều tra về số lao động của xã Quảng Minh
nói riêng thu được kết quả:
Tổng số lao động toàn xã là 5526 người chiếm 56,81%dân số, trong đó lao
động nông nghiệp là chủ yếu lao động toàn xã phần lớn là chưa qua đào tạo.
Trong đó số lao động tham gia vào hoạt dộng giết mổ và buôn bán thịt gia
súc có khoảng 622 chiếm 11,25% lao động toàn xã .
Hiện nay việc làm cho người lao động đang là vấn đề được chính quyền
cũng như mọi tầng lớp nhân dân rất quan tâm, đặc biệt lúc nông nhàn sau khi kết
thúc mùa vụ
Giải quyết công ăn việc làm cho người dân:
- Kết hợp chuyển dịch cơ cấu cây trồng phát triển kinh tế các ngành nghề sử
dụng nhiều lao động phổ thông.
- Gắn việc giải quyết việc làm với chiến lược phát triển kinh tế, ổn định trật
tự an toàn xã hội.
Như vậy xã Quảng Minh là xã có nguồn lao động dồi dào thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế trong tương lai. Tỷ lệ lao động làm trong ngành nông nghiệp
đã qua đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học ngày càng tăng.
4.3 Đặc điểm hoạt động chăn nuôi.
43.1. Tinh hình chăn nuôi
Đối với đàn lợn của xã: Những năm gần đây đàn lợn nái và lợn thịt đã có sự thay
đổi lớn,do nhu cầu về thực phẩm tăng lên nên số lượng của chúng ngày một
tăng. Tuy nhiên bên cạnh đó thì đàn đực giống lại có xu hướng giảm đi. Nguyên
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 16 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
nhân là do công tác thụ tinh nhân tạo đã và đang được áp dụng ngày một
nhiều,giúp nâng cao chất lượng đàn con,giảm lây lan dịch bênh,giảm chi phí cho
mỗi lần giao phối.
Đối với chăn nuôi gia cầm: Những năm gần đây trên cả nước đã xảy ra
các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 thế nhưng ở xã Quảng Minh số gia cầm vẫn có xu
hướng tăng lên, đặc biệt là gà đang tăng một cách đáng kể về số lượng và chất
lượng, một phần do chăn nuôi có lãi một phần do bà con đã có ý thức trong việc
phòng bệnh cho đàn gia cầm. Mặt khác do diện tích đất là rất lớn nên các hộ đã
sử dụng để chăn nuôi theo phương thức thả vườn, gà đẻ đã cho giá trị kinh tế
cao.
Tuy nhiên dưới sự ảnh hưởng của giá cả thức ăn, dịch bệnh và sự suy
giảm của nền kinh tế toàn cầu đã tác động lớn tới ngành chăn nuôi do vậy mà số
lượng gia súc, gia cầm của xã đang có xu hướng giảm dần qua các năm.
4.3.2. Cơ cấu giống vật nuôi.
Qua quá trình điều tra em thấy hiện nay trên địa bàn xã nuôi các giống
trâu, bò chủ yếu là: bò vàng Việt Nam, bò lai Sind và giống trâu gié. Trước đây
bà con trong xã chưa am hiểu về các giống trâu bò nên chỉ nuôi giống trâu bò
nội. Những năm gần đây dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ con giống của ban
khuyến nông huyện bà con đã tìm hiểu các giống trâu bò khác có năng suất kinh
tế hơn. Trong đó việc đưa giống bò lai Sind và việc Sind hoá đàn bò của xã là
hết sức cần thiết.
đối với đàn lợn nái sinh sản của xã chủ yếu là lợn lai hướng nạc như: Đại Bạch,
Landrace một số lợn là Móng Cái, Lang Hồng. Với các hộ chăn nuôi nhiều có
công nghiệp.
Thức ăn cho gia cầm là thóc, ngô, gạo, cơm thừa Mặt khác chăn thả tự
do nên nguồn thức ăn là do gia cầm tự kiếm, phụ thuộc vào tự nhiên như sâu bọ,
giun đất Ngoài ra còn có thức ăn xanh có sẵn như lá cây, rau xanh Với gà
chăn nuôi theo phương thức ăn thẳng bao gồm các loại cám của các hãng
Glofeed, Vina…
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 18 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
4.3.4.Chuồng trại chăn nuôi.
Trên địa bàn xã có những hộ xác định được tầm quan trọng của chuồng
trại cho nên đã kiên cố hoá nền chuồng luôn đảm bảo khô thoáng có hố chứa
phân, nước tiểu, hướng chuồng là hướng Đông Nam hay hướng Nam. Song bên
cạnh đó còn có những hộ chưa xác định được tầm quan trọng của chuồng trại
cho nên chuồng trại còn lạc hậu, chưa đảm bảo vệ sinh chất thải, chất chứa độn
chuồng không có độ dốc hợp lí nước thải vẫn đọng lại trong chuồng. Nhiều
chuồng diện tích còn hẹp nên hạn chế việc đi lại của gia súc, hướng chuồng
chưa hợp lí không tập trung được ánh sáng mặt trời nên thường ẩm ướt dễ mắc
bệnh, đây là những yếu tố bất cập trong công tác chăn nuôi của địa phương nó
ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của đàn gia súc cũng như con người.
. Đối với ngành chăn nuôi lợn của xã, với những hộ gia đình nuôi nhỏ lẻ từ 2 -
3 con thì chuồng trại trật hẹp, không có sân chơi riêng, nền chuồng không khô
ráo, chất độn chuồng và nước thải còn đọng lại trong chuồng. Chuồng nuôi đặt
gần nhà, gần bể nước gây ô nhiễm. Với những hộ chăn nuôi số lượng nhiều thì
nền chuồng luôn khô ráo sạch sẽ, chất thải độn chuồng gom lại ủ làm phân bón
theo phương pháp nhiệt sinh học. Có những hộ gia đình làm hố ủ biogas và
những hộ làm mô hình V.A.C phân lợn còn làm thức ăn cho cá. Hướng chuồng
nuôi là hướng Nam hoặc hướng Đông Nam nên luôn thoáng mát, có sân vận
động, chuồng hứng được ánh nắng mặt trời giúp lợn tổng hợp vitamin D3. Tuy
Bệnh tiêu chảy, bệnh tụ huyết trùng, ký sinh trùng…khi có bệnh xảy ra thì
công tác chữa trị được diễn ra kịp thời, đúng bệnh, đúng thuốc, đúng liều, đúng
liệu trình và kết quả tương đối cao.Do việc quản lí của thú y xã chặt chẽ nên khi
bênh xảy ra thì dịch bệnh không bị lây lan mà kết qủa đạt được cho công tác
điều trị bệnh tốt.
Bảng 4.3 : Kết quả điều tra tình hình dịch bệnh của xã Quảng Minh
trong 3 năm gần đây (20010 - 2012)
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 20 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
Năm
Loài gia
Tổng số
Tên bệnh
Số con
Tỷ lệ
Số
khỏi
Tỷ lệ
(%)
Số
chết
Tỷ lệ
(%)
2010 Lợn 4570 Tụ huyết trùng 255 5,7 243 99,2 12 4,7
Sưng phù đầu 512 11,2 415 81,0 97 18,9
Phân trắng 1057 23,1 1030 97,4 27 2,5
Phó thương hàn 375 8,2 338 90,1 37 9,9
Tai xanh 213 4,7 164 77,0 49 23
(Nguồn: thống kê do ban thú y xã Quảng Minh cung cấp)
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 21 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản
Chuyên đề tốt nghiệp Tạ Văn Vị LT4CNTY
Qua bảng số liệu ta thấy tình hình dịch bệnh trong 3 năm vừa qua rất phức
tạp, mang tính chất chu kì và mùa vụ. Năm nào cũng xảy ra và chiếm tỷ lệ cao
nhất là các bệnh như tụ huyết trùng, sưng phù đầu, phân trắng lợn con, phó
thương hàn gần đây còn hay xảy ra bệnh lở mồm long móng gây thiệt hại lớn
cho ngành chăn nuôi. Tuy nhiên so với năm 2010 thì năm 2011 số lượng gia súc
gia cầm mắc bệnh có xu hướng giảm dần,chỉ có bệnh phân trắng lợn con có tăng
lên 131 con. Nguyên nhân chính gây ra bệnh chủ yếu do diễn biến phức tạp của
thời tiết khí hậu, bên cạnh đó cũng do nguồn thức ăn cung cấp cho lợn nái không
đảm bảo dinh dưỡng và thiếu vệ sinh.Tuy nhiên khi mắc bệnh thì số lượng con
mắc bệnh được điều trị kịp thời nên kết qủa điều trị tốt, số lượng khỏi bệnh cao
đạt 94,5%.Vì vậy để giảm số lương gia súc mắc bệnh cần tiêm phòng định kì, vệ
sinh chuồng trại sạch sẽ trong và trước khi có dịch bệnh.
4.5. Thực trạng hoạt động giết mổ ở xã Quảng Minh.
4.6. Tình hình buôn bán.
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 22 Khoa Chăn nuôi – Thủy
sản