Vấn đề trí thức hóa công nhân doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ THỊ THANH
VẤN ĐỀ TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THÁI SƠN

HÀ NỘI - 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY - MỘT SỐ
VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1. Trí thức hoá công nhân, tầm quan trọng của trí thức hoá công
nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 8
1.1.1. Lý luận về vấn đề trí thức hoá công nhân 8
1.1.2. Tầm quan trọng của vấn đề trí thức hoá công nhân trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hoá đất nước 24
1.2. Nội dung cơ bản và một số yếu tố ảnh hưởng đến nội dung trí
thức hoá công nhân 30
1.2.1. Nội dung cơ bản trí thức hoá công nhân Việt Nam 30
1.2.2. Một số yếu tố ảnh hưởng, tác động đến nội dung trí thức hoá
công nhân 32
Chƣơng 2. TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở
THÁI NGUYÊN HIỆN NAY- VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP 37
2.1. Vấn đề trí thức hoá công nhân doanh nghiệp nhà nước ở Thái
Nguyên hiện nay 37
2.1.1. Doanh nghiệp nhà nước và công nhân trong các doanh nghiệp
nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên 37

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiếp nối truyền thống lịch sử vẻ vang của các thế hệ đi trước, trong giai
đoạn hiện nay vai trò của GCCN Việt Nam vẫn được khẳng định là “Giai cấp
lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản; giai cấp đại
diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước; lực lượng nòng cốt trong khối liên minh giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”
[12, tr.43-44].
Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển
kinh tế tri thức, với mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2020 là “Phấn đấu đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại,
chính trị xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp
tục được nâng lên, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong những giai
đoạn sau”

[13, tr.103]. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên đòi hỏi phải phát
huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó nội
lực quyết định, trực tiếp là không ngừng nâng cao dân trí, xây dựng nguồn nhân
lực chất lượng cao. Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng có ý nghĩa quyết
định nhất đến sự nghiệp CNH, HĐH đất nước gắn liền với phát tríển kinh tế tri
thức. Sự lớn mạnh của GCCN là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của
công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã có chủ trương, giải pháp

chung, đội ngũ công nhân trong các DNNN trên địa bàn Thái nguyên nói
3
riêng cần quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo, mục tiêu Nghị quyết Trung
ương 6, Khoá X “Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công
nhân, không ngừng trí thức hoá công nhân là một nhiệm vụ chiến lược”…
“xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển về số lượng, nâng cao chất
lượng, cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát tríển đất nước; ngày càng được trí thức
hoá” [12, tr.48-50].
Trí thức hoá công nhân là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, là
một vấn đề mới và cần được sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành nói
chung và của các DNNN trên địa bàn Thái nguyên nói riêng. Từ những lý do
nêu trên, tác giả chọn đề tài “Vấn đề trí thức hoá công nhân doanh nghiệp
nhà nước ở tỉnh Thái nguyên hiện nay” làm luận văn thạc sỹ.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ vai trò to lớn của giai cấp công nhân đối với quá trình đấu
tranh cách mạng cũng như xây dựng CNXH ở Việt Nam; nhất là trong quá
trình đổi mới và tiến hành CNH, HĐH đất nước đã có rất nhiều công trình
khoa học nghiên cứu của các cá nhân và tập thể về vấn đề này. Vấn đề xây
dựng GCCN Việt Nam đã được Đảng ta đề cập toàn diện, sâu sắc trong các
Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương.
Trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, đã có rất nhiều công trình khoa
học khai thác nghiên cứu về GCCN Việt Nam ở những khía cạnh khác nhau:
- Về lịch sử giai cấp công nhân, phong trào công nhân Việt Nam có các
công trình: Trần Văn Giàu, “Giai cấp công nhân Việt Nam - sự hình thành và
phát triển”, Nxb Sự thật, Hà Nội 1961. Nguyễn Công Bình, Vũ Huy Phúc,
“Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam”, Nxb Lao động,
1974; “Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam”, Nxb Lao
động, 1977. Trong những công trình này, các tác giả đã luận giải khá sâu sắc
sự ra đời của GCCN, của phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam; về
vị trí vai trò của GCCN Việt Nam, đồng thời chỉ ra những đóng góp to lớn của

Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000. Trần Ngọc Sơn,
"Sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", Luận án tiến sĩ, chuyên
ngành Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001. Nguyễn Thị
Hường, “Giai cấp công nhân - giai cấp tiên phong trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 2011. Trần Thị Như Quỳnh, “Công nhân trí thức ở
thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp, hoá hiện đại hoá”,
Luận án tiến sĩ triết học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2011.
- Một số bài báo khoa học tiêu biểu như: Phạm Ngọc Dũng (2006), “Trí
thức hoá công nhân Việt Nam”, Khoa học xã hội, (12). GS.TS Mạch Quang
Thắng, “Giai cấp công nhân Việt Nam một số vấn đề lý luận cần tiếp tục làm
sáng tỏ”, Tạp chí Lao động Công đoàn, tháng 10 năm 2008.
Nhìn chung, các công trình và đề tài khoa học, bài viết xung quanh vấn
đề GCCN đã đi sâu, luận giải và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai
trò sứ mệnh lịch sử của GCCN nói chung, GCCN Việt Nam trong sự nghiệp
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế nói riêng; đồng thời, đề cập đến vấn đề xây
dựng GCCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đề cập, nghiên
cứu có hệ thống vấn đề trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp nhà
nước trên địa bàn Thái Nguyên. Do vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn là công
trình độc lập, không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề trí thức hoá
công nhân trong các DNNN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay; từ đó
6
xuất một số giải pháp cơ bản đẩy mạnh có hiệu quả việc trí thức hoá công
nhân trong các DNNN trên địa bàn Thái Nguyên.
3.2. Nhiệm vụ

6. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn có thể là tài liệu, luận cứ khoa học cho
lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên, các nhà quản lý DNNN tham khảo trong việc đề
ra chủ trương, chính sách đẩy mạnh trí thức hoá, góp phần xây dựng GCCN
có phẩm chất, năng lực, phát huy tốt vị trí, vai trò lịch sử của mình trong sự
nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH; hoàn thành chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Thái
Nguyên và đất nước đặt ra.
Ngoài ra, Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho quá trình
giảng dạy, học tập và nghiên cứu những nội dung có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận văn gồm 2 chương, 4 tiết:
Chƣơng 1: Trí thức hóa công nhân Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề
chung.
Chƣơng 2: Trí thức hóa công nhân doanh nghiệp nhà nước ở Thái
Nguyên hiện nay - vấn đề và giải pháp. 8
Chƣơng 1
TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Trí thức hoá công nhân, tầm quan trọng của trí thức hoá công
nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc
1.1.1. Lý luận về vấn đề trí thức hoá công nhân
1.1.1.1. Vấn đề trí thức hoá công nhân theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Trí thức hoá công nhân là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa
quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển GCCN và liên quan trực

chung của khoa học và tiến bộ kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng
khoa học ấy vào sản xuất” [32, tr.368-369]. Chính vậy mà “phát minh đã trở
thành một nghề đặc biệt và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào
nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất
quyết định và kích thích” [32, tr.367].
Chúng ta có thể thấy những luận điểm trên hoàn toàn đúng với các đặc
trưng của nền kinh tế tri thức; các nguồn lực cho sản xuất truyền thống trước
kia (đất đai, lao động cơ bắp ) sẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu, thay vào đó là
yếu tố tri thức. Tri thức sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, quyết định
lợi thế so sánh của mỗi một quốc gia, khoa học công nghệ đóng vai trò trung
tâm trong tăng trưởng kinh tế, lao động có hàm lượng tri thức cao ngày càng
chiếm ưu thế hơn so với lao động giản đơn. Xu thế đó tất yếu đòi hỏi người
lao động công nghiệp phải có trình độ tri thức ngày càng cao và toàn diện.
10
Nền sản xuất công nghiệp hiện đại đòi hỏi GCCN phải không ngừng
nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng kỹ xảo Đồng thời
cũng tạo cơ chế sàng lọc khắc nghiệt đối với GCCN, ai đáp ứng được yêu cầu
về trình độ thì tồn tại còn nếu không thì sẽ bị đào thải.Với tinh thần đó thì
GCCN hiện đại phải là những người thực sự có trình độ chuyên môn và năng
lực trí tuệ cao, là lực lượng tiên phong ưu tú nhất so với các giai cấp tầng lớp
khác trong xã hội. Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định từ thế kỷ XIX
ngay từ khi nền công nghiệp còn ở trình độ cơ khí. Ông cho rằng những người
lao động trong nền sản xuất hiện đại thì cần phải có năng lực phát triển toàn
diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất. Đến lượt mình nền sản xuất
đó sẽ tạo nên những con người mới, sẽ làm cho những thành viên trong xã hội
có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của
mình. Vì vậy, Ph.Ăngghen nhấn mạnh “GCCN không chỉ cần đôi bàn tay
vàng mà còn cần sự sáng tạo của khối óc. Chính GCCN bằng bàn tay, khối óc
mà quá trình lao động của họ đã tạo ra sự vĩ đại của nước Anh” [28, tr.350].
Khi quan sát, nghiên cứu sự tác động của đại công nghiệp, của cách mạng

với sự nghiệp cách mạng của công nhân nói riêng và đối với sự phát triển nền
kinh tế XHCN nói chung. V.I.Lênin chỉ rõ “về mặt kinh tế và chính trị, chính
sách kinh tế mới hoàn toàn bảo đảm cho chúng có khả năng xây dựng được
nền móng cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tất cả “chỉ” là tuỳ ở lực lượng
văn hoá của giai cấp vô sản và ở đội tiền phong của nó” [24, tr.74]. Bởi theo
Lênin văn hóa chính là trí tuệ của nhân dân trong đó có đội ngũ công nhân.
Khi bàn về tầm quan trọng của việc nâng cao tri thức cho nhân dân lao
động nói chung và công nhân nói riêng trong quá trình xây dựng CNXH,
trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết”
V.I.Lênin nhấn mạnh “Việc nâng cao năng suất lao động trước hết đòi hỏi
12
phải có cơ sở vật chất của nền đại công nghiệp một điều kiện khác để nâng
cao năng suất lao động, trước hết là nâng cao trình độ học vấn và văn hoá của
quần chúng nhân dân” [21, tr.229]. “Công nhân phải học tập tri thức của
chuyên gia tư sản bởi vì công nhân, nông dân càng nhanh chóng học tập được
cách tạo ra kỷ luật lao động tốt hơn và kỹ thuật lao động cao, bằng cách sử
dụng các chuyên gia tư sản để học lấy môn khoa học ấy thì chúng ta sẽ thoát
khỏi “khoản tiền cống” cho các chuyên gia đó” [21, tr.221].
Để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của GCCN, V.I.Lênin nhấn mạnh,
GCCN phải liên minh được với nông dân, đặc biệt liên minh được với trí thức
cách mạng, bởi vì: “…trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô
sản và giới kỹ thuật, không một thế lực đen tối nào đứng vững được” [22, tr.218].
Đối với các nước lạc hậu xây dựng CNXH, theo V.I.Lênin, cuộc cách
mạng trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng, phát triển khoa học kỹ thuật có tầm
quan trọng đặc biệt; phải tìm mọi cách để chiếm được những tri thức khoa học
của nhân loại. V.I.Lênin sử dụng hình ảnh “Dùng cả hai tay mà lấy những cái
tốt nhất của nước ngoài” [21, tr.684] làm “vốn” tri thức cho mình để xây dựng
CNXH.
Như vậy, chúng ta thấy trong nền kinh tế tri thức thì tri thức là yếu tố
cơ bản tạo ra sự phát triển nhanh chóng. Nhưng tri thức lại do con người sáng

hoá”, “trí thức hoá công nông” và tầm quan trọng của quá trình này. Theo đó,
“trí thức hoá công nông” không có nghĩa công - nông biến thành trí thức, hoà
tan vào trí thức mà là phải nâng cao trình độ học vấn, trí tuệ, chuyên môn của
công - nông. “Công nông hoá trí thức” cũng không phải là hạ thấp vai trò trí
tuệ của trí thức mà có nghĩa là trí thức phải gắn với công - nông, phục vụ công
- nông, phục vụ sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, trong đó có
trí thức.
14
Cách luận giải như vậy của Hồ Chí Minh cho thấy, tầng lớp trí thức và
GCCN phải luôn gắn bó với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong
quá trình xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Để phát huy vai trò tiền
phong là “gốc”, là lực lượng nòng cốt của cách mạng, theo Hồ Chí Minh,
GCCN “cần phải học tập văn hoá để nâng cao trình độ tri thức mình” [34,
tr.204]; đồng thời căn dặn: “Cần phải có kế hoạch bồi dưỡng cho cán bộ và
công nhân có trình độ văn hoá và kỹ thuật khá”, thậm chí “phải có trình độ
không kém gì kỹ sư” [36, tr.224]. Khi bàn về mối quan hệ giữa lao động chân
tay với lao động trí óc, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, không được phép coi khinh, phân
biệt đối xử lao động trí óc và lao động chân tay. Lao động nào cũng vinh quang,
lao động nào cũng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thân nhằm thoả mãn nhu
cầu xã hội và bản thân. Bác dạy: “Mỗi người chúng ta phải nhận rõ, lao động chân
tay và lao động trí óc đều vẻ vang, đáng quý. Chúng ta phải chống tư tưởng xem
khinh lao động” [36, tr.349]. Sự xích lại gần nhau, tác động và chuyển hoá giữa
công nhân và trí thức cũng là một xu thế đang diễn ra nhanh chóng do sự phát
triển của khoa học - công nghệ. Chỉ rõ mối quan hệ biện chứng này, Hồ Chí
Minh cho rằng “Do sáng kiến và kinh nghiệm trong thi đua mà lao động chân
tay nâng cao trình độ kỹ thuật của mình. Do thi đua mà lao động trí óc gần
gũi, giúp đỡ, cộng tác, học hỏi những người lao động chân tay và trở lên
những người trí thức hoàn toàn. Thế là phong trào thi đua làm cho công, nông,
binh, trí thức hoá và trí thức thì lao động hoá” [34, tr.475]. Trí thức hoá công
nhân là khách quan và là nội dung quan trọng trong xây dựng GCCN. Trí thức

hướng XHCN, Đảng CSVN đã chú ý đến việc thực hiện trí thức hoá công
nhân và quan điểm đó được định hình ngày càng rõ nét trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH; bắt đầu từ Đại hội VIII (năm 1996). Là một nước nông
nghiệp, quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH một mặt dẫn đến xu hướng công nhân
hoá người lao động (từ nông dân, trí thức, công nhân viên chức,…), mặt khác
16
tạo xu hướng trí thức hoá công nhân, tạo điều kiện để GCCN nước ta phát
triển cả vê số lượng và chất lượng. Do đó để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn
mới, nhiệm vụ “từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta trở thành
nước công nghiệp” [6, tr.80] cần phải “xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh
về mọi mặt, phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, nâng cao trình độ học
vấn và tay nghề, có năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, có tác
phong công nghiệp và ý thức tổ chức kỷ luật, lao động đạt năng suất, chất
lượng và hiệu quả ngày càng cao” [5, tr.67-68, 123]. Đây chính là tinh thần trí
thức hoá công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.
Tại Đại hội IX (năm 2001), chủ trương trí thức hoá công nhân chính
thức được đặt ra. Lần đầu tiên Đảng ta sử dụng khái niệm kinh tế tri thức và
nêu rõ “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có những biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ
có những bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật
trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”. Vì vậy con đường CNH, HĐH
ở Việt Nam cần và có thể “rút ngắn” đồng thời với từng bước phát triển nền
kinh tế tri thức. Như vậy, mặc dù Việt Nam chưa giải quyết xong bước
chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp nhưng bối
cảnh trong nước và quốc tế đã tạo ra những điều kiện và cơ hội để Việt Nam
có thể thực hiện một bước chuyển kép từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền
kinh tế công nghiệp và từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức.
Điều kiện kinh tế đó đã tạo tiền đề, môi trường và động lực thúc đẩy xu hướng
công nhân hoá người lao động cùng với xu hướng trí thức hoá công nhân,
hình thành và phát triển đội ngũ công nhân trí thức ở nước ta. Do đó, để đáp
ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH cùng với phát triển kinh tế tri thức, đối với

mới nổi như Hàn quốc, Singapo và định hình ngày càng rõ nét ở các nước
đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil. Theo quy định chung hiện
18
nay về tiêu chí của kinh tế tri thức mà nhiều nước chấp nhận, được gói gọn
trong con số 70%. Cụ thể là: trên 70% GDP là do các ngành sản xuất và dịch
vụ cung ứng công nghệ cao mang lại (công nghệ cao là do công nhân trí thức
đảm nhiệm); trên 70% trong cơ cấu giá trị gia tăng là kết quả của lao động trí
óc; trên 70% công nhân lao động trí óc (công nhân trí thức); trên 70% là vốn
con người [4, tr.13-20]. Ở Bắc Mỹ và một số nước Tây Âu hiện nay, kinh tế
tri thức đã chiếm từ 45% - 70% GDP [41, tr.195].
Cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức là xu hướng trí thức hoá công
nhân, thực tiễn cho thấy trên thế giới hiện nay đã xuất hiện và phát triển ngày
càng nhiều công nhân trí thức trong khi lực lượng công nhân truyền thống
giảm dần. Tính đến năm 2000, không còn một nước TBCN phát triển nào còn
lượng công nhân truyền thống làm việc trong lĩnh vực sản xuất và vận chuyển
sản phẩm chiếm hơn 1/6 hoặc 1/8 tổng số công nhân lao động của nước đó.
Cụ thể ở Mỹ, lao động chân tay giảm từ 50% năm 1950 xuống còn 20% năm
1990 và đến năm 2000 chỉ còn dưới 10%. Tương ứng với điều này là tỷ lệ
công nhân trí thức ngày càng tăng và chiếm ưu thế về số lượng so với tỷ lệ
công nhân truyền thống. Trong vòng 10 năm (1986-1996) tỷ lệ công nhân
truyền thống của Đức giảm từ 67% xuống còn 37%; cùng thời gian đó số công
nhân trí thức ở Pháp tăng lên hai lần trong khi đó công nhân truyền thống
giảm từ 30% xuống còn 27% [41, tr.193]. Theo thống kê, năm 2006 ở
Canada, trong tổng số lực lượng lao động, công nhân trí thức chiếm đến 50%,
công nhân truyền thống chỉ còn khoảng 32%. Tại Italia và Tây Ban Nha 53%
trong tổng số công nhân hiện nay là công nhân trí thức. Số liệu thống kê ILO
cho thấy có tới 60% - 70% lực lượng lao động xã hội là công nhân trí thức ở
các nước công nghiệp phát triển hiện nay [41, tr.195].
Như vậy, cùng với sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ,
GCCN nước ta (là một bộ phận của GCCN quốc tế) nên xu hướng trí thức hoá

Trong điều kiện khoa học phát triển như hiện nay, yêu cầu làm rõ đâu là
công việc có tính chất công nhân, đâu là công việc có tính chất trí thức là một
việc làm khó. Sự xích lại gần nhau và sự chuyển hoá bộ phận giữa công nhân
và trí thức là một xu thế đang diễn ra nhanh chóng. Tác giả Cao Văn Lượng
viết “Không phải mọi trí thức đều nằm trong giai cấp công nhân” [26, tr.52],
chỉ có bộ phận trí thức thường xuyên lao động trực tiếp trong dây chuyền sản
xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp mới được xem là bộ phận của
GCCN. Tuy nhiên, việc phân biệt GCCN với tầng lớp trí thức vẫn là một thực
tế và cần thiết để thấy rõ vai trò của GCCN và vai trò của tầng lớp trí thức
trong tiến trình phát triển của xã hội hiện đại và thấy được sự tác động qua lại
giữa GCCN và tầng lớp trí thức trong quá trình GCCN thực hiện sứ mệnh lịch
sử của mình.
Đặc trưng của công nhân trí thức là lao động chủ yếu bằng tri thức, kỹ
năng nghề nghiệp hiện đại với công nghệ tiên tiến và tính xã hội hoá cao; họ
vừa có khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại đồng thời có khả năng hoạt
động sáng tạo với trình độ chuyên môn cao. Công nhân trí thức hiện nay có
kiến thức liên thông với nhiều nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau. Quá trình lao
động của họ cần tới những phẩm chất riêng của từng người song luôn gắn bó
liên hiệp và cần sự hỗ trợ của nhiều người, nhiều ngành. Tính chất xã hội hoá
của lao động công nghiệp ngày nay không chỉ là hợp tác, liên kết công nghệ kỹ
thuật, mà còn mở ra theo nhiều chiều khác như kinh tế - xã hội: Sản phẩm có
tính cạnh tranh, bảo đảm phát triển bền vững, an toàn với môi trường v.v. Công
nhân trí thức cũng có sự khác biệt với trí thức trong xã hội. “Trí thức là những
người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về từng lĩnh vực chuyên môn
nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức,
tạo ra những sản phẩm tinh thần có giá trị đối với xã hội” [11, tr.81-82]. Trí
thức có phương thức lao động đặc thù khác với công nhân trí thức: chủ yếu là
lao động sản xuất tinh thần bằng trí tuệ sáng tạo mang tính cá nhân. Sản phẩm

Trích đoạn thức hoá công nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status