ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG VĂN BẰNG
Tên đề tài:
“THEO DÕI KHẢ NĂNG ẤP NỞ CỦA TRỨNG ĐÀ ĐIỂU THEO
TUỔI CỦA ĐÀ ĐIỂU MÁI VÀ KHỐI LƯỢNG TRỨNG
TẠI BẠCH THÔNG - BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoa : Chăn nuôi - Thú y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoa : Chăn nuôi - Thú y
Khóa học : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Dương Mạnh Hùng
Bộ môn : Cơ sở
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên cũng như trong quá trình thực tập tại cơ sở em đã nhận được sự dạy
bảo và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Chăn Nuôi Thú Y,
của cán bộ và công nhân viên tại trại đà điểu xã Mỹ Thanh (Bạch Thông - Bắc
Kạn) cùng các bạn đồng nghiệp.
Nhân dịp này em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng cán bộ
ccông nhân viên của trại đà điểu xã Mỹ Thanh đã tạo điều kiện thuận lợi giúp
em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Dương
Mạnh Hùng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình
Thông - Bắc Kạn”.
Tuy nhiên, với thời gian thực tập có hạn, trình độ kiến thức và kinh nghiệm
chưa nhiều cho nên bản khóa luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn
chế. Vì vậy, tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô trong
khoa và bạn bè đồng nghiệp để bản báo cáo được hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên Nông Văn Bằng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Kết quả phục vụ sản xuất 10
Bảng 2.1: Số lượng đà điểu nuôi trên thế giới qua các giai đoạn 25
Bảng 2.2: Số lượng đà điểu ở một số nước trên thế giới năm 1996 26
Bảng 2.3: Số lượng và cơ cấu đàn đà điểu 3 năm gần đây (con) 36
Bảng 2.4: Tuổi thành thục sinh dục của đà điểu bố mẹ (N = 10con) 37
Bảng 2.5: Năng suất sinh sản theo tuổi của đà điểu mái (3,5 tháng) 38
Bảng 2.6: Tiêu tốn thức ăn/1 trứng và/1trứng giống ở các năm sinh sản khác
nhau 38
Bảng 2.7: Tỷ lệ lòng trắng, lòng đỏ và vỏ trứng đà điểu (N = 10) 39
Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu trứng ấp của đà điểu 39
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2. Điều kiện đất đai 1
1.1.1.3. Đặc điểm khí hậu thủy văn 1
1.1.1.4. Điều kiện giao thông 2
1.1.2. Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội 2
1.1.2.1. Điều kiện kinh tế 2
1.1.2.2. Điều kiện xã hội 2
1.1.2.3. Điều kiện văn hóa 3
1.1.3. Tình hình sản xuất 3
1.1.3.1. Tình hình sản xuất của ngành trồng trọt 3
1.1.3.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi 3
1.1.3.3. Công tác thú y 4
1.1.4. Tình hình sản xuất của Trại đà điểu huyện Bạch Thông 4
1.1.5. Đánh giá chung 4
1.1.5.1. Thuận lợi 4
2.1.2. Mục tiêu của đề tài 11
2.1.3. Ý nghĩa khoa học của đề tài 12
2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12
2.2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 12
2.2.1.1. Đặc điểm sinh học 12
2.2.1.2. Khả năng sản xuất 13
2.2.2. Tình hình chăn nuôi đà điểu trên thế giới và Việt Nam 25
2.2.2.1. Tình hình chăn nuôi đà điểu trên thế giới 25
2.2.2.2. Tình hình chăn nuôi đà điểu ở Việt Nam 28
2.2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 29
2.2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 29
2.2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 31
2.3. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu 33
2.3.2. Địa điểm nghiên cứu 33
2.4.2.5. Kết quả ấp trứng của đà điểu 39
2.4.2.6. Kết quả ấp trứng theo khối lượng trứng ấp của đà điểu 40
2.4.2.7. Tỷ lệ ấp nở theo hình thái của trứng 41
2.5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
2.5.1. Kết luận 42
2.5.2. Tồn tại 43
2.5.3. Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
1
PHẦN 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Mỹ Thanh là một xã thuộc huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn có diện
tích tự nhiên là 3323,59 ha nằm cách trung tâm huyện Bạch Thông 30 km về
phía đông nam, cách trung tâm thị xã Bắc Kạn khoảng 12 km về phía tây
nam, địa hình chủ yếu là đồi núi dốc, giáp với các xã như sau:
Phía Bắc giáp xã Nguyên Phúc, xã Cao Sơn.
Phía Đông giáp xã Cao Sơn, xã Côn Minh (Na Rỳ).
0
C, thấp nhất là -0,9
0
C, tháng lạnh nhất là tháng 2.
Một năm có 2 mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ tháng 4
đến tháng 10, lượng mưa bình quân năm 1586mm, chiếm 90% lượng mưa cả
năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10%
lượng mưa cả năm.
Nhiệt độ trung bình cao nhất là 27,9
o
C và thấp nhất là 16,4
o
C.
Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12 năm trước và tháng 1 năm
sau, gió nóng thường xuất hiện vào tháng 6 và tháng 7 hàng năm.
Xã có con sông Cầu chảy dọc theo địa bàn xã nên thuận lợi cho ngành
trồng trọt phát triển.
1.1.1.4. Điều kiện giao thông
Có đường giao thông nối từ xã đến thị xã và các xã lân cận nhưng do
đường giao thông xuống cấp trầm trọng nên việc đi lại và thông thương hàng
hóa còn gặp nhiều khó khăn.
1.1.2. Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
1.1.2.1. Điều kiện kinh tế
Kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào ngành nông lâm nghiệp là chính.
Cơ cấu kinh tế của xã:
Nông lâm nghiệp : 92%
Tiểu thủ công nghiệp : 6%
Dịch vụ : 2%
Xã đang từng bước phát triển dần lên nhưng do người dân chủ yếu là
chăn nuôi và trồng trọt theo phương thức tự cung tự cấp nên ngành kinh tế
ngành trồng trọt có giá trị thấp thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cao
cho người lao dộng.
Chăn nuôi của xã vẫn theo phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi hộ
gia đình, chưa sử dụng phương thức chăn nuôi kiểu công nghiệp nên ngành
chăn nuôi phát triển còn chậm.
Đàn gia súc, gia cầm phát triển bình thường, đàn trâu của xã có xu
hướng giảm. Do người dân bán trâu chuyển sang mua máy cày hoặc mua
ngựa thồ
4
1.1.3.3. Công tác thú y
Công tác thú y và vệ sinh thú y là vấn đề rất quan trọng và không thể
thiếu được trong quá trình chăn nuôi gia súc, gia cầm, nó quyết định sự thành
bại của người chăn nuôi.
Căn cứ vào lịch tiêm phòng kỳ gia súc, gia cầm hàng năm xã đã tổ chức
tiêm phòng gia súc, gia cầm và tiêm phòng chó dại cho các hộ gia đình. Ngoài
ra mùa đông rét lạnh hay thời tiết thay đổi xã còn có công tác kiểm dịch,
phòng chống đói rét cho đàn gia súc, gia cầm như che chắn chuồng trại, dự
trữ thức ăn (chủ yếu là rơm rạ).
1.1.4. Tình hình sản xuất của Trại đà điểu huyện Bạch Thông
Trại đà điểu được hình thành từ năm 2009 do công ty TNHH Hoàng
Giang lập ra và có diện tích khoảng 4 ha, nằm ở ven con sông Cầu và được
ngăn cách với khu dân cư xung quanh bằng dòng sông này và dãy núi phía
trước trại. Trại chỉ nuôi đà điểu và phương thức chăn nuôi của trại là nuôi
nhốt hoàn toàn.
Hiện tại trại có 280 con đà điểu trong đó có 76 đà điểu trống mái và
204 đà điểu nuôi thịt và hậu bị. Trại mới được hình thành nên vẫn đang trong
giai đoạn phát triển mạnh.
Công tác thú y và vệ sinh thú y hết sức được quan tâm. Với phương
châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, trại chăn nuôi đã triệt để thực hiện tốt quy
trình vệ sinh thú y đồng thời công tác chăm sóc nuôi dưỡng cũng chú ý đúng
quy mô nhỏ lẻ, chưa thu hút thị trường.
- Về xã hội
+ Lực lượng lao động dồi dào nhưng số lượng qua đào tạo còn hạn chế.
+ Do đặc điểm địa hành nên hệ thống đường giao thông phức tạp chưa
đáp ứng nhu cầu phát triển, đặc biệt giao thông nội đồng.
+ Hệ thống công trình công cộng, phúc lợi xã hội còn thiếu và xuống cấp.
+ Tỷ lệ hộ nghèo cao.
+ Hệ thống kênh mương phục vụ sản xuất phần lớn chưa cứng hóa nên
chưa chủ động được tưới tiêu trong nông nghiệp.
+ Sự phân bố dân cư theo phong tục và địa hình đã gây khó khăn trong
đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
6
1.2. NỘI DUNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN VÀ
KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.2.1. Nội dung phục vụ sản xuất
Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi và khó khăn của trại và địa
phương chúng tôi đã đề ra nội dung phục vụ sản xuất như sau.
1.2.1.1. Công tác giống
Đà điểu sinh sản của trại đã được chọn lọc từ trước, chủ yếu là nhập từ
viện chăn nuôi về để phát triển và mở rộng chăn nuôi.
- Tiêu chuẩn chọn đực giống
Đà điểu trống chọn hình thể cân đối cường tráng phát triển bình
thường, tính ôn hoà, hoạt bát hiếu động, đầu thanh tú, cổ thẳng không cong,
mắt lớn và linh hoạt thể trạng không quá béo hoặc quá gầy. Đặc biệt lưu tâm
hai ngón chân khoẻ mạnh cấu tạo ngay ngắn. Cơ quan sinh dục phải lớn dài
và cong về phía trái, chiều dài trung bình 25 cm. Những cá thể quá hung dữ
thường không giữ lại làm giống vì khó kiểm soát và dễ làm chấn thương con
mái. Đà điểu trống biểu hiện khỏe mạnh ở màu đỏ rực rỡ của mỏ và thân.
- Ghép đàn và phối giống
Khi đà điểu đang chạy nhảy, do một nguyên nhân nào dó làm chúng sợ
hãi, chúng sẽ chạy toán loạn; giẫm đạp lên nhau khi cửa ra vào không đủ
rộng. Những vấn đề gây nên chân đà điểu không bình thường do tai nạn
chiếm 90%.
Mật độ đàn quá cao, sẽ làm tăng độ thiệt hại do thương tổn. Việc có các
cột ở hàng rào và đường chạy hẹp cũng gây nên thương tổn. Hàng rào không phù
hợp cũng có thể có các tác động trái ngược: Gây thiệt hại về da, tăng tỷ lệ chết;
đà điểu sợ hãi do tiếng động cơ máy bay, trực thăng cũng như các con vật không
quen thuộc khác như: ngựa, trâu bò, đó cũng là nguyên nhân gây tổn thương và
chết. Nhân tố này gây nên có thể do ảnh hưởng bố trí vị trí của trang trại.
Phương tiện chăm sóc cũng đòi hỏi thích hợp: Độ cao, độ chắc chắn
cũng nhằm hạn chế tối đa stress và thiệt hại cho đà điểu.
Do đà điểu là động vật đi bằng hai chân, nên bất kỳ một ảnh hưởng nào
tác động đến chân đều ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng, khả năng nuôi
sống và hiệu quả sản xuất của con giống trưởng thành.
Do ưa vận động với tốc độ cao, đà điểu có thể bị tổn thương do va
chạm cơ học: rách da cổ, da chân. Nếu vết rách dài 10 cm thì phải can thiệp.
- Biện pháp can thiệp:
8
+ Tiêm Novocain xung quanh vùng tổn thương (giảm đau).
+ Xử lý vết thương: cắt sửa, rắc bột kháng sinh (dùng Streptomycin: 1
g), tiếp theo khâu kín vết thương (5 - 7 cm) khâu một mối.
+ Kiểm tra lại vết thương sau xử lý, tiêm Penicillin: 1 triệu UI/50
KgP/lần (chỉ cần tiêm một lần).
- Hiện tượng ăn vật lạ ở đà điểu
Hiện tượng này thường gặp do: Bản tính vặt cỏ, tính tò mò tự nhiên và
sự nhạy cảm đặc biệt với các vật có máu sáng. Sỏi, đá, cát, kim loại, thuỷ tinh,
các que gậy đều có thể được đà điểu ăn một cách ngon lành. Điều đó dẫn đến
mất tính thèm ăn và gầy sút ở đà điểu non, gây nên giảm tốc độ sinh trưởng,
con vật ít uống nước và thường dẫn đến hiện tượng mất nước, ruột tổn
- Bệnh lý hoặc dị dạng bẩm sinh.
Dị dạng mỏ và mắt có thể xuất hiện do thiếu Mn, axít folic và Zn, hoặc
do điều kiện ấp nở không phù hợp, di truyền, độc tố.
1.2.2. Phương pháp thực hiện
Trên cơ sở điều tra điều kiện tự nhiên, xã hội và rút ra các thuận lợi,
khó khăn của địa phương, tôi đã đề ra biện pháp phục vụ sản xuất như sau:
Bám sát cơ sở, theo dõi thường xuyên tình hình chăn nuôi, thú y trại và
địa phương.
Tìm tài liệu và sách để học các kiến thức chuyên môn, áp dụng các kiến
thức đã học được trong nhà trường vào thực tiễn sản xuất.
Khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm, kiến thức thực tiễn của người chăn
nuôi trong trại.
Nhiệt tình, không ngại khó, ngại khổ, tận tụy với công việc.
1.2.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tại cơ sở, với vốn kiến thức đã học trong nhà
trường và sự nỗ lực của bản thân, được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng
dẫn, chủ trại lợn cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của chính quyền, nhân dân và cán
bộ khuyến nông, thú y của địa phương, tôi đã đạt được một số kết quả.
Biết được tình hình chăn nuôi của trại.
Học được thêm nhiều kinh nghiệm về ấp nở trứng cũng như công tác
chăm sóc và nuôi dưỡng đàn đà điểu.
Hiểu thêm về tập tính cũng như đặc điểm sinh học, sinh lý về đà điểu. 10
Bảng 1.1: Kết quả phục vụ sản xuất
Nội dung ĐVT Số
lượng
An toàn / khỏi
Tăng cường áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào thực tiễn
sản xuất.
Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ và công
nhân yên tâm làm việc.
11
PHẦN 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
“Theo dõi khả năng ấp nở của trứng đà điểu theo tuổi của đà điểu mái và
khối lượng trứng tại Bạch Thông - Bắc Kạn”
2.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
2.1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đà điểu là loại gia cầm có khả năng thích ứng cao, đề kháng tốt với một
số bệnh nguy hiểm của gia cầm, tạp ăn, dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao, yêu cầu
chuồng trại đơn giản, thích hợp với chăn nuôi gia đình và trang trại. Đà điểu
có giá trị kinh tế cao, thịt của đà điểu còn được coi là thịt sạch của thế kỉ XXI.
Nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ đà điểu của các nước trên thế
giới ngày càng tăng. Riêng thị trường châu Âu, nhu cầu thịt đà điểu cao gấp 3
- 4 lần khả năng cung cấp.
Ở Việt Nam chăn nuôi đà điểu bắt đầu từ năm 1996 với 100 trứng nhập
từ Zimbabwe ấp nở được 38 con nuôi đạt kết quả tốt, năm 1998 nhập 150 đà
điểu giống gốc từ Australia. Đã có sản phẩm thịt, các trang trại nuôi sinh sản
đã sản xuất được đà điểu giống, tạo tiền đề hình thành một nghề chăn nuôi
mới có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Vài
năm gần đây đà điểu đã được nuôi trại 1 số tỉnh phía Bắc trong đó có tỉnh Bắc
Kạn, Bắc Kạn là một tỉnh miền núi vùng cao nằm trung tâm nội địa vùng
Đông Bắc. Có tiềm năng lớn về diện tích đất trồng cỏ và có khí hậu tương đối
phù hợp với điều kiện sống của đà điểu nên số lượng đàn đà điểu của Bắc Kạn
hậu, sinh thái khác nhau. Nhiệt độ môi trường biến thiên từ -30
0
C đến 40
0
C
đều không có ảnh hưởng đến chúng.
Đà điểu trưởng thành con trống đứng cao 2,1 - 2,75 m, nặng 120 - 145
kg có khi nặng tới 150 kg; con mái cao 1,75 - 1,90m nặng 95 - 125 kg. Kích
thước lớn là kết quả của sự tiến hóa để phù hợp với tính không biết bay khi ở
môi trường đồng cỏ Châu Phi có nhiều động vật ăn thịt săn đuổi.
Đôi chân dài và chắc chắn cho phép đà điểu chạy nhanh nhất trong thế
giới loài chim thậm chí đánh bại cả động vật có vú vì có thể đạt tới tốc độ 50 -
60 km/h trong vòng 30 phút, ở đoạn nước rút, có thể vọt tốc độ đến 70 km/h
với sải dài 3,3 - 3,5m. Trong điều kiện hoang dã, đà điểu thành thục về tính từ
13
3 - 4 năm tuổi, khi đã thuần hóa hoặc nuôi tại trang trại tuổi thành thục sớm
lúc 2 - 3 năm, đà điểu mái thành thục sớm hơn trống từ 5 - 6 tháng tuổi.
Từ mới nở tới 01 năm tuổi, đà điểu trống và mái đều có màu lông xám
như nhau. Từ 10 - 11 tháng tuổi trở đi, màu sắc lông thay đổi theo tính biệt, con
trống biểu hiện màu lông đen tuyền ở thân còn lông cánh và lông đuôi màu trắng
kèm theo sự rực rỡ màu chân và mỏ chuyển thành đỏ tươi. Sự phân biệt rõ tới
mức bằng mắt thường đã nhận thấy chúng từ xa. Con mái thì ngược lại vẫn giữ
nguyên màu xám tro để chúng dễ ẩn mình khi đẻ cũng như khi ấp trứng.
2.2.1.2. Khả năng sản xuất
Theo Nguyễn Thị Hòa (2006) [2], dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng
đến năng suất trứng, tỷ lệ phôi và ấp nở, tuy vậy kết quả nghiên cứu về lĩnh
vực này so với gia cầm vẫn còn vô cùng đơn giản.
Hàm lượng dinh dưỡng trong khẩu phần:
Protein (%) 16,0 - 16,5
Năng luợng ME (kcal) 2600 - 2650
Đà điểu mái đẻ theo từng đợt được 8 - 10 quả trứng thì nghỉ sau 7 - 10
ngày mới tiếp tục đẻ lại. Con đẻ ít có thể gián đoạn 1 - 2 tháng.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng trứng
Do nhu cầu con giống trên thế giới nên nâng cao sản lượng trứng đà điểu
có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở nhiều nước, người chăn nuôi hướng tới
vừa nâng cao số lượng trứng của một con mái vừa giảm độ tuổi thành thục sinh
dục. Trên thế giới đã có rất nhiều tiến bộ về lĩnh vực này. Kết quả chọn lọc được
tiến hành trên 100 năm qua cho thấy con mái bắt đầu đẻ trong điều kiện trang trại
vào năm tuổi thứ 2 - 2,5 trong khi con trống đến tuổi thành thục vào khoảng 3
năm. Tuy nhiên, đã có nhiều trường hợp đà điểu đẻ trứng đầu vào tháng tuổi thứ
16 - 18.
Trong tự nhiên, đà điểu đến tuổi thành thục vào năm thứ 4 - 5. Vì thế,
thuần hóa đã giảm được tuổi thành thục sinh dục. Hơn thế nữa, đà điểu trang
trại đã đẻ được nhiều trứng hơn so với nhu cầu duy trì giống nòi. Trong tự
nhiên, một ổ trứng đà điểu thường có 12 - 18 quả (từ con mái chính). Trong
trang trại, những con mái đẻ từ 40 - 100 quả và đôi khi còn nhiều hơn thế. Một
số con mái nuôi trong các trang trại của Mỹ thậm chí còn đẻ tới 130 quả/mùa
15
cho dù hầu hết chỉ là 40 - 60. Số lượng trứng cao nhất của một con mái/mùa
được ghi nhận là ở Hoa Kỳ với 167 quả.
Sự khác biệt lớn trong số lượng trứng đà điểu là một ảnh hưởng của
nhiều yếu tố di truyền và môi trường. Một trong số đó là độ tuổi. Con mái non
trong mùa sinh sản đầu tiên đẻ 10 - 20 quả với khối lượng 1.100 - 1.600 g. Số
lượng và khối lượng trứng tăng lên trong các mùa tiếp theo. Trong mùa sinh
sản thứ 2, khối lượng trứng đạt trung bình khoảng 1.500 g. Các loài phụ đà
điểu cũng rất quan trọng. Black Châu Phi được biết đến có năng suất trứng cao
nhất. Hơn thế, loài này còn đến tuổi thành thục sớm hơn cả Blue Neck hoặc
Red Neck.
Theo Đặng Quang Huy (2001) [3], điều kiện khí hậu cũng là yếu tố quan
trọng và người ta cho rằng kiểu khí hậu tối ưu đối với đà điểu là ở Nam Phi
2
.
+ Cấu trúc trứng
Cấu trúc đà điểu tương tự như của gia cầm:
Cấu trúc trứng đà điểu
Nguồn: Reiner G, Dorau H.P, Drapo V (1995) [21]
AS - khoang khí; Bl - bì phôi; C - dây chằng; ISM - màng vỏ trong; ITW -
lòng trắng mỏng trong; OSM - màng vỏ ngoài; OTW - lòng trắng mỏng
ngoài; S - vỏ; TW - lòng trắng dầy; VM - màng noãn hoàng; Y - lòng đỏ
+ Chất lượng trứng
Chất lượng trứng tốt là tiền đề cho tỷ lệ nở và nuôi sống cao. Một quả
trứng chất lượng cao chỉ được đẻ ra khi con mái đang ở trong điều kiện và
tình trạng tốt nhất và được giao phối cùng con đực cũng đang trong tình trạng