1
B GIO DC V O TO
HC VIN QUN Lí GIO DC
_________________
______________
NGUYN TH THU HNG
QUảN Lý HOạT ĐộNG BồI DƯỡNG CHứC DANH BIÊN TậP VIÊN,
PHóNG VIÊN TạI TRƯờNG ĐàO TạO, BồI DƯỡNG CáN Bộ
QUảN Lý THÔNG TIN Và TRUYềN THÔNG
CHUYấN NGNH: QUN Lí GIO DC
M S: 60 14 01 01
LUN VN THC S QUN Lí GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: GS.TSKH. NGUYN MNH HNG
H NI - 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Học
viện Quản lý giáo dục, các Giáo sư - Phó giáo sư, các Tiến sĩ khoa học,Tiến
sĩ, các thầy cô giáo của Học viện Quản lý Giáo dục đã tận tình giảng dạy, đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất giúp đỡ lớp cao học khoá K7C
chuyên ngành QLGD trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường, các phòng, đơn vị, khoa chức
năng và giảng viên Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền
thông đã cung cấp các tư liệu trong quá trình khảo sát, điều tra giúp tác giả
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, tác giả cảm ơn và bày tỏ lòng nhớ ơn sâu sắc đến thầy
GS.TSKH. Nguyễn Mạnh Hùng đã mang lại cho tác giả những tri thức, những
kinh nghiệm quý báu về phương pháp tư duy, các kiến thức khoa học về quản
lý, đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn
đúng thời hạn.
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã chuyển từ xã hội công nghiệp
sang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Trong xu
thế đó, Chính phủ Việt Nam đã có quan điểm và định hướng về phát triển các
lĩnh vực thông tin và truyền thông. Trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác
phát triển nguồn nhân lực nói chung cũng như nguồn nhân lực thông tin và
truyền thông nói riêng. Đây là yếu tố then chốt có ý nghĩAa quyết định đối
với việc phát triển, ứng dụng thông tin và truyền thông vào mọi mặt của đời
sống xã hội. Nhưng phát triển nguồn nhân lực thông tin và truyền thông phải
đảm bảo chất lượng, đồng bộ, chuyển dịch nhanh về cơ cấu theo hướng tăng
nhanh tỷ lệ nguồn nhân lực có trình độ cao, tăng cường năng lực công nghệ
thông tin và truyền thông quốc gia.
Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông
là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông (sau đây gọi tắt
là Trường); Trường thực hiện chức năng: tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức tham gia quản lý, hoạt động trong lĩnh vực thông tin và
truyền thông; tập huấn, phổ biến kiến thức pháp luật về lĩnh vực thông tin và
truyền thông; tổ chức nghiên cứu và ứng dụng các cơ chế chính sách, tiến bộ
kỹ thuật, khoa học công nghệ, khoa học quản lý trong các lĩnh vực (báo chí;
xuất bản; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin,
điện tử; phát thanh và truyền hình; thông tấn, thông tin đối ngoại; thông tin cơ
sở hạ tầng ) thuộc chức năng quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông do
Chính phủ qui định.
Đối tượng học viên của Trường là các cán bộ công chức, viên chức đã
có trình độ chuyên môn. Do nhu cầu của công việc và lĩnh vực đang công tác
nên họ cần được học các lớp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ lý luận
7
chính trị, kỹ năng lãnh đạo, quản lý nhà nước và kiến thức chuyên môn
dưỡng nâng cao kiến thức một cách bài bản. 57% còn lại không được đào tạo
chính quy về nghề báo. Điểm yếu kém rõ nhất của đội ngũ phóng viên, biên
tập viên, phát thanh viên, đạo diễn, họa sỹ, kỹ thuật viên các báo, đài, tạp chí
là nhận thức, tư duy chính trị của khá nhiều người còn đơn giản, sơ sài, bản
lĩnh chính trị còn chưa vững vàng, ngại học chính trị, ít am tường về luật
pháp; một cố người coi nghề báo chỉ để lập thân thuần túy như các nghề khác.
Đối với lĩnh vực xuất bản: đến nay, cả nước có lao động toàn ngành là
5.497 người, trong đó: Trình độ trên đại học: 306 người; trình độ đại học:
2.162 người; Số lượng biên tập viên: 1.233 người, trong đó: trình độ trên đại
học: 215 người; trình độ đại học: 1.018 người; có 55 nhà xuất bản, trong đó
có một nhà xuất bản thuộc diện Ban bí thư quản lý, 25 nhà xuất bản thuộc các
bộ ngành; 10 nhà xuất bản trực thuộc các tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức
chính trị - xã hội - nghề nghiệp; 7 nhà xuất bản trực thuộc các trườmg đại học;
11 nhà xuất bản trực thuộc chính quyền các tỉnh, thành phố; 01 nhà xuất bản
trực thuộc doanh nghiệp.
Với đánh giá của các chuyên gia trong ngành thì đội ngũ lao động này
mới chỉ đáp ứng được yêu cầu hoạt động của các nhà xuất bản ở mức độ trung
bình. Đặc biệt, đội ngũ biên tập viên còn thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp
vụ, trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị do hụt hẫng, thiếu vắng những biên
tập viên đầu đàn có thực lực, mặc dù chưa bao giờ xét về bằng cấp lại có tỷ lệ
đại học và trên đại học cao như hiện nay. 98% biên tập viên các nhà xuất bản
có trình độ đại học, trên đại học, nhưng chưa đầy 40% trong số đó được đào
tạo đúng chuyên ngành xuất bản. Phần lớn cán bộ cấp phòng, ban và đội ngũ
biên tập viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng đúng mức về chuyên môn.
9
Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáo
dục, từ thực tiễn quản lý công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nói
chung và bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên nói riêng còn nhiều
tồn tại, tôi nhận thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu thực trạng quản lý công
tác bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý; quản lý hoạt động bồi dưỡng cán
bộ.
Nghiên cứu thực trạng hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên,
Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và
Truyền thông hiện nay.
Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chức Biên tập viên,
Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và
Truyền thông.
5. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng
viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền
thông, Bộ Thông tin và Truyền thông hiện nay còn một số hạn chế làm ảnh
hưởng đến chất lượng bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên.
Vì vậy, nếu đề xuất và thực thi được những biện pháp quản lý hoạt
động bồi dưỡng có cơ sở khoa học, phù hợp với đặc điểm điều kiện Nhà
trường thì chất lượng bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại
Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông, Bộ
Thông tin và Truyền thông sẽ được nâng cao.
11
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên,
Phóng viên theo chương trình và nhu cầu thực tế của đội ngũ cán bộ biên tập
viên, phóng viên trong lĩnh vực Báo chí, Xuất bản. Từ đó sẽ đưa ra các biện
pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng của công tác này.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên môn của những nhà khoa học đang công tác
tại các đơn vị như: Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Thông tin và Truyền thông; Cục
Báo chí; Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử; Cục Xuất
Chương 3. Biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bồi dưỡng
chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ
quản lý Thông tin và Truyền thông.
13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG
TRONG CÁC TRƯỜNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Kinh tế tri thức là mục tiêu then chốt trong chiến lược phát triển kinh
tế, xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi vì tri thức là một sức mạnh
kinh tế tạo ra tăng trưởng, phát triển và thay đổi đối với xã hội. Tri thức được
biểu hiện bởi các yếu tố chính là con người và khoa học công nghệ. Trong bối
cảnh hiện nay khoa học công nghệ được nghiên cứu và phát triển theo nhiều
hướng, ngành và lĩnh vực khác nhau, trong đó có các lĩnh vực của thông tin
và truyền thông được phát triển và lan truyền rộng rãi trên toàn thế giới.
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã chuyển từ xã hội công nghiệp
sang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Có thể khái
quát thông tin và truyền thông bao gồm các lĩnh vực chính là: báo chí; xuất
bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng;
tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình.
Trong xu thế đó, Chính phủ Việt Nam đã có quan điểm và định hướng về phát
triển thông tin và truyền thông như sau:
- Công nghệ thông tin và truyền thông là ngành kinh tế mũi nhọn, được
Nhà nước ưu tiên, quan tâm hỗ trợ và khuyến khích phát triển. Phát triển công
nghệ thông tin và truyền thông góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế,
thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác cùng phát triển, tăng cường năng lực quốc
gia trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Thông tin và truyền thông là công cụ hàng đầu để thực hiện mục tiêu
thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông
Xã hội ngày càng văn minh, con người càng phát triển thì nhu cầu thông tin
càng cao. Vai trò chi phối thông tin là một trong những tiêu chí đánh giá sự
phát triển của xã hội.
Vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh trong quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, tạo điều kiện
cho báo chí xuất bản phát triển. Hiện nay, việc nắm vững đường lối chính
sách của Đảng và Nhà nước ta đối với báo chí, xuất bản là yêu cầu khách
quan và rất cần thiết nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân,
tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước va hội nhập quốc
tế vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Công tác báo chí là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bộ máy hoạt
động của Đảng ta, là yếu tố cầu thành hoạt động tư tưởng, lý luận. Không chỉ
là yếu tố cấu thành hữu cơ, báo chí là vũ khí xung kích trên mặt trận tư tưởng,
lý luận. Báo chí có vai trò quan trọng đối với công tác tư tưởng, lý luận và tổ
chức. Quan điểm này đã được thể hiện xuyên suốt trong hoạt động của Mác-
Ănghen, Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như trong lịch sử đấu tranh
cách mạng của Đảng ta. Báo chí là bộ phận hữu cơ và đặt dưới sự lãnh đạo
toàn diện và trực tiếp của Đảng. Là người sáng lập ra báo chí, xuất bản cách
mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định báo chí là một bộ phận
của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén của Đảng và Nhà nước để góp
phần “Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho
độc lâp dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Báo chí thực chất là hoạt động chính trị,
thông tin trên báo chí quan trọng nhất là thông tin chính trị. Để đảm bảo tính
tư tương, tính đảng của báo chí thì trong đó phải thể hiện được tính chiến đấu,
tính giáo dục và tính quần chúng của báo chí. Báo chí, xuất bản là lĩnh vực
16
đặc biệt quan trọng trong tử tưởng vì đều gắn bó chặt chẽ với hiện thực đời
sống, cùng coi thực tiễn là cái gốc, là tiêu chuẩn, thước đo đánh giá chất
lượng, hiệu quả hoạt động của mình, chi phối tác động đến đời sống xã hội
79-10-KHKT-RD của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin
và Truyền thông đã cho thấy thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng của
Ngành Thông tin và Truyền thông trong thời gian trước năm 2010, và đưa ra
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý thông tin và truyền thông giai
đoạn 2010 – 2015 cho Bộ Thông tin và Truyền thông.
- Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020( Ban hành kèm theo Quyết
định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ) với mục tiêu
tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục được đổi mới căn bản và toàn diện theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế;
chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện. “Kế hoạch hành động
quốc gia giáo dục vì sự phát triển bền vững Việt Nam” (2010-2014) tập trung
đẩy mạnh các sáng kiến và chương trình giáo dục phát triển bền vững, huy
động thêm nguồn lực để biến nhận thức thành hành động, tạo ra sự thay đổi
trong lối sống và cùng chung tay xây dựng một tương lai bền vững. Đây là
các văn bản vừa mang tính định hướng cao, vừa là yếu tố pháp lệnh bắt buộc
mọi cơ quan giáo dục phải thực hiện. Trong chiến lược dài hạn (10 năm)
chúng ta phải xây dựng các kế hoạch trung hạn và ngắn hạn để thực hiện khả
thi các bước trong lộ trình phát triển, đạt được mục tiêu giáo dục.
- Đề tài luận văn thạc sỹ “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng tại
Trường đào tạo cán bộ lê Hồng Phong thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị
Diệu Hà, năm 2013. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và đưa ra được những biện
18
pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc quản lý về hoạt động bồi dưỡng tại
Trường đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong của thành phố Hà Nội.
Hầu hết các tác giả của các công trình nghiên cứu đều là những sản
phẩm có giá trị mang tính lý luận cao, đã đưa ra cơ sở lý luận quản lý, về các
biện pháp quản lý hoạt động giáo dục. Việc nghiên cứu của các công trình đều
nhằm thực hiện mục đích cuối cùng là làm thế nào để đưa giáo dục nói chung
và công tác bồi dưỡng ở nước ta ngày một tốt hơn.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thông tin và truyền thông
1.2.1. Quản lý
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học
suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu.
Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ,
nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc. Như vậy, có bao
nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về
quản lý.
Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểu
nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lý luận và nghiên cứu quản lý
học. Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì
hay phụ trách một công việc nào đó.
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ,
nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thiacsh, lý giải khác nhau. Cùng
với sự phát triển của phương thức xã hội hóa sản xuất và sự mở rộng trong
nhân thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm
quản lý càng trở nên rõ rệt.
20
Quản lý theo định nghĩa của các trường phái quản lý học
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả
trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho
đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ
thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý
lại càng phong phú. Các trường phái
quản lý học đã đưa ra những định
nghĩa về quản lý như sau:
- Tailor: "Làm quản lý là bạn
phải biết rõ: muốn người khác làm
việc gì và hãy chú ý đến cách tốt
nhất, kinh tế nhất mà họ làm " .
lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác
định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có 3 yếu tố trên nghĩa là có được
điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Đồng thời cần chú ý
rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó
cần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó.
Trong một tập thể lao động hay một tổ chức thì không thể thiếu yếu tố
quản lý, như K.Mác đã từng nói: Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến
một sự chỉ đạo để điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những
chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với
sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Như vậy, quản lý đã trở thành
22
một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và nó liên
quan tới mọi người.
Nhìn chung, quản lý có liên quan tới việc đạt được các mục tiêu của tổ
chức. Quản lý có nghĩa là lên kết hoạch, tổ chức trao đổi, kiểm tra và đánh
giá; là giải quyết các xung đột trong quá trình thực hiện nhằm đạt mục tiêu.
Quản lý còn là tác động tương hỗ của chủ thể và đối tượng quản lý. Để duy trì
được năng suất người lao động, các điều kiện làm việc tối ưu, tận dụng tối đa
các nguồn lực; thông qua các quy trình, kỹ thuật, công đoạn quản lý nhằm
hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức; đồng thời quản lý cũng bao
gồm cả việc dự đoán các vấn đề và giải quyết được các vấn đề đó.
Có thể hiểu đơn giản: Quản lý là sự tác động có ý thức thông qua kế
hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã
hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí
của người quản lý và phù hợp với điều kiện khách quan.
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, xuất bản cũng như bất kỳ
dạng quản lý công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tổ
chức cao, được điều chỉnh bằng pháp luật, vừa mang tính phổ biến, vừa mang
tính đặc thù quản lý tư tưởng văn hóa.
hóa (Planing); Tổ chức (Organizing); Đảm bảo nhân lực (Staffing); Điều hành
(Directing) và Phối hợp (Coordinating). Sau này trong khoa học quản lý các
chức năng quản lý được nêu mỗi lúc, mỗi nơi có khác nhau nhưng có thể nêu
chung lại như sau: Lập kế hoạch; Tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ (Tổ
chức); Điều hành – Phối hợp (Điều phối); Kiểm tra (Kiểm soát). Trong đó:
- Chức năng lập kế hoạch: – nền tảng của quản lý đó là việc xây dựng
các định hướng và đưa ra quyết định tổ chức thực hiện trong thời gian nhất
24
định của tổ chức. Chức năng kế hoạch bao gồm việc xác định sứ mệnh, dự
báo tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập thông tin về thực trạng của tổ
chức, từ đó xác định mục tiêu dựa trên việc tính toán các nguồn lực, các giải
pháp với mục đích là lựa chọn một đường lối hành động mà một tổ chức nào
đó và một bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ
chức đã đề ra. Nói cách khác “lập kế hoạch hoạt động afl quá trình nghiên
cứu, xem xét, tính toán, cân nhắc, lựa chọn trước làm gì với quy mô cụ thể, sử
dụng những gì với mức độ tiến bộ cụ thể, ở đâu cụ thể, vào lúc nào cụ thể,
bằng phương cách nào cụ thể, người chủ trì cụ thể, tổng kinh phí à lấy từ đâu
cụ thể. Đây là quá trình xác định mục tiêu, xác định các bước đi để đạt được
mục tiêu.
- Chức năng tổ chức: Thực hiện chức năng tổ chức chủ yếu là thiết kế cơ
cấu tổ chức và cơ cấu nhân lực nhằm tạo ra những đảm bảo, cơ sở cho việc
điều hành thực hiện những gì đã được hoạch định. Nhiều nhà khoa học đã
thống nhất với nhau rằng, chức năng tổ chức bao gồm hai lại công việc chính
đó là: lựa chọn, hình thành và không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản
lý; Xác định và không ngừng nâng cao chất lượng của cơ cấu nhân lực.
- Chức năng điều phối: Điều phối là cho vận hành, phối hợp tất cả các
hoạt động bộ phận trong tổ chức đã được thiết kế nhằm thực hiện những gì đã
hoạch định. Trong chức năng này có nội dung sau: Lập kế hoạch tiến độ; Giao
nhiệm vụ cụ thể cho các bộ phận, cá nhân; Đảm bảo điều kiện vật chất cần
thiết cho các bộ phận, cá nhân thực hiện, hoàn thành các công việc; Hướng
liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung, phối hợp để tạo nên sự kết nối trong quản
lý theo chiều hướng phát triển. Và xuyên suốt, thông tin luôn là yếu tốt quan
trọng không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở