BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ MỸ CHI
QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THANH PHONG
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương
mại cổ phần Công thương Việt Nam” là công trình nghiên cứu của tôi. Luận văn
này là công trình nghiên cứu độc lập, các số liệu trong luận văn được thu thập từ
thực tế, có nguồn gốc rõ ràng và được xử lý trung thực và khách quan.
TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Trần Thị Mỹ Chi
MỤC LỤC
1.2.4.2.Trạng thái thanh khoản ròng (NLP) 17
1.3. Quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại 17
1.3.1.Khái niệm về quản trị rủi ro thanh khoản 18
1.3.2. Quy trình quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại 18
1.3.3. Biện pháp quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại 19
1.3.3.1. Biện pháp quản trị thanh khoản dựa vào tài sản “Có” 19
1.3.3.2. Biện pháp quản trị thanh khoản dựa vào tài sản “Nợ” 21
1.3.3.3. Biện pháp cân đối giữa tài sản “Có” và tài sản “Nợ” 21
1.3.4. Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương
mại 22
1.3.4.1. Niềm tin của công chúng 22
1.3.4.2.Chi phí vay mượn từ các nguồn bên ngoài 23
1.3.4.3.Các chỉ tiêu tài chính 23
1.4. Các quy định về thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản được để cập
trong hiệp ước Basel 25
1.4.1. Hiệp ước Basel I 25
1.4.2. Hiệp ước Basel II 26
1.4.3. Hiệp ước Basel III 27
1.5. Kinh nghiệm quản trị rủi ro thanh khoản và bài học cho ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam 28
1.5.1.Kinh nghiệm của một số ngân hàng về quản trị rủi ro thanh khoản 28
1.5.1.1.Kinh nghiệm từ ngân hàng TMCP Sumitomo Mitsui Nhật Bản (SMBC) 28
1.5.1.2.Kinh nghiệm từ ngân hàng Barings ở Anh 29
1.5.1.3.Kinh nghiệm quản trị rủi ro thanh khoản tại Vietcombank 30
1.5.2.Bài học đối với ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam về quản trị rủi ro
thanh khoản 30
Kết luận chương 1 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 33
thương Việt Nam 62
2.3.4.1. Kết quả đạt được 62
2.3.4.2. Hạn chế của việc quản trị thanh khoản và nguyên nhân 66
Kết luận chương 2 68
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH
KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM 69
3.1. Định hướng của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam về quản trị
rủi ro thanh khoản 69
3.1.1. Định hướng chung cho toàn hệ thống năm 2020 69
3.1.2. Định hướng cho công tác quản trị rủi ro thanh khoản đến năm 2020 71
3.2. Giải pháp tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam 72
3.2.1. Tăng cường quản trị thanh khoản bằng cách đẩy mạnh hoạt động cua công
ty con – công ty Quản lý và Khai thác tài sản 72
3.2.2. Xử lý và kiểm soát việc gia tang nợ xấu trong quản trị thanh khoản 73
3.2.3. Kiểm soát sự ổn định của nguồn vốn để tăng khả năng thanh khoản cho
ngân hang 74
3.2.3.1. Đối với nguồn tiền gửi 74
3.2.3.2. Đối với việc phát hành giấy tờ có giá 74
3.2.4. Nâng cao hiệu quả quản trị thanh khoản bằng cách cân đối kỳ hạn Tài sản
Nợ và Tài sản Có, đa dạng hóa danh mục tài sản Có 74
3.2.5. Hoàn thiện mô hình điều chuyển vốn nội bộ để nâng cao tính thanh khoản
cho nguồn vốn 75
3.2.6. Tăng cường công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô 76
3.2.7. Xây dựng hệ thống thông tin an toàn và hiệu quả để đo lường và giám sát
rủi ro thanh khoản 76
3.3. Kiến nghị về việc quản trị rủi ro thanh khoản và giải pháp quản trị rủi
ro thanh khoản tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 77
MHB : Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
NH : Ngân hàng
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTW : Ngân hàng trung ương
NLP : Trạng thái thanh khoản ròng
QL CĐV : Quản lý cân đối vốn
QLRR : Quản lý rủi ro
QLRRTK : Quản lý rủi ro thanh khoản
QTDNDTW : Quỹ tín dụng nhân dân trung ương
ROA : Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
ROE : Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
RRTK : Rủi ro thanh khoản
Sacombank : Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín
SMBC : Ngân hàng thương mại cổ phần Sumitomo Nhật Bản
TCTD : Tổ chức tín dụng
Techcombank : Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TSBĐ : Tài sản bảo đảm
TMCP : Thương mại cổ phần
Vietinbank : Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 2.1. Tình hình huy động vốn của Vietinbank giai đoạn 2009 – 2013 35
Hình 2.2. Dư nợ tín dụng của Vietinbank giai đoạn 2009 – 2013 36
Hình 2.3. Chỉ tiêu về hệ thống sinh lời Vietinbank giai đoạn 2009 – 2013 39
Hình 2.4. Các ngân hàng TMCP có vốn chủ sở hữu lớn nhất 53
Hình 2.5. Tiền gửi của khách hang 63
Hình 2.6. Chi phí trả lãi 64
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang từng bước phục hồi, thoát khỏi các cuộc
khủng hoảng liên tiếp, không ít bài học đã được chính phủ của các nước rút ra. Các
bài học từ các vấn đề vĩ mô liên quan tới hội nhập, tỷ giá,… đến các vấn đề vi mô xảy
ra trong doanh nghiệp như cơ cấu lại bộ máy quản lý,… đã được các quốc gia trên thế
giới dần dần khắc phục. Một trong những vấn đề còn tồn tại qua hầu hết các cuộc
khủng hoảng là vấn đề thanh khoản. Trong những năm qua, rủi ro thanh khoản được
đề cập khá thường xuyên, đó là mối đe dọa nghiêm trọng đối với lĩnh vực tài chính.
Đặc biệt đối với loại hình doanh nghiệp đặc biệt – Ngân hàng – với hàng hóa đặc biệt
là tiền thì rủi ro thanh khoản lại là một vấn đề nhức nhối.
Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy tài chính của thế giới. Với số lượng
NHCP tương đối lớn, thực trạng vay liên ngân hàng để bù đắp thanh khoản là vấn đề
nổi trội trong thời gian gần đây đưa ra nhiều nguy cơ dẫn đến rủi ro về thanh khoản.
Bên cạnh việc áp dụng các quy định của Basel để phù hợp với tình hình hội nhập, Việt
Nam cũng có các luật lệ quy định riêng nhằm ràng buộc các Ngân hàng thương mại
cổ phần duy trì được tính thanh khoản tốt. Mới đây nhất, Thông tư
02/2013/TT-NHNN được ban hành bởi Ngân hàng nhà nước với những điều khoản
nhằm cải thiện thanh khoản cũng tạo ra nhiều làn sóng tranh luận khá sôi nổi. Với
những điều khoản liên quan tới tính thanh khoản theo thông tư 02/2013/TT-NHNN,
tôi quyết định chọn đề tài: “Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt Nam” với hy vọng có thể giúp Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt Nam phát triển vững vàng trong tương lai.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải quyết ba vấn đề cơ bản sau:
- Tóm lược lý thuyết về thanh khoản, rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh
khoản.
2
- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ
phần công thương Việt Nam. Từ đó đưa ra được các tồn tại là nguyên nhân dẫn đến
rủi ro than khoản.
Dưới góc độ nguồn vốn: Để tạo lập nên các tài sản, ngân hàng tiến hành huy
động vốn, trong đó có các tài sản có tính thanh khoản cao. Ngân hàng huy động
càng nhiều thì khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao. Tuy nhiên, tính thanh
khoản của nguồn vốn cũng được đo bằng thời gian và chi phí khi cần thiết phải mở
rộng nguồn vốn. Cũng như tài sản, thanh khoản của nguồn vốn càng cao khi thời
gian và chi phí càng thấp.
Dưới góc độ ngân hàng: Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp
thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác.
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008), thanh
khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng
các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức.
Như vậy, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một
chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng. Một tài
sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian
chuyển đổi thành tiền nhanh, trong khi đó, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi
chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.
1.1.2. Trạng thái thanh khoản tại ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm trạng thái thanh khoản
4
Cung thanh khoản là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm
các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng như các khoản tiền gửi dự
báo trước, doanh thu từ việc cung cấp các dịch vụ phi tiền gửi, các khoản tín dụng
đã cấp được thu hồi, bán các tài sản đang được sử dụng và kinh doanh, vốn từ việc
vay mượn trên thị trường tiền tệ.
Cầu thanh khoản là các khoản vốn làm giảm ngân quỹ của ngân hàng, là các
nhu cầu vốn cho các hoạt động khác nhau của ngân hàng. Cầu thanh khoản bao gồm
các nhu cầu từ việc rút tiền của khách hàng, thanh toán cho các khoản vay phi tiền
gửi, việc vay vốn của các khách hàng có chất lượng tín dụng cao, các chi phí phát
Thứ ba, trạng thái cân bằng thanh khoản: Khi cung và cầu thanh khoản cân
bằng nhau (nghĩa là NLP=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản. Tuy
nhiên, trường hợp này rất khó xảy ra trên thực tế.
1.2. Rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại
Ngân hàng được xem là một trong các lĩnh vực đối mặt với nhiều rủi ro nhất.
Các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau đều có thể gây
ra tổn thất lớn cho hệ thống ngân hàng thương mại. Rủi ro trong kinh doanh ngân
hàng được hiểu là những biến cố không mong muốn mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự
tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc
phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài
chính nhất định. Một số rủi ro cơ bản trong kinh doanh như rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ
giá hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp.
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi ngân hàng không thu được đầy đủ cả
gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không
đúng kỳ hạn như đã ký kết với ngân hàng trong hợp đồng.
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay đổi
ngoài dự tính.
Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng khi tỷ giá hối đoái
thay đổi vượt quá dự tính của ngân hàng.
6
Rủi ro thanh khoản là rủi ro liên quan đến việc ngân hàng thiếu ngân quỹ
hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và
người đi vay.
Rủi ro tác nghiệp là rủi ro phát sinh do yếu tố con người gây ra trong quá
trình xử lý công việc, do sự yếu kém trong hệ thống công nghệ, thông tin, sự sơ hở
thiếu các quy định của các Ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro đặc trưng và phổ biến trong hoạt động
NHTM. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung
tỷ đồng được đưa ra, các ngân hàng có nguồn lực yếu kém dần dần bị khai trừ hoặc
phải có kế hoạch sáp nhập với các ngân hàng khác có nguồn lực mạnh hơn để thoát
khỏi rủi ro thanh khoản dẫn đến phá sản.
Thứ tư, các thị trường tài chính hoạt động kém hiệu quả, việc quản lý thị
trường liên ngân hàng chưa tốt, các sản phẩm giao dịch trên thị trường tài chính
chưa đa dạng, không tạo tính chủ động cho NH về tìm kiếm vốn hoặc gia tăng lợi
nhuận.
Thứ năm, trình độ quản lý vĩ mô của chính phủ còn yếu kém. Sự điều hành
các công cụ chính sách tiền tệ để đáp ứng mục tiêu chính sách tiền tệ có thể ảnh
hưởng xấu đến kinh doanh ngân hàng, ảnh hưởng đến việc duy trì thanh khoản của
ngân hàng, công tác giám sát không hiệu quả còn chồng chéo, tái cơ cấu ngân hàng
chưa hiệu quả.
Thứ sáu, hệ thống thông tin quản lý của các ngân hàng và các cơ quan quản
lý thông tin như trung tâm quản lý thông tin tín dụng NHNN (CIC) còn yếu kém,
chưa cập nhật kịp thời. Hiện nay cơ sở hạ tầng thông tin cung cấp còn đơn điệu,
thiếu cập nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin của ngân hàng.
Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, điều kiện thông tin không cân
xứng, thiếu chính xác làm cho khách hàng nghi ngờ ngân hàng và rút tiền đi gửi
ngân hàng khác.
Thứ bảy, việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các NHTM, định chế tài
chính khác: nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh. Tuy nhiên, sự cạnh
tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng đặc biệt khi khan hiếm vốn, các NHTM
8
tìm cách kéo khách hàng về ngân hàng mình bằng cách nâng lãi suất lên cao và rất
cao.
1.2.2.2. Nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại
Thứ nhất, hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản kém. Hiện nay, phần lớn
ngân hàng đều tồn tại tình trạng huy động, đi vay vốn ngắn hạn và tuần hoàn để cho
vay thời hạn dài hơn. Vì vậy, nhiều NH phải đối mặt với sự không trùng khớp về kỳ
nhiên, trên thực tế, các NHTM vẫn tìm cách lách luật, vi phạm các quy định này
gây thiệt hại lớn cho NHTM.
Thứ năm, công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ của ngân hàng vẫn còn lỏng
lẻo. Công tác kiểm soát, kiểm toán này do chính các ngân hàng tiến hành tự rà soát.
Khi phát hiện các sai sót sẽ báo cáo cho cấp có thẩm quyền và kiến nghị điều chỉnh
kịp thời, kiểm soát, kiểm toán nội bộ kịp thời thường xuyên sẽ hạn chế được các
loại rủi ro xảy ra kể cả rủi ro thanh khoản. Tuy nhiên, hiện nay các NHTM vẫn còn
lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ này.
Thứ sáu, công tác tuyên truyền của ngân hàng vẫn yếu kém. Các ngân hàng
xem việc công bố thông tin minh bạch là trách nhiệm của mình và quyền lợi của
mình để tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền, vay tiền.
Thứ bảy, thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng còn thấp. Nếu ngân
hàng không mở rộng được thanh toán không dùng tiền mặt thì ngân hàng sẽ không
nhận được khoản tiền đọng lại trong thanh toán với lãi suất rất thấp. Đây là nguồn
vốn giá rẻ mà các ngân hàng cần coi trọng.
Thứ tám, thiếu thanh khoản do rủi ro tín dụng cao. Rủi ro thanh khoản
không tồn tại độc lập mà chịu tác động của các loại rủi ro khác đặc biệt là rủi ro tín
dụng, khi chất lượng tín dụng giảm sút, nợ quá hạn ở mức độ cao, tổn thất tín dụng
dẫn đến giảm nguồn thanh khoản của ngân hàng gây khó khăn cho ngân hàng khi
nhu cầu thanh khoản tăng cao.
1.2.2.3. Nguyên nhân từ phía khách hàng
Thứ nhất, trong hoạt động huy động vốn, khách hàng không trung thành với
ngân hàng, sẵn sàng rút và nộp vào ngân hàng khác có lãi suất cao hơn. Bên cạnh
đó, khi tiếp nhận thông tin trên thị trường, khách hàng không đánh giá được tính
10
chính xác của thông tin, dễ mất lòng tin vào ngân hàng và ồ ạt đến ngân hàng rút
tiền gây khó khăn về thanh khoản cho ngân hàng.
Thứ hai, trong hoạt động cấp tín dụng, khách hàng cố ý sử dụng vốn sai mục
đích hoặc lừa đảo để chiếm đoạt tài sản ngân hàng. Ngoài ra, khi cung cấp thông tin
Bước 2: Tính toán những thay đổi dự tính về cho vay và tiền gửi trong giai
đoạn kế hoạch.
Bước 3: Ước lượng trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng bằng cách so
sánh mức độ thay đổi dự tính trong cho vay và mức thay đổi dự tính trong tiền gửi.
Một công cụ hữu ích là lập bản báo cáo thanh khoản ròng, ghi chép thống kê
tất cả luồng tiền phản ánh nguồn tạo nên thanh khoản và số tiền ngân hàng đã thực
sự sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Phương pháp này có ưu điểm là đưa ra được một báo cáo rõ ràng về thanh
khoản ròng để từ đó có thể dễ dàng điều chỉnh mức dự tính về yêu cầu thanh khoản
mỗi khi ngân hàng có thông tin mới về thanh khoản. Tuy nhiên, phương pháp này bị
bó hẹp trong nội dung về việc cân đối giữa nguồn thanh khoản và sử dụng thanh
khoản và chỉ dự báo được khi lập được bảng báo cáo thống kê chi tiết.
1.2.3.2. Phương pháp cung cầu thanh khoản
Một cách tổng quát, thanh khoản ngân hàng có thể phân tích trong khuôn khổ
cung thanh khoản (LS – Liquidity Supply) và cầu thanh khoản (LD – Liquidity
Demand).
Cung thanh khoản bao gồm: Tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các
TCTD khác, thu nhận tiền gửi từ khách hàng, khách hàng tín dụng hoàn trả các
khoản gốc và lãi, bán các tài sản có của NHTM, vay từ thị trường liên ngân hàng,
thu từ các khoản nợ phải thu khác.
Cầu thanh khoản bao gồm: Hoàn trả tiền gửi cho khách hàng, giải ngân các
khoản tín dụng cho khách hàng, hoàn trả các khoản đi vay, chuyển tiền thanh toán
theo yêu cầu của khách hàng, chi các khoản chi phí hoạt động, chi trả các khoản nộp
Ngân sách Nhà nước (Thuế, phí, lệ phí…), trả cổ tức (NHTM cổ phần), chi trả các
khoản nợ khác.
12
Trạng thái thanh khoản ròng (NLP – Net Liquidity Position) hay còn gọi là
khe hở thanh khoản của NHTM được tính bằng công thức
NLP = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản
thanh khoản thông qua bốn chỉ tiêu tài chính là chỉ số trạng thái tiền mặt, chỉ số
chứng khoán thanh khoản, chỉ số năng lực cho vay và chỉ số LDR.
Chỉ số trạng thái tiền mặt =
Tiền mặt + tiền gửi tại các TCTD khác
x 100%
Tổng tài sản
Về mặt lý thuyết, chỉ số này càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng thanh
toán tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời. Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này trên
thực tế quá cao thì sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống bởi vì các tài
sản tiền mặt hoặc tương đương tiền thường ít đem lại lợi tức cao cho ngân hàng.
Chỉ số chứng khoán thanh khoản =
Chứng khoán thanh khoản
x 100%
Tổng tài sản
Các chứng khoán thanh khoản trên bảng cân đối tài sản bao gồm các chứng
khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán. Nếu chỉ tiêu chứng khoán
thanh khoản càng lớn thì rủi ro thanh khoản mà ngân hàng phải đối mặt càng giảm.
Chỉ số năng lực cho vay =
Dư nợ cho vay
x 100%
Tổng tài sản
Vì tín dụng và cho thuê tài chính được xem là những tài sản ít thanh khoản
nhất, do đó nếu chỉ tiêu “năng lực cho vay” càng lớn thì ngân hàng càng bộc lộ là
kém thanh khoản tuy nhiên lại đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
LDR =
Dư nợ cho vay
x 100%
Tiền gửi khách hàng
Chỉ số này được nhiều nước trên thế giới được sử dụng khá phổ biên. Chỉ