Tính chủ thể của con người trong phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn ở vùng đô thị mới đan phượng, thành phố hà nội - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐÀO THU TRANG
TÍNH CHỦ THỂ CỦA CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở VÙNG ĐÔ THỊ MỚI
ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Vũ Quang Mạnh
Hà Nội, 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội loài người ngày càng phát triển, nhờ có những thành tựu của
khoa học công nghệ con người đã có những bước tiến vượt bậc trong công
cuộc cải biến tự nhiên, xã hội và tư duy. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu
đạt được đã xuất hiện nhiều xu hướng tiêu cực đang ngày một ảnh hưởng
nghiêm trọng tới cuộc sống của con người, đặc biệt là vấn đề suy thoái môi
trường. Những biểu hiện của tình trạng suy thoái môi trường như: tài nguyên
thiên nhiên suy kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng, khủng hoảng
sinh thái toàn cầu… luôn ở tình trạng báo động và là vấn đề bức xúc, mối lo
ngại của toàn xã hội.
Sự phát triển của con người, của sản xuất xã hội và các vấn đề môi
trường kể trên thể hiện mâu thuẫn giữa giữa sản xuất xã hội và môi trường tự
nhiên. Mâu thuẫn này luôn tồn tại trong mọi thời đại nhưng ngày nay nó đã
trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Nguyên nhân là do chúng ta đã phạm sai lầm
trong giải quyết mâu thuẫn. Sự phát triển nếu chỉ nhằm mục đích thỏa mãn
nhu cầu sống của mình và sự phát triển xã hội mà không quan tâm đến tự
nhiên – môi trường sống của con người và xã hội loài người sẽ làm mất cân

nghiệp Đan Phượng, Phương Đình, Liên Hà… Khu đô thị Tân Tây Đô, khu
đô thị mới Tân Lập, khu đô thị sinh thái cao cấp Đan Phượng…). Với những
ưu thế trên, tác giả lựa chọn vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội
làm đối tượng nghiên cứu và thực hiện đề tài “Tính chủ thể của con người
trong sự phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn ở vùng đô thị mới Đan
Phượng, thành phố Hà Nội”.
2
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hệ sinh thái nhân văn là sự tương tác chặt chẽ, cân bằng động giữa ba
yếu tố: tự nhiên, con người và xã hội. Một hệ sinh thái nhân văn bền vững là
cơ sở để con người có điều kiện tồn tại và phát triển tốt nhất. Với vị trí và vai
trò như vậy, vấn đề sinh thái nhân văn và xây dựng hệ sinh thái nhân văn bền
vững được nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu quan tâm.
Ăngghen trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” viết năm 1873 –
1883 và được bổ sung thêm vào những năm 1885 – 1886 đã có nhiều tư tưởng
biện chứng trong nhận thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, chỉ ra
được thực chất của sự điều khiển một cách tự giác các mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên đó là “Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự
nhiên như một kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác. Chúng ta nằm
trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự
nhiên là ở chỗ chúng ta khác với tất cả các sinh vật khác, chúng ta nhận thức
được các quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được quy luật đó một
cách chính xác” [45].
Ở Việt Nam vấn đề sinh thái nhân văn cũng được nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau như: Tác giả Nguyễn Đình Khoa viết
“Môi trường sống và con người” năm 1987 đã đề cập đến mối quan hệ giữa
loài người và môi trường sống ở một số khía cạnh: Sự sử dụng của con người
với các tài nguyên thiên nhiên như năng lượng, khoáng sản, tài nguyên phục
hồi và hệ nông nghiệp; ô nhiễm và bảo vệ môi trường; những vấn đề liên
quan đến dân số - sức khỏe – bệnh tật… [12].

là cách ứng xử của chủ thể – con người đối với khách thể – tự nhiên, tức là
4
chú trọng đến đạo đức sinh thái. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra một số định
hướng góp phần xây dựng đạo đức sinh thái mới cho con người….
Nhìn chung, trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đề
cập và trình bày một cách khái quát và hệ thống thực trạng và các vấn đề của
sinh thái nhân văn. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc
nghiên cứu, lí giải những vấn đề cơ bản của sinh thái nhân văn mà chưa đề
cập một cách trực tiếp đến vấn đề phát huy tính chủ thể của con người trong
xây dựng hệ sinh thái bền vững. Với tính cấp thiết của đề tài và sự thôi thúc
tìm tòi nghiên cứu khoa học, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Tính chủ
thể của con người trong sự phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn ở vùng
đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của mình
nhằm góp phần làm rõ tính chủ thể của con người trong xây dựng hệ sinh thái
nhân văn; đề xuất giải pháp góp phần phát huy tính chủ thể của cộng đồng
dân cư vùng đô thị mới Đan Phượng, thành phố Hà Nội trong việc phát triển
bền vững hệ sinh thái nhân văn của vùng.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu tính chủ thể của con người trong hệ
sinh thái nhân văn trên cơ sở khảo sát cộng đồng dân cư vùng đô thị mới Đan
Phượng, thành phố Hà Nội. Từ các phân tích đó đề tài đề xuất một số giiar
pháp góp phần phát huy tính chủ thể của con người trong việc phát triển bền
vững hệ sinh thái nhân văn ở vùng nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là cấu trúc sinh thái nhân
văn và tính chủ thể của của cộng đồng dân cư vùng đô thị mới Đan Phượng,
thành phố Hà Nội.
4. Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
Để đạt được mục đích đề ra của luận văn, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu trên các luận điểm cơ bản sau:
5

1.1.1. Hệ sinh thái nhân văn
1.1.1.1. Khái niệm hệ sinh thái nhân văn
Hệ sinh thái là một hệ thống bao gồm các sinh vật tác động qua lại với
môi trường bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng nhất định
đa dạng về các loài và các chu trình vật chất. Nó là một hệ chức năng bao
gồm các nhân tố vô sinh và sinh vật luôn luôn tác động tương hỗ với nhau
làm thành một hệ thống thống nhất. Hoạt động của hệ sinh thái tuân theo các
quy luật chung của lý thuyết hệ thống. Nó được xác định như một tập hợp các
đối tượng hoặc các thuộc tính liên kết bằng nhiều mối tương tác và có xu
hướng tự điều chỉnh để tiến tới cân bằng làm cho các thành phần của hệ nằm
trong sự tác động hài hòa và ổn định. Hệ sinh thái được chia thành hệ sinh
thái nhân tạo và hệ sinh thái tự nhiên trong đó, hệ sinh thái nhân văn là một
dạng của hệ sinh thái nhân tạo.
Hệ sinh thái nhân văn có thể hiểu là hệ sinh thái chịu ảnh hưởng trực
tiếp hay gián tiếp của loài người. Nó “là một hệ sinh thái bao gồm các hệ sinh
thái nông nghiệp, công nghiệp; hệ sinh thái vùng núi, đại dương, thảo nguyên,
vùng cực, vũ trụ… Như vậy, tính chất của hệ sinh thái nhân văn là nó gắn liền
với sự có mặt, với hoạt động của loài người và phụ thuộc vào đặc điểm của
mỗi vùng địa lý cụ thể” [22, tr. 175].
Xét về bản chất, hệ sinh thái nhân văn là một kiểu hệ thống đặc biệt
được cấu tạo từ các hệ xã hội và hệ sinh thái, giữa các hệ này có mối quan hệ
tác động qua lại lẫn nhau dựa trên nguyên tắc quan hệ có tính hệ thống giữa
xã hội loài người và tự nhiên. Hệ sinh thái là đối tượng nghiên cứu chính của
sinh học, hệ xã hội là đối tượng nghiên cứu chính của các ngành khoa học xã
hội. Trong hệ sinh thái nhân văn có sự kết hợp phức tạp của một tập hợp các
yếu tố nhân văn (kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tâm lý…) và các yếu tố
7
sinh học – vật lí của môi trường. Tiếp cận hệ sinh thái nhân văn là tiếp cận
đồng thời cả hai hệ trong quá trình chúng tương tác với nhau và thông qua đó
tự tổ chức, sắp xếp thành một thể thống nhất. Như vậy, thực chất “hệ sinh thái

riêng. Nhìn tổng thể, hiện nay không một hệ sinh thái nào lại không chịu tác
động ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp của loài người, toàn bộ trái đất là một phức
hệ sinh thái nhân văn khổng lồ luôn chịu tác động của loài người. Điều đó thể
hiện vai trò quyết định của loài người trong sự hình thành và phát triển của các
hệ sinh thái nhân văn.
Trong hệ sinh thái nhân văn, quần thể người được gọi là quần thể nhân
văn và theo đó môi trường sống của con người cũng được gọi là môi trường
sinh thái nhân văn. Đối với con người, môi trường sinh thái nhân văn là tổng
hòa tất cả các yếu tố vô cơ và hữu cơ, tự nhiên và xã hội, liên quan đến sự
sống của con người và liên quan đến sự tồn tại và phát triển của xã hội. Con
người là hệ thống vật chất sống, tồn tại như một cơ thể sống hoàn chỉnh trong
môi trường tự nhiên giống như các loài sinh vật khác. Song con người không
chỉ tồn tại trong môi trường tự nhiên mà còn tồn tại trong những mối quan hệ
tác động qua lại lẫn nhau giữa người với người trong quá trình sản xuất gọi là
môi trường xã hội. Sự tương tác giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội tạo thành môi trường sinh thái nhân văn. Do đó, môi trường sinh thái nhân
văn chính là môi trường sống của con người. Ở đó, con người vừa đóng vai
trò là một loài sinh học, vừa đóng vai trò là thực thể xã hội. Như vậy, trong
quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người đã tạo ra một môi trường
sống mới – môi trường xã hội, khác về chất với môi trường tự nhiên, song sự
sống của con người và sự tồn tại, phát triển của xã hội không thể tách rời khỏi
môi trường tự nhiên. “Nếu theo cách hiểu truyền thống, môi trường sinh học
9
là tập hợp toàn bộ những vấn đề có liên quan đến sự tác động qua lại giữa thế
giới sinh vật tự nhiên trong đó bao gồm con người, với môi trường sống thì
vấn đề sinh thái nhân văn lại bao gồm tất cả các vấn đề có liên quan đến mối
quan hệ tương tác, giữa xã hội con người với tư cách là một hệ thống sống với
môi trường xung quanh” [22, tr. 175]. Như vậy, xét về mặt cấu trúc hệ sinh
thái nhân văn là một hệ thống thống nhất bao hàm sự tương tác chặt chẽ và
cân bằng động giữa ba nhóm yếu tố tự nhiên, con người và xã hội. Trong đó,

Về đặc điểm của hệ sinh thái đô thị, tác giả Vũ Quang Mạnh và tác
giả Hoàng Duy Chúc đã cho chúng ta tiếp cận một cách khá cơ bản. Theo
tác giả, “nhìn các thành phố, các đô thị là một hệ sinh thái, với ý nghĩa
chúng được con người xây dựng và con người là thành phần ưu thế của
loại hệ sinh thái này.
Con người sống trong các khu đô thị, thành phố dường như độc lập
hoàn toàn với thiên nhiên và điều kiện môi trường xung quanh. Trong thành
phố ta gặp các công trình: nhà cửa, đường sá, phương tiện giao thông, ánh
sáng và nguồn nước nhân tạo. Trong từng căn hộ sống con người đã chế ngự
được thời tiết, luôn đảm bảo có nhiệt độ tối ưu cho hoạt động sống của con
người. Con người trong thành phố bị tách khỏi cơ sở thiên nhiên của họ.
Thành phố có rất ít sinh vật sống tự nhiên, bởi vì điều kiện sinh thái
quá nhân tạo và chỉ thích hợp cho sự sống của con người. Chó mèo do người
nuôi và chó mèo hoang dại cũng gây ra một số phiền phức cho con người.
Gián và chuột là những động vật hoang, có vai trò như những “véctơ” mang
bệnh cho người. Trong thành phần tự nhiên cũng có rất ít cây cỏ và chúng
thường được trồng nhân tạo trong các công viên.
11
Dân thành phố ít có dịp tiếp xúc với môi trường thiên nhiên, với các
sinh vật sống và với cả thế giới vô sinh. Họ chỉ tiếp xúc con người với nhau,
với nhà cửa, giao thông và với công việc.
Hệ sinh thái đô thị luôn cần cây xanh để làm giảm nhiệt độ, làm sạch
không khí, làm dịu tiếng ồn. Nhưng ngay cả khi có nhiều cây xanh, thành phố
vẫn là một hệ sinh thái không tự duy trì được. Nó luôn cần được cung cấp
lương thực, tài nguyên và năng lượng từ các môi trường xung quanh và giải
phóng các loại phế thải ra môi trường bên ngoài.
Thành phố cần có nguồn vào là nguyên vật liệu và năng lượng. Nguyên
vật liệu là tất cả các vật chất được cấu tạo từ các thành phần như các kim loại,
hay nhiều thành phần như gỗ. Các vật liệu còn có thịt, lương thực, áo quần…
Loại nguồn vào thứ hai là năng lượng. Năng lượng ở đây có thể kể như

hệ sinh thái đô thị cần đánh giá đúng mức vai trò của hoạt động của con người
tác động vào môi trường sinh thái theo những nguyên lí của sinh thái học.
1.1.2. Phát triển bền vững
Xã hội ngày càng phát triển, loài người hiện nay đã có những bước tiến
vượt bậc trong công cuộc cải biến giới tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu tồn
tại và phát triển của mình. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, loài người
đã và đang phải đứng trước các vấn đề tiêu cực của xã hội và đặc biệt là nguy
cơ mất cân bằng sinh thái. Thực trạng đó là biểu hiện của mâu thuẫn giữa sự
phát triển của sản xuất xã hội với môi trường tự nhiên và yêu cầu bức thiết đặt
ra là con người cần phải nhìn nhận và đánh giá lại mục tiêu, cách thức phát
triển cho phù hợp. Đó là một trong những cơ sở quan trọng dẫn tới sự ra đời
của quan điểm về phát triển bền vững.
13
1.1.2.1. Khái niệm phát triển bền vững
Thuật ngữ phát triển bền vững (Sustainble Development) được Hiệp
hội Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên nêu lần đầu tiên
năm 1980. Nhưng phải đến năm 1987 định nghĩa về phát triển bền vững mới
được Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới của Liên hiệp quốc chính thức
nêu lên trong báo cáo Tương lai chung của chúng ta (1987). Theo đó: “Phát
triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại
nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
[44, tr. 43]. Qua định nghĩa này chúng ta thấy phát triển bền vững không chỉ ở
vấn đề sinh thái mà còn bao hàm cả các vấn đề xã hội. Ngoài yêu cầu giữ gìn,
bảo vệ tự nhiên, duy trì mối quan hệ hài hòa giữa con người với tự nhiên, phát
triển bền vững còn đặc biệt chú ý tới các vấn đề xã hội. Nhìn chung, nó quan
tâm tới yêu cầu phát triển xã hội một cách toàn diện.
Nội hàm của khái niệm phát triển bền vững được Liên hiệp Quốc tái
khẳng định và được bổ sung đầy đủ tại Hội nghị Rio 1992, Hội nghị
Johannesburg 2002 và Hội nghị Rio+20 (6/2012). Tại các Hội nghị này, khái
niệm phát triển bền vững được mở rộng và cụ thể hóa hơn. Các vấn đề về dân

đoạn 2011 – 2020 cũng đã được vạch rõ. Cụ thể:
Quan điểm về phát triển bền vững giai đoạn 2011 – 2020 được xác định:
“Con người là trung tâm của phát triển bền vững. Phát huy tối đa nhân
tố con người với vai trò là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát
triển bền vững; đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần
của mọi tầng lớp nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội
nhập quốc tế để phát triển bền vững đất nước.
15
Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất
nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển
xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật
tự an toàn xã hội.
Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ
hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận những nguồn lực chung và được
tham gia, đóng góp và hưởng lợi, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và
văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai sau. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài
nguyên, đặc biệt là loại tài nguyên không thể tái tạo, gìn giữ và cải thiện môi
trường sống; xây dựng xã hội học tập; xây dựng lối sống thân thiện môi
trường, sản xuất và tiêu dùng bền vững.
Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho phát triển bền vững
đất nước. Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu
tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất” [50, tr. 1,2 ].
Về mục tiêu của phát triển bền vững giai đoạn 2011 – 2020:
Mục tiêu tổng quát được xác định là: “tăng trưởng bền vững, có hiệu
quả, đi đôi với tiến độ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường,
giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia”[50, tr. 2].
Mục tiêu cụ thể:
“Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn; giữ vững

sinh thái đô thị tồn tại, cân bằng và phát triển lâu bền cần phải xem xét và
phân tích các tác động của con người vào môi trường theo những nguyên lí
của sinh thái học. Theo đó, hệ sinh thái đô thị muốn giữ được mức độ ổn định
17
tương đối trước hết cần phải đảm bảo các nguyên tắc sinh thái trong quy
hoạch như sau:
“Nguyên tắc 1: Tổ chức quy hoạch đô thị một cách hợp lý – xác định
một cách rõ ràng ranh giới của các vùng đô thị thông qua việc phân vùng theo
khu vực. Sự phân vùng này phải được dựa trên các yếu tố: theo không gian;
theo cơ cấu chức năng; theo hệ thống kỹ thuật công nghệ để đảm bảo cho
dòng năng lượng của hệ sinh thái được ổn định.
Nguyên tắc 2: Tổ chức tối ưu mạng lưới giao thông đô thị hạn chế tới
mức tối thiểu việc đi lại bên trong thành phố (để giảm bớt lượng tiếng ồn và ô
nhiễm không khí).
Nguyên tắc 3: Tạo lập và giữ gìn các không gian xanh ở trong vùng trung
tâm, đồng thời bảo bên đất rừng tự nhiên ở bên cạnh các khu đô thị” [36, tr. 75].
Xuất phát từ quan điểm về phát triển bền vững, nhiều nhà khoa học,
dưới sự chi phối của các lĩnh vực hoạt động của mình, đã đưa ra nhiều quan
niệm phát triển đô thị bền vững khác nhau. Tiêu biểu:
“Các nhà sinh thái đưa ra các tiêu chuẩn để phát triển đô thị bền vững
như sau: (1) Phát triển nhà ở theo chiều cao để tiết kiệm nguyên, nhiên vật
liệu và mặt bằng; (2) Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên; (3) Tránh xây dựng
thành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ lở; (4) Bảo vệ và phát
triển cây xanh đô thị; (5) Khuyến khích tiết kiệm nước; (6) Hạn chế sử dụng
phương tiện di chuyển có động cơ; (7)Tái sinh vật liệu phế thải.
Các nhà ngân hàng chú trọng đến lĩnh vực tài chính. Theo họ, phát
triển đô thị bền vững có 4 tiêu chí: (1) Đảm bảo và phát triển khả năng
cạnh tranh của thành phố; (2) Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn; (3)
Nền tài chính lành mạnh (nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn lực);
(4) Quản lý đô thị tốt.

thể đòi hỏi bản thân mỗi cá nhân nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung
phải chủ động, tích cực trong nhận thức và hành động để không chỉ phát triển
đô thị đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao của con người mà còn có
định hướng phát triển bền vững trong tương lai. Để làm được điều đó đòi hỏi
phải có sự nhất quán trong chính sách quy hoạch phát triển và có ý thức thực
hiện, bảo vệ và giữ gìn môi trường sinh thái nhân văn đô thị của các cá nhân
và tổ chức trong cộng đồng.
1.2. Tính chủ thể của con người trong hệ sinh thái nhân văn
1.2.1. Tính chủ thể của con người
1.2.1.1. Khái niệm chủ thể
Theo cách tiếp cận triết học, khái niệm chủ thể là một khái niệm có vị
trí quan trọng trong nhận thức luận. Khái niệm “chủ thể” lúc đầu có nghĩa là
cái mang những đặc tính, trạng thái, hoạt động – đồng nhất với với khái niệm
thực thể. Từ thế kỷ XVII khái niệm chủ thể được đặt trong mối quan hệ với
khái niệm khách thể và mang ý nghĩa nhận thức luận. “Ngày nay, người ta
quan niệm chủ thể là con người hoạt động tích cực và nhận thức, có ý thức và
ý chí. Còn khách thể là cái mà hoạt động nhận thức và hoạt động khác của
chủ thể hướng vào đó” [51, tr.93].
Chúng ta thấy rằng, khái niệm chủ thể và khách thể là hai khái niệm
tương quan nên khái niệm chủ thể chỉ mang đầy đủ nội dung ý nghĩa khi được
đặt trong mối quan hệ với khái niệm khách thể. Trong lịch sử triết học, có
nhiều quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Chủ
nghĩa duy vật trước Mác coi khách thể là cái tồn tại không phụ thuộc vào chủ
thể và hiểu nó là thế giới khách quan, còn theo nghĩa hẹp thì là đối tượng của
nhận thức. Đồng thời chủ thể được coi là cái gì đó thụ động, chỉ tiếp thu các
tác động từ bên ngoài. Chủ thể được quan niệm là các cá thể biệt lập mà
những đặc điểm của nó là do nguồn gốc tự nhiên của nó quyết định, bởi vì
20
người ta còn chưa khám phá ra cơ sở thật sự của tính tích cực của chủ thể.
Chủ nghĩa duy tâm lại cho rằng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể và

dân tộc mang bản sắc văn hóa của cộng đồng, tộc người và dân tộc.
1.2.1.2. Đặc trưng của tính chủ thể của con người trong mối quan hệ
giữa con người và tự nhiên
Trong mối quan hệ với tự nhiên, giới tự nhiên chính là “thân thể vô cơ”
của con người. Tất cả thể xác và tinh thần của con người đều gắn liền khăng
khít với tự nhiên vì con người là bộ phận của tự nhiên, là giai đoạn cao nhất
trong quá trình phát triển của giới tự nhiên vì vậy con người phải tuân theo
các quy luật của tự nhiên và hòa vào tự nhiên. Không những thế, con người
còn có khả năng cải tạo tự nhiên và giữ vị trí chủ động trong mối quan hệ với
tự nhiên. Như vậy, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người
đóng vai trò là chủ thể, còn tự nhiên là khách thể.
Con người, xét về mặt tiến hóa có nguồn gốc từ tự nhiên, là sản phẩm
của tự nhiên – một sinh vật có tổ chức cao nhất của thế giới vật chất. Con
người khác các loài sinh vật khác không chỉ về mặt sinh vật học mà còn về
tính chất sinh hoạt xã hội do chính hoạt động của con người tạo ra. Sự khác
nhau đó thể hiện trong khả năng con người biết chế tạo và sử dụng công cụ
lao động nhằm cải tạo tự nhiên một cách có kế hoạch và mục đích.
Loài người khi mới hình thành cuộc sống phần lớn phụ thuộc vào tự
nhiên, trải qua quá trình phát triển lâu dài, thông qua lao động con người dần
biết cách biến đổi tự nhiên để tạo ra những điều kiện tồn tại, những trạng thái
hay môi trường phù hợp với sự tồn tại của mình. Hoạt động của loài người
nhằm chinh phục tự nhiên ngày càng làm giảm bớt sự phụ thuộc và làm tăng
“quyền hành” của họ trước tự nhiên. Từ chỗ dựa vào tự nhiên một cách thụ
22
động con người đã biết biến đổi nó một cách chủ động, có phương pháp và
tuân theo những quy luật vốn có của nó. Từ chỗ bị các lực lượng tự nhiên chi
phối, con người dần dần biết cách cải biến tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cho
những mục đích lớn hơn của mình. Đó là một thắng lợi hết sức vĩ đại của nền
văn minh nhân loại. Ngoài ra, quan hệ giữa con người và tự nhiên còn được
hình thành trong chính quá trình lao động, sản xuất, thông qua hoạt động cải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status