Nghiên cứu đặc điểm vi học thành phần hóa học và tác dụng sinh học của phương đan chi tiêu dao tán - Pdf 30

p ^
BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
TRẦN THỊ NAM HƯƠNG
NGHlễN CỨU Đặc DlấM VI HỌC
THỈkNH PHẩN HOÁ HỌC víl ĨÁC DỤNG SINH HỌC
• • •
củn PHƯƠNG ĐAN CHI TI€U DAO TáN
(Khoá luận tốt nghiệp Dược sĩ khoá 2001
Người hướng dẫn : ThS. Đào Thị HằỊig r: r
DS. Hoàng Thị Huê
Nơi thực hiện : BM Dược cổ truyền
Trường Đại học Dược Hà Nội
Thời gian thực hiện: 2/2007 - 5/2007
Hà Nội, 5 - 2007 If
í
ị42« 1'
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân
thành tới:
ThS. ĐÀO THỊ HẰNG - Phó khoa Dược, Phụ trách Đông Dược Bệnh
viện Hữu Nghị.
DS. HOÀNG THỊ HUÊ - Phụ trách hiệu thuốc số 1, Công ty dược
khoa, trường Đại học Dược Hà Nội.
Đã trực tiếp hướng dẫn tôi tận tình, cho tôi những kiến thức và kinh
nghiệm quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. NGUYỄN t h á i a n đã giúp đỡ, chì bảo

2.2.1. Máy móc thiết bị 13
2.2.2. Hoá chất, thuốc thử 14
2.2.3. Súc vật thí nghiệm 14
2.3. Phương pháp nghiên cứu 14
2.3.1. Nghiên cứu về đặc điểm các vị thuốc 14
2.3.2. Nghiên cứu về thành phần hoá học 14
2.3.3. Nghiên cứu về tác dụng dược lý 16
2.3.4. Xử lý kết quả 17
PHẦN III: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ

18
3.1. Đặc điểm dược liệu và đặc điểm vi học bột dược liệu

18
3.1.1. Đan bì 18
3.1.2. Chi tử 18
3.1.3. Sài hồ bắc 19
3.1.4. Đương quy 19
3.1.5. Cam thảo bắc 20
3.1.6. Bạch linh 20
3.1.7. Bạch truật
.

21
3.1.8. Bạch thược 21
3.1.9. Phương Đan chi tiêu dao 22
3.2. Định tính các nhóm chất bằng phản ứng hoá học
23
3.3. Đinh túứi bằng sắc ký lớp mỏng 29
3.4. Định lượng 37

Ultra violet spectroscopy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc cổ truyền được dùng từ lâu đời nay ở nước ta, có nhiều bài thuốc
hay, nhiều kinh nghiêm quý đã được lưu truyền qua sách vở hoặc truyền
miệng từ đời này qua đời khác. Ngày nay, bên cạnh sự phát triển không ngừng
của y học hiện đại, nền y học cổ truyền ngày càng được chú trọng phát triển
và đã góp phần không nhỏ vào công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Nhiều bài thuốc chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian và theo lý luận
đông y đã được sử dụng để điều trị, tuy nhiên việc sử dụng các bài thuốc chỉ
mới dựa vào kinh nghiệm và học thuyết âm dương ngũ hành của triết học
phương đông, còn ít người hiểu, phần lớn chưa được giải thích bằng cơ sở
khoa học hiện đại.
Trong YHCT có nhiều bài thuốc chữa các bệnh về gan. Bỏi gan là một
trong những tạng lớn nhất cơ thể, giữ nhiều chức năng quan trọng và là trung
tâm chuyển hoá của cơ thể. Gan chịu ảnh hưởng của rất nhiều chất từ bên
ngoài đưa vào cơ thể, chính vì vậy các bệnh về gan mật khá phổ biến và ảnh
hưởng nhiều đến sức khoẻ con người.
Một trong những phương thuốc cổ truyền đã được dùng để chữa các bệnh
về gan mật: nhuận gan, lợi mật, chữa viêm gan cấp và mạn đó là phương
"Đan chi tiêu dao tán".
Với mong muốn góp phần tìm hiểu, nâng cao giá trị sử dụng chữa bệnh
của phưcmg "Đan chi tiêu dao tán", chúng tôi thực hiện đề tài **Nghiên cứu
đặc điểm vỉ học, thành phần hoá học và tác dụng sinh học của phương Đan
chi tiêu dao tán** vói các mục tiêu sau:
- Nghiên cứu đặc điểm vi học góp phần tiêu chuẩn hoá dược liệu.
- Nghiên cứu thành phần hoá học có trong vị thuốc và phương Đan chi tiêu dao
tán.
- Nghiên cứu một số tác dụng sinh học của phương Đan chi tiêu dao tán.
PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1. Vài nét đại cương về bệnh gan mật

đoán các bệnh về gan khó do các triệu chứng lâm sàng thường nghèo nàn,
không điển hình. Vì vậy việc điều trị thường sử dụng kết hợp các biện pháp
điều trị:
- Bất động nghỉ ngơi: vì trong bệnh viêm gan tuần hoàn qua gan giảm
rõ rệt do sự ứ trệ máu ở các xoang gan, cản trở dòng máu ra và vào gan. Chính
nguyên nhân này đã làm cho việc nuôi gan kém đi dẫn tói thoái hoá và hoại tử
tế bào gan.
- Chế độ ăn uống hợp lý: không bia rượu, giảm mỡ động vật và tăng
cường vitamin, tăng đường, tăng đạm.
- Thuốc điều trị:
• Đối với viêm gan cấp thuốc điều trị chủ yếu là vitamin và các thuốc
chữa triệu chứng như: tăng tuần hoàn qua gan, lợi mật, lọi tiểu, giảm men
transaminase.
• Đối với viêm gan mạn có ba nhóm thuốc điều trị chính là nhóm thuốc
điều hoà miễn dịch (Levamisole, Thymogen, Corticoid, Interleukin-2,
Interleukin-12, Anti-HBS đa dòng và đơn dòng), nhóm thuốc kháng virus:
(Lamivudin, Adefovir dipivoxil, Ribaverin, Ohgonuc), nhóm Interferon
(interferon a, ß, ỵ).
1.1.2 Theo YHCT [32]
Các chứng bệnh về gan mật có thể chia thành hai loại: Dương hoàng
đản và Âm hoàng đản.
- Dương hoàng đản:
Chứng Hoàng đản do thấp nhiệt được gọi là Dương hoàng đản, tương
đương vói viêm gan cấp bao gồm: thể vàng da, nguyên nhân do thấp nhiệt ở
can đởm, khí huyết ứ trệ, triệu chứng của thể này là vàng da, rối loạn tiêu hoá,
mệt mỏi và phép điều tiị là thanh nhiệt táo thấp, hành khí hoạt huyết, Thể
không vàng da nguyên nhân là do thấp nhiệt ở can đởm, can tỳ bất hoà, triệu
chứng chủ yếu là ăn kém chậm tiêu, rêu lưõi trắng hay vàng dính, tiểu vàng,
phân bạc màu, phép điều trị: thanh nhiệt lợi thấp, sơ can giải uất, hành khí,
kiện tỳ hoà vị, tiêu đạo.

- Bạch phục linh: Công năng kiện tỳ, đóng vai trò là vị tá.
- Cam thảo bắc: Công năng ích khí dưỡng khí, bổ tỳ vị, điều hoà các vị
thuốc, đóng vai trò là vị sứ.
1.2.2. Các vị thuốc trong phương
I.2.2.I. Đan bì (Radix Paeoniae)
Là rễ của cây Mẫu đơn Paeonia sufruticosa Andr., họ Mao lương
Ranunculaceae [9], [10], [24], [35].
Trong Đan bì có một glycoside mà khi tiếp xúc với một chất men có trong
vỏ cây sẽ cho glycoza và paeonola là một chất phenola [23], [24]. Một số tài liệu
về hoá học cho thấy Đan bì có chứa glycoside như paeonolide, paeonol,
paeniflorin. Ngoài ra còn có: acid benzoic, phytosterol, glycoside, alcaloid,
saponin [10], [23], [29].
Theo YHCT, Đan bì được chế biến theo các cách như chích rượu, sao
vàng, sao đen, sao cháy [24].
Có tác giả cho rằng paeonola trong Đan bì có tác dụng gây sung huyết ở
vùng tử cung động vật do đó có tác dụng điều kinh, thí nghiệm trên thỏ thấy
có tác dụng chữa sốt. Đan bì cũng có tác dụng hạ huyết áp, nếu phối hợp cùng
các vị thuốc hạ huyết áp khác thì tác dụng tăng lên nhiều. Ngoài ra còn chống
viêm khớp, thông kinh [3], [23].
Theo tài liệu cổ Đan bì có vị đắng, tính hơi hàn, quy kinh tâm, can,
thận [3], [10], [16], [23].
Đan bì có công năng thanh can nhiệt trường hợp can bị nhiệt, kinh
nguyệt không đều, đau bụng kinh, đau đầu, hoa mắt, sườn đau tức [3 ], [9 ],
[31]. Ngoài ra vị thuốc còn có công năng hoạt huyết, khứ ứ dùng khi bế kinh,
tích huyết, chấn thương sưng đau tím. Đan bì giúp giải độc trong trong hợp
mụn nhọt, sưng đau; hạ huyết áp khi cao huyết áp do gan, xơ cứng động mạch
đáy mắt [3].
1.2.2.2. Chi tử (Fructus Gardeniae)
Là quả phctì khô bóc vỏ của cây Dành dành Gardenia florida L. hoặc
G Jaminoides Ellis., họ cà phê Rubiaceae [9], [10], [24].

Về tác dụng dược lý, Sài hồ bắc có tác dụng bảo vệ chức năng gan, an
thần, chống viêm và chống loét, điều hoà miễn dịch. Sài hồ bắc còn có tác
dụng kháng khuẩn ức chế sự sinh trưởng của ký sinh trùng sốt rét và trực
khuẩn lỵ Shigella shiga, tác dụng hạ cholesterol và triglycerol máu [3], [24],
[34].
Sài hồ bắc có vị đắng tính hơi hàn, quy kinh can, đởm, tâm bào lạc và
tam tiêu [3], [9], [16], [29].
Theo tài liệu dược học cổ truyền [3], Sài hồ bắc có công năng sơ can
giải uất, ích tinh sáng mắt chữa hoa mắt chóng mặt do can ứ trệ; giải cảm
nhiệt trường hợp sốt do cảm mạo. Ngoài ra vị thuốc còn kiện tỳ, bổ trung ích
khí, thăng dương khí dùng để chữa chứng bụng đầy trướng, nôn lợm, sa giáng,
Sài hồ cũng dùng trừ ác nghịch, chữa sốt rét [9], [24], [31].
1.2.2.4. Đương quy (Radix Angelica sinensis)
Là rễ củ đã phơi hoặc sấy khô của cây Đương quy Angelica sinensỉs (Oliv.)
Diels., họlÌ03i\ấnApiaceae [3], [9], [24], [37].
Trong Đương quy thành phần chính là tinh dầu, khoảng 0,2%. Thành
phần chiếm hàm lượng cao trong tinh dầu là n-butylidenphtalid C12H12O2 và
n- valerophenonO-cacboxy-acid C12H14O3, ngoài ra còn có n-butylphtalit
C1 2H14O2 , becgapten C12H8O4, p-cymen, terpinen 4-ol, a-terpinen,
di-n-butylphtalat và thành phần có tác dụng sinh học được chú ý là
ligustilid khoảng hơn 5% [10], [24], [31]. Đương quy còn có: coumarin,
polyacetylen, sterol, nguyên tố vi lượng, vitamin Bj, vitamin E, vitamin Bj2,
acid amin, acid hữu cơ, polysaccharid, đường tự do [13], [19], [37].
Đương quy được chế biến bằng cách rửa sạch, ủ mềm, thái lát, phơi khô ở
nhiệt độ thấp. Đưcỉng quy đã thái lát, phun rượu, ủ, sao nhẹ cho khô [2], [10].
Các nghiên cứu về dược lý cho thấy Đương quy có tác dụng bảo vệ gan
của polysaccharid, thúc đẩy tổng hợp protein và acid nucleic trong tế bào gan,
tăng cường miễn dịch, kháng bổ thể , chống viêm tương tự các thuốc chống
viêm phi steroid. Ligustilis trong Đương quy có tác dụng chống hen chống co
thắt. Đương quy cũng có tác dụng trên tử cung; trên huyết áp và trên hồ hấp

Bạch thược có vị đắng, chua, tính hơi hàn; quy kinh can, tỳ, phế [3],
[16], [24].
Theo YHCT Bạch thược có công năng thư cân giảm đau dùng khi can
khí uất kết dẫn đến đau bụng, đau ngực, chân tay co quắp, tả lỵ; bình can dùng
trong các chứng đau đầu hoa mắt bổ huyết. Ngoài ra còn có công năng cầm
máu dùng trong các trường hợp chảy máu cam, ho ra máu, nôn ra máu, chảy
9
máu trong ruột, băng lậu, bạch đới. Bạch thược còn giúp điều kinh khi huyết
hư, kinh nguyệt không đều. [6 ], [12], [14], [22].
12.2.6. Bạch truật (Rhizoma Atractylodỉs macrocephalae)
Là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Bạch truật Atractylodes
macrocephala Koidz., họ Cúc Asteraceae [6],[12],[16],[26],[29].
Theo các nghiên cứu về hoá học tinh dầu trong Bạch truật chiếm 1,4%.
Vị thuốc chứa các sesquiterpen như a-eudesmol, ß-eudesmol và các dẫn chất
lacton như atractynolid I, II, III. Có tác giả nói trong Bạch truật có Atractylola
CjgHigO, atractylon Ci4Hj8 0 và vitamin A [14], [16], [22], [26].
Trong đông y Bạch truật được chế biến theo nhiều cách như dùng sống,
sao cháy, tẩm hoàng thổ sao, tẩm sữa rồi sao, tẩm nước đất rồi sao hoặc có thể
tẩm mật sao đến vàng và có mùi thơm, tẩm rượu sao vói cám [31].
Các nghiên cứu về dược lý cho thấy Bạch truật có tác dụng làm giảm
lượng dịch vị, làm tăng hàm lượng cắn khô trong mật và như vậy đã tăng
lượng chất thải trừ qua mật; chống loét dạ dày trường hợp loét do nhịn đói,
không có tác dụng với loét do histamin [31], nước sắc Bạch truật có tác dụng
lợi niệu, duy trì khả năng bài tiết điện giải natri, vị thuốc còn kích thích hô
hấp nhưng làm giảm nhịp tim [24].
Bạch truật có vị ngọt, đắng, tính ấm. Quy kinh tỳ và vị [3], [19], [16].
Trong YHCT, Bạch truật được dùng với công năng kiện tỳ, lợi thuỷ,
ráo thấp trong bệnh tỳ hư vận hoá nước trì trệ gây phù thũng tiểu tiện khó
khăn; kiện vị tiêu thực dùng trong trưòng hợp công năng của tỳ hư nhược,
bụng đầy trướng, đau, buồn nôn; cố biểu liễm hãn, dùng trong bệnh mồ hôi

và isoliquiritin (nhóm chalcon). Ngoài ra còn có glabridin (nhóm isoflavan),
glabron (nhóm isoflavon), glabren (nhóm isoflaven). Một số coumarin:
umbelliferon, hemiarin, liqcoumarin [4], [10], [24], [31], chất đắng
11
(glycyramarin). Các hợp chất oestrogen có nhân sterol vói hàm lượng thấp
Trong rễ có 25-30% tinh bột, 3-8% glucose và saccharose [4], [20], [18], [31].
Cam thảo bắc được chế biến theo các cách: thái phiến rồi sao khô, Cam
thảo phiến sao cách cám, Cam thảo phiến tẩm mật ong hoặc siro sao vàng
hoặc sấy cho đến khô [2], [9].
Các nghiên cứu ở Viện dược liệu cho thấy Cam thảo bắc có tác dụng
bảo vệ gan trong viêm gan mãn tính và bài tiết mật, chống loét, chống co thắt
dạ dày, tác dụng chống ho lên trung tâm ho tương tự codein, tác dụng long
đờm do thành phần saponin. [4], [24], [31].
Trong Cam thảo bắc có chất glycyưhizin có tác dụng giải độc khi ngộ
độc thức ăn và một số chất khác. Liquiritigenin và isoliquitigenin trong Cam
thảo bắc có tác dụng ức chế MAO. Còn glycyrrhizin và liquiritic có tác dụng
chống viêm, chống loét, làm chóng lành sẹo [3], [9], [13], [24],
Cam thảo bắc có vị ngọt, tính bình, quy kinh can, tỳ, thông hành 12
kinh [3], [9], [10], [16].
Theo YHCT, Cam thảo bắc có công năng ích khí dưỡng khí, bổ tỳ vị,
thanh nhiệt, giải độc, điều hoà các vị thuốc. Cam thảo sống (đồ mềm, sấy khô)
có tác dụng giải độc, tả hoả còn Cam thảo bắc tẩm mật sao vàng lại có tác
dụng ôn trung, nhuận phế, điều hoà các vị thuốc. Cam thảo còn dùng chữa
cảm, ho mất tiếng, viêm họng, mụn nhọt, đau dạ dày, ỉa chảy, ngộ độc
[4],[13],[24],[31].
12
PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1. Nguyên liệu:
- Các vị thuốc dùng trong nghiên cứu gồm: Đan bì, Chi tử, Sài hồ bắc,
Đương quy, Bạch truật, Bạch linh, Bạch thược, Cam thảo bắc được mua tại

[4], [5], [15].
2.3.2.2. Tinh dầu
♦ Định túủi bằng sắc ký lớp mỏng [4], [9], [15].
♦ Định lượng tinh dầu bằng phương pháp cất kéo hơi nước (Phụ lục 9.2
DĐVN III). Song song tiến hành đo độ ẩm của dược liệu bằng phưorng pháp
cất với dung môi (Phụ lục 9.6 DĐVNIII) [9].
Hàm lượng tinh dầu trong dược liệu được tính như sau:
T(%) = — xioo
a -p
Trong đó: T: Hàm lượng của tinh dầu trong dược liệu(%).
V: Thể tích tinh dầu (ml).
14
a: Khối lượng dược liệu đem định lượng (g).
p: Lượng hoi nước (g) có trong a (g) dược liệu.
2.3.23. Flavonoid
♦ Sắc ký lớp mỏng [4], [5], [15].
♦ Định lượng: Bằng phương pháp cân [4], [15].
- Định lượng flavonoid toàn phần trong các vị thuốc và phương ĐCTDT
bằng phương pháp chiết với dung môi methanol.
- Hàm lượng flavonoid trong dược liệu được tính như sau:
X(%) = - ^ x l O O
b - p
Trong đó: X: Hàm lượng flavonoid toàn phần trong dược liệu (%).
m: Khối lượng cắn thu được (g).
b: Khối lượng dược liệu đem định lượng (g).
p; Lượng hơi nước (g) có trong b (g) dược liệu.
23.2.4. Saponin
♦ Sắc ký lớp mỏng [4], [5], [15].
♦ Định lượng: Bằng phương pháp cân [4], [15].
- Định lượng saponin toàn phần trong phưoỉng ĐCTDT bằng phương

m,
Trong đó: nit: lượng mật của mẫu thử.
111^: lượng mật của mẫu chứng.
2.3.33. Đánh giá tác dụng bảo vệ gan của bài thuốc
Mô hình gây độc gan bằng CCI4 [21].
Phương pháp nghiên cứu: Chuột cống trắng có trọng lượng 100 g - 150 g
không phân biệt giống được chia ngẫu nhiên thành 3 lô, 6 conAô:
Lô 1 (lô chứng trắng): Uống NaCl 0.9 % 20 ml/ kg.
Lô 2 (lô chứng bệnh lý): Uống NaCl 0,9 % 20 ml/kg và bị gây độc bằng CCI4
Lô 3 (lô thử): Uống dịch chiết liều 3,2 g/kg và bị gây độc bằng CCI4.
16
Cho uống liên tục trong 8 ngày, ngày thứ 6 và thứ 8 gây độc cho chuột ở
các lô 2, 3 bằng cách tiêm màng bụng dung dịch CCI4 50%/ dầu ôliu vói liều
1,4 ml/kg. Trước khi gây độc 14-16 giờ cho chuột nhịn đói, 24 h sau lần gây
độc cuối giết chuột lấy máu định lượng enzym aminotransferase (AST, ALT)
trong huyết thanh trên máy sinh hoá TC 84 - Plus.
2.3.4. Xử lý kết quả
♦ Kết quả định lượng được đánh giá bằng phương pháp thống kê để tính
hàm lượng trung bình (X), độ lệch chuẩn (S), khoảng tin cậy (|i), với độ tin
cậy 95%.
♦ Số liệu dược lý được sử lý theo phương pháp thống kê y học sử dụng
hàm TTEST bằng phần mềm MS Excell.
17
PHẦN III: THỰC NGHIỆM, KÊT QUẢ VÀ NHẬN XÉT
3.1. Đặc điểm dược liệu và đặc điểm vi học bột dược liệu
3.1.1. Đan bì
Đặc điểm dược liệu: hình ống hoặc nửa hình
ống, hai mép thưcỉng cuộn vào trong hoặc mở ra. Dài ^
3-5 cm, dày 0,1 - 0,4 cm (Hình 3.1). ^
Hình 3.1. Ảnh vị thuốc Đan bì

Hình 3.6 Ảnh đặc điểm vi học bột Sài hồ bắc
L Mảnh bần; 2. Tinh th ể canxi oxalat hình kim; 3. Mảnh mạch mạng
3.1.4. Đương quy
Đặc điểm dược liệu; phiến dài 5-9 cm, dày 1-3 mm,
màu vàng nhạt, mùi thơm ngọt, nhuận dẻo (Hình 3.7).
'iM.
Hình 3.7. Ảnh vị thuốc Đương quỵ
Đặc điểm vi học bột dược liệu: bột
màu vàng nâu, mùi thơm, vị cay ngọt. Quan
sát dưối kính hiển vi thấy: Mảnh mô mềm
(1). Mảnh mô mềm chứa hạt tinh bột(2).
Hạt tinh bột đứng riêng lẻ (3). Mảnh mạch
mạng, vạch (4) (Hình 3.8).
Hình 3.8. Ảnh đặc điểm vi học bột Đương quy
1. Mảnh mô mềm mang tinh bột; 2. Mảnh mạch; 3. Hạt tinh bột
19
3.1.5. Cam thảo bắc
Đặc điểm dược liệu
Phiến chéo dày 1-3 mm, dài 3-5 cm. Màu vàng,
vị ngọt, mùi thơm nhẹ, khô giòn (Hình 3.9).
Hình 3.9. Ảnh vị thuốc Cam thảo bắc
Đặc điểm vi học bột dược liệu: bột màu
vàng chanh, mùi thơm, vị ngọt. Quan sát
dưới kính hiển vi thấy: Mảnh bần tế bào
hình đa giác (1). Mô mềm mang tinh bột
(2). Mảnh mạch vạch (3). Bó sợi mang tinh
thể canxi oxalat (4). Tinh thể canxi oxalat
hình khối (5). Hạt tinh bột (6 ). (Hình 3.10).
Hình 3.10. Ảnh đặc điểm vi học bột Cam thảo bắc
1. Mảnh bần 2. Mô mềm mang tinh bột 3. Mảnh mạch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status