TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHÂN TÍCH THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI TIÊU
DÙNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MOBILE
MARKETING Ở QUẬN NINH KIỀU – TP.
CẦN THƠ
GVHD: Huỳnh Nhựt Phương
Nhóm thực hiện
Hồ Phương Vy B1302390
Lê Trọng Anh B1309243
Dương Thanh Nhi B1309301
Mai Thị Thu B1309333
Nguyễn Thị Minh Thùy B1309334
1
Ngày hoàn thành: Tháng 5/2015
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU 6
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 7
1.2.1 Mục tiêu chung 7
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 7
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
1.3.1 Không gian 7
1.3.2 Thời gian 7
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 7
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 7
1.5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 10
1.5.1 Tính giải trí 10
1.5.2 Tính thông tin 10
2.1.3.6 Mobile Payment 28
2.1.3.7 Location – based Service 28
2.1.4 Đặc trưng hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile
Marketing 29
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 30
2.2.1.1 Phương pháp chọn mẫu 30
2.2.1.2 Phương pháp xác định cỡ mẫu 30
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 31
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 31
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 31
CHƯƠNG 3
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MOBILE MARKETING TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 35
3.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ 35
3.2 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MOBILE MARKETING Ở TP.
CẦN THƠ 38
3.3 TỔNG QUAN VỀ QUẬN NINH KIỀU 41
3
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
4.1 ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU 43
4.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG
HOẠT ĐỘNG MOBILE MARKETING TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NINH
KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ 45
4.2.1 Tình hình sử dụng điện thoại di động 45
4.2.1.1 Thời gian sử dụng điện thoại di động 45
4.2.1.2 Mức chi tiêu cho cước phí điện thoại di động 46
4.2.1 3 Số lượng thông tin quảng cáo người tiêu dùng nhận được
4.7 SỰ KHÁC BIỆT VỀ THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG MOBILE MARKETING THEO NHÓM NHÂN KHẨU
HỌC 71
4.7.1 Sự khác biệt về thái độ của người tiêu dùng theo giới tính 71
4.7.2 Sự khác biệt về thái độ của người tiêu dùng theo độ tuổi 72
4.7.3 Sự khác biệt về thái độ của người tiêu dùng theo nghề nghiệp
73
CHƯƠNG 5
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO PHẢN ỨNG TÍCH CỰC CỦA
NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MOBILE MARKETING
75
5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 75
5.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THÁI ĐỘ TÍCH CỰC CỦA
NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MOBILE MARKETING
75
5.2.1 Xác định, khoanh vùng khách hàng mục tiêu 76
5.2.2 Nâng cao sự tin cậy và tính thông tin của Mobile Marketing 76
5.2.3 Hạn chế sự phiền nhiễu, tăng cường tính giải trí của các
chương trình Mobile Marketing 78
5.2.4 Nghiên cứu, ứng dụng những hình thức và công nghệ mới cho
Mobile Marketing 79
5.2.5 Kết hợp Mobile Marketing với các kênh truyền thông khác. 80
5.2.6 Tập trung hơn vào người đi làm trẻ 81
CHƯƠNG 6
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
6.1 KẾT LUẬN 83
5
6.2 KIẾN NGHỊ 84
6.2.1 Đối với doanh nghiệp và các công ty cung cấp dịch vụ Mobile
Marketing 84
MMA, ngân sách marketing của các công ty Mỹ sẽ sử dụng cho mobile tăng
mạnh, trong khi ngân sách marketing truyền thống và online có chiều hướng
giảm rõ rệt. 65% số marketer được hỏi cho biết sẽ tăng ngân sách cho mobile
marketing, trong khi chỉ có 26% sẽ tăng ngân sách cho các kênh marketing
truyền thống trong năm 2012.
Ra đời ở Mỹ vào năm 2004 và lần đầu tiên triển khai ở Việt Nam vào
năm 2006, Mobile Marketing hay Marketing qua điện thoại di động đã và
đang tạo được rất nhiều ấn tượng đối với thị trường quảng cáo ở Việt Nam.
Tuy nhiên, trong vài năm gần đây những người sử dụng điện thoại di động –
đối tượng hoạt động của Mobile Marketing hoàn toàn bị động, bị làm phiền,
thiếu thông tin, hiểu biết về hình thức quảng cáo này, cảm thấy hoang mang,
phiền toái với những tin nhắn “rác” hay những tin nhắn lừa đảo giả quảng cáo.
7
Trước thái độ khá tiêu cực của người tiêu dùng, đã có nhiều nhận định
cho rằng: “Mobile Marketing và quảng cáo qua tin nhắn không có tương lai ở
thị trường Việt Nam”(Mạng Quảng Bá, 2011) hay “Quảng cáo qua điện thoại
di động – vẫn chỉ là tiềm năng (Intermark, 2010). Tuy vậy nhưng Mobile
Marketing vẫn có chỗ đứng khá vững và ngày ngày càng phát triển trong xã
hội hiện nay.
Để hiểu rõ tâm lý khách hàng đối với các hoạt động quảng cáo trên điện
thoại di động cũng như hiểu rõ hơn về Mobile Marketing, nhóm chúng tôi
thực hiện bài nghiên cứu với chủ đề: “Phân tích thái độ của người tiêu dùng
đối với hoạt động Mobile Marketing ở quận Ninh Kiều – TP Cần Thơ”.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng của hoạt động Mobile Marketing, đồng thời xác
định những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ và phản ứng của người tiêu dùng đối
với hoạt động này, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm làm tăng sự tích cực
trong thái độ của người tiêu dùng cũng như đẩy mạnh phát triển hoạt động
Mobile marketing trên địa bàn quận Ninh Kiều – TP Cần Thơ.
tháng 10 năm 2011 với mục tiêu chủ yếu là xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến thái độ, hành vi người tiêu dùng cũng như mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố đó đối với hoạt động Mobile Marketing tại khu vực nội thành Hà Nội.
Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về khía cạnh này.
Tác giả đã sử dụng phương pháp kiểm tra độ tin cậy Cronbach Alpha để kiểm
tra độ tin cậy Cronbach Alpha để kiểm tra độ tin cậy của thang đo, phương
pháp phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysis) để xác định các
nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động
Mobile Marketing. Sau đó tác giả tiến hành phân tích hồi quy để kiểm định mô
hình và các thuyết nghiên cứu, đồng thời tác giả cũng tiến hành kiểm định Chi
– bình phương để kiểm định mối liên hệ giữa các biến nhân khẩu học với hành
vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing. Nghiên cứu đã xác
định và giải thích các xu thế thực hiện các hành vi cơ bản của con người trong
hoạt động Mobile Marketing, bổ sung và đánh giá mức độ ảnh hưởng của
nhân tố kinh nghiệm trong mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của
người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing. Hạn chế lớn nhất của
nghiên cứu là phạm vi nghiên cứu hẹp, chỉ tập trung vào khu vực nội thành Hà
Nội. Việc sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện cũng đã làm giảm tính
khách quan trong kết quả điều tra.
Lê Huỳnh Nhất Sinh, 2013. Đánh giá phản ứng của người tiêu dùng
đối với hoạt động Mobile Marketing trên địa bàn thành phố Cần Thơ.Luận
văn tốt nghiệp. Đại học Cần Thơ. Luận văn tập trung nghiên cứu tìm hiểu thái
độ và các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng đối với hoạt
động Mobile Marketing tại khu vực nghiên cứu. Tác giả đã sử dụng các
phương pháp nghiên như Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá, hồi
quy bội, kiểm định Anova, T – Test với mục tiêu kiểm định mô hình nghiên
9
cứu đã đề xuất. Qua đó cho thấy hoạt động quảng cáo qua điện thoại di động
vẫn chưa mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp khi mà thông điệp của họ
gửi đi vẫn chưa thu hút được sự chú ý của người tiêu dùng. Tuy nhiên do hạn
thành đối với hoạt động quảng cáo qua điện thoại di động. Tác giả sử dụng
bảng câu hỏi để thu thập số liệu sơ cấp từ 200 thanh niên và 200 người trưởng
thành tại Erzurum – Thổ Nhĩ Kì. Trong bài nghiên cứu này, những biến số chủ
quan đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên thái độ của đối tượng
nghiên cứu đối với hoạt động quảng cáo qua điên thoại di động, hơn thế nữa,
10
mối quan hệ giữa dự định và hành vi chấp nhận – từ chối cũng đã được tác giả
phân tích. Dựa vào kết quả nghiên cứu, một mẫu quảng cáo mang những đặc
điểm như tính giải trí, tính thông tin, tính tin cậy, tính bảo mật kết hợp với sự
cho phép từ người sử dụng tạo nên một sức ảnh hưởng tích cực đến việc hình
thành thái độ đối với quảng cáo qua điện thoại di động. Ngoài ra, nghiên cứu
còn cho thấy thái độ, dự định và hành vi của giới trẻ cũng rát khác so với
người trưởng thành đối với hoạt động Mobile Marketing.
Nghiên cứu của Kirsten Evelien Kamphuis và Manishka Chaya
Ramnarain, 2012. Consumer Attidudes Toward Mobile Advertising – A study
of Dutch Youth. Tác giả sử dụng phương pháp bảng câu hỏi để thu thập số liệu
đinh tính và định lượng, sau đó số liệu sẽ được xử lý và phân tích bằng các
phương pháp như thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá, mô hình hồi
quy đa biến và phân tích ANOVA hai chiều. Với mục đích là phân tích nhận
thức và thái độ của những thanh thiếu niên tại Hà Lan đối với hoạt động quảng
cáo Trên điện thoại di động, nghiên cứu đã chỉ ra rằng đại bộ phận đối tượng
nghiên cứu có những đánh giá rất tích cực về quảng cáo trên điện thoại di
động so với hình thức quảng cáo truyền thống về các mặt như độ tin cậy, tín
tương tác cũng như tính giải trí. Hơn nữa, nội dung của quảng cáo cũng được
coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đên thái độ của người tiêu dùng. Thái độ
của người tiêu dùng đối với quảng cáo càng tích cực và họ càng mong muốn
tìm hiểu về sản phẩm quảng cáo thì thái độ của họ đối với quảng cáo qua điện
thoại di động càng trở nên tốt hơn. Kết quả nghiên cứu nhìn chung cũng đã
cho thấy những thái độ tiêu cực của người tiêu dùng đối với hoạt động này do
một số nguyên nhân (đơn cử như việc họ phải nhận quá nhiều thông tin quảng
2. Nội dung QC trên ĐTDĐ làm bạn cảm thấy phiền hà không?
1.5.5 Sự cho phép
1. Bạn không kiểm soát được lượng thông tin QC trên ĐTDĐ phải
không?
2. Bạn chỉ nhận được những thông tin QC trên ĐTDĐ khi đã đăng ký?
1.5.6 Cá nhân hóa
1. Bạn chỉ quan tâm đến những thông tin QC trên ĐTDĐ phù hợp với
nhu cầu của bản thân?
2. Nội dung của những thông tin này có phù hợp với độ tuổi của người
nhận?
1.5.7 Thái độ chung
1. Bạn cảm thấy QC trên ĐTDĐ có đáng tin cậy không?
2. Bạn cảm thấy QC trên ĐTDĐ có hữu ích không?
1.6 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chúng tôi nhận thấy mô hình nghiên cứu của Xiangqin Fu (2012) phù
hợp cho nghiên cứu về thái độ của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile
Marketing trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Vì vậy, chúng tôi
sẽ kế thừa mô hình này trong bài nghiên cứu của mình.
12
Hình 1.1 : Mô hình thái độ của người tiêu dùng đối với hoạt động
Mobile Marketing
1.6.1 Tính thông tin của Mobile Marketing
Ducoffe (1996) cho rằng tính thông tin của chương trình Marketing là
việc “thông báo cho người tiêu dùng về những tính năng của sản phẩm để là
cơ sở cho việc lựa chọn và mua sắm của người tiêu dùng” (Nguyễn Hải Ninh,
2011). Hair, Bush & Ortinau (2000) bổ sung: “một trong những nhiệm vụ chủ
chốt của hoạt động Marketing là làm cho khách hàng ghi nhớ thương hiệu
cũng như nhận biết và phân biệt được sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp so
với sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác trong ngành” (Nguyễn Hải
Ninh, 2011). Vì vậy, nhằm thực hiện mục tiêu này, theo Kotler và Keller
được đo lường bằng 4 biến quan sát kí hiệu từ TT1 đến TT4, cụ thể như bảng
sau:
Bảng 1.1 Thang đo tính thông tin của Mobile Marketing
Biến quan sát Nguồn
TT1
Nội dung của những thông tin quảng cáo
trên ĐTDĐ rất đơn giản, dễ hiểu
Lê Huỳnh Nhất Sinh
(2013), Nguyễn Hải
Ninh (2011)
TT2
Thông tin quảng cáo trên ĐTDĐ mang lại
cho Anh/ chị rất nhiều thông tin thị trường
Xiang Qiun Fu (2012),
Nguyễn Hải Ninh
(2011)
TT3
Thông tin quảng cáo trên ĐTDĐ có tính
cập nhật
Lê Huỳnh Nhất Sinh
(2013), Nguyễn Hải
Ninh (2011)
TT4
Thông tin quảng cáo trên ĐTDĐ cung cấp
đúng thông tin về sản phẩm quảng cáo
Xiang Qiun Fu (2012)
1.6.2 Tính giải trí của Mobile Marketing
Oh và Xu (2003) xem tính giải trí của chương trình Marketing là “việc
các hoạt động Marketing đem lại niềm vui cho người tiêu dùng” (Nguyễn Hải
Ninh, 2011). Theo nghiên cứu của Shavitt và cộng sự (1998) tính giải trí của
Thông tin quảng cáo trên ĐTDĐ mang lại
tính giải trí cao
Xiang Qiun Fu (2012),
Lê Huỳnh Nhất Sinh
(2013), Nguyễn Hải
Ninh (2011)
GT2
Hình thức quảng cáo trên ĐTDĐ thú vị hơn
hình thức quàng cáo truyền thống (TV, báo
đài,…)
Xiang Qiun Fu (2012),
Lê Huỳnh Nhất Sinh
(2013)
1.6.3 Sự tin cậy của chương trình Mobile Marketing
Sự tin cậy hay niềm đối với các hoạt động Marketing là: “việc người
tiêu dùng đánh giá chương trình Marketing của thương hiệu đó là trung thực
và đáng tin cậy” (Siau và Shen, 2003) (Nguyễn Hải Ninh, 2011). Nghiên cứu
của Ajzen (1991) đã chỉ ra rằng thái độ của con người bị ảnh hưởng một cách
trực tiếp bởi niềm tin của họ đối với sự vật, hiện tượng hoặc những hành động
xảy ra quanh họ (Nguyễn Hải Ninh, 2011).
Ủng hộ và phát triển quan điểm trên, Bracker và Carr (2001), Tsang et
al (2004) đã kiểm chứng và xác định sự tin cậy hay niềm tin là một trong
những nhân tố quan trọng tác động tới thái độ và hành vi của người tiêu dùng
trong hoạt động quảng cáo trên Internet và trên điện thoại di động (Nguyễn
Hải Ninh, 2011).
Sự tin cậy của chương trình Mobile Marketing kí hiệu là TC và được
đo lường bằng 4 biến quan sát kí hiệu từ TC1 đến TC4, cụ thể như bảng sau:
Bảng 1.3 Thang đo sự tin cậy của Mobile Marketing
Biến quan sát Nguồn
15
Theo Ducoffe (1996) sự phiền nhiễu của các hoạt động Marketing là
việc “các chiến thuật được sử dụng trong chương trình Marketing gây ra cảm
giác phiền toái, khó chịu hoặc xúc phạm tới người tiêu dùng” (Nguyễn Hải
Ninh, 2011).
Nghiên cứu của Brackett và Carr (2001) cho thấy sự phiền nhiễu do các
chương trình quảng cáo trên Internet gây ra cho người tiêu dùng sẽ ảnh hưởng
tiêu cực đến giá trị của chương trình quảng cáo đó. Vì thế, nếu một chương
trình quảng cáo bị cho là gây phiền nhiễu sẽ đồng nghĩa với việc người tiêu
dùng đánh giá thấp giá trị của nó (Nguyễn Hải Ninh, 2011). Tsang et al, 2004
đã kiểm tra và xác định sự phiền nhiễu mà chương trình quảng cáo qua điện
thoại di động sẽ dẫn đến thái độ không tích cực của người tiêu dùng.
Barwise và cộng sự (2005) cho rằng nhân tố quan trọng nhất gây ra sự
phiền nhiễu cho người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo qua điện thoại di
động là do mỗi ngày họ phải nhận quá nhiều thông tin quảng cáo, việc nhận
thông tin quảng cáo một cách bị động đã gây ra tâm lý khó chịu và những
hành vi mang tính phản kháng của người tiêu dùng (Nguyễn Hải Ninh, 2011).
Theo thống kê của Leppäniemi et al (2006), 86% những người được hỏi
cho biết một ngày họ chỉ đồng ý nhận tối đa 1 thông tin quảng cáo, Marketing
của một đơn vị, tin nhắn thứ 2 trở đi sẽ bị xóa ngay mà không cần đọc do
nghiễm nhiên bị cho là tin nhắn rác (Nguyễn Hải Ninh, 2011).
Sự phiền nhiễu của chương trình Mobile Marketing được kí hiệu là PN
và được đo bằng 3 biến quan sát kí hiệu từ PN1 đến PN3, cụ thể như bảng sau:
Bảng 1.4 Thang đo dự phiền nhiễu của Mobile Marketing
Biến quan sát Nguồn
16
TDC
1
Anh/chị thấy khó chịu khi nhận được thông
tin quảng cáo trên ĐTDĐ
Lê Huỳnh Nhất Sinh
CNH và được đo lường bằng 2 biến quan sát kí hiệu từ CNH1 đến CNH2, cụ
thể như bảng sau:
Bảng 1.5 Thang đo sự cá nhân hóa của Mobile Marketing
Biến quan sát Nguồn
CNH
1
Anh/chị chỉ quan tâm những thông tin
quảng cáo phù hợp nhu cầu bản thân
Lê Huỳnh Nhất Sinh
(2013), Nguyễn Hải
Ninh (2011), Xiang
Qiun Fu (2012)
CNH
2
Nội dung những thông tin quảng cáo
thường có nội dung và cách hành văn hợp
lứa tuổi của Anh/ chị
Xiang Qiun Fu (2012),
Lê Huỳnh Nhất Sinh
(2013), Nguyễn Hải
Ninh (2011)
1.6.6 Sự cho phép đối với chương trình Mobile Marketing
Gardlund (2005) cho rằng các tin nhắn Marketing được gửi tới ĐTDĐ
của người tiêu dùng mà chưa được phép đều bị coi là tin nhắn rác (spam)
(Nguyễn Hải Ninh, 2011). Vì thế, việc đăng kí nhận thông tin quảng cáo của
17
khách hàng là một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện chương trình
Mobile Marketing cũng như xây dựng mối quan hệ lâu dài giữa doanh nghiệp
và người tiêu dùng.
Nghiên cứu của Leppäniemi et al (2006) cũng chỉ ra rằng sự cho phép
thuộc về chủ quan (Nguyễn Hải Ninh, 2011).
Thái độ chung đối với hoạt động Mobile Marketing (thông tin quảng
cáo được chọn làm đại diện cho hoạt động Mobile Marketing) kí hiệu là TD và
được đo lường bằng 3 biến quan sát kí hiệu từ TDC1 đến TDC3, cụ thể như
bảng sau:
Bảng 1.7 Thang đo thái độ chung đối với các thông tin quảng cáo
Biến quan sát Nguồn
TDC
1
Anh/chị thấy quảng cáo rất hữu ích Xiang Qiun Fu (2012)
TDC Anh/chị thấy quảng cáo rất thú vị Xiang Qiun Fu (2012)
18
2
TDC
3
Anh/chị thấy quảng cáo đáng tin cậy Xiang Qiun Fu (2012)
Thái độ đối với hoạt động Mobile Marketing (tin nhắn quảng cái được
chọn làm đại diện cho hoạt động Mobile Marketing) kí hiệu là TD và được đo
lường bằng 3 biến quan sát kí hiệu từ TD1 đến TD4, cụ thể như bảng sau:
Bảng 1.8 Thang đo thái độ đối với các chương trình thông tin quảng cáo
Biến quan sát Nguồn
TD1 Anh/chị thích nhận quảng cáo trên ĐTDĐ
Xiang Qiun Fu (2012),
Lê Huỳnh Nhất Sinh
(2013)
TD2
Anh/chị hài lòng với nội dung và hình thức
quảng cáo trên ĐTDĐ
Lê Huỳnh Nhất Sinh
(2013)
Marketing.
- H8: Sự khác biệt giữa về thái độ đối với hoạt động Mobile Marketing
giữa các nhóm người tiêu dùng khác nhau ở quận Ninh Kiều – TP. Cần Thơ ở
giới tính.
- H9: Sự khác biệt giữa về thái độ đối với hoạt động Mobile Marketing
giữa các nhóm người tiêu dùng khác nhau ở quận Ninh Kiều – TP. Cần Thơ ở
độ tuổi.
- H10: Sự khác biệt giữa về thái độ đối với hoạt động Mobile
Marketing giữa các nhóm người tiêu dùng khác nhau ở quận Ninh Kiều – TP.
Cần Thơ ở nghề nghiệp.
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
Ngày nay, do tỷ lệ sử dụng điện thoại di động và máy tính bảng rất cao
đã dẫn đến sự gia tăng sử dụng các dịch vụ quảng cáo thông qua phương tiện
này để tiếp thị sản phẩm. Mobile Marketing là một “sản phẩm” được được lai
ghép giữa công nghệ điện thoại di động và Marketing, vì vậy để cung cấp một
20
cái nhìn tổng quát nhất về lĩnh vực này ở mỗi góc tiếp cận khác nhau, các nhà
nghiên cứu lại đưa ra khái niệm khác nhau qua thời gian.
Mobile Marketing đã trở nên hấp dẫn do chi phí thấp của nó và lây lan
cao. Các công ty hàng đầu của thế giới như Procter & Gamble, Microsoft,
Disney, Coca-Cola, Sony Pictures và McDonalds thông qua quảng cáo di động
và quảng cáo di động bao gồm trong ngân sách tiếp thị của họ. Kể từ khi được
thông báo quảng cáo di động đầu tiên đã được gửi trong Scandinavia vào năm
1997, quảng cáo điện thoại di động đã được phát triển nhanh chóng. Mobile
Marketing khác nhau rõ rệt từ quảng cáo phương tiện truyền thông truyền
thống trong nhiều cách. Các đặc điểm khác biệt nổi bật nhất được rằng quảng
cáo di động là tương tác và có thể được sử dụng để nhắm mục tiêu một cá
làm công cụ để thực hiện các chương trình Marketing. Điều này khẳng định và
giới hạn chỉ những hoạt động Marketing nào được thực hiện qua điện thoại di
động mới được coi là Mobile Marketing. Trong đó việc Martketing thực hiện
qua điện thoại di động được cụ thể hóa bằng việc cung cấp thông tin, truyền
thông, các chương trình giải trí để từ đó tạo ra cầu nối giữa doanh nghiệp và
người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của họ. Bên cạnh đó, khái niệm cũng nhấn
mạnh những tính năng vượt trội mang tính đặc trưng của kênh Marketing này
như tính tự động, trực tiếp, tương tác, hướng đối tượng và bất kỳ ở đâu, bất kỳ
lúc nào. Nội dung này giúp người đọc có thể nắm bắt được phạm trù cơ bản
nhất của Mobile Marketing và phân biệt được nó với các kênh Marketing
khác.
Mobile Marketing được định nghĩa rộng là bao gồm cả quảng cáo, ứng
dụng, tin nhắn, mCommerce và CRM trên tất cả các thiết bị di động như điện
thoại thông minh và máy tính bảng. Từ góc tiếp cận mang nhiều tính công
nghệ hơn, Dickinger và Haghirian (2004) lại mở rộng phạm vi của Mobile
Marketing sang các thiết bị có kết nối không dây khác. Với xu thế hội tụ và
tích hợp công nghệ ngày càng cao, những thiết bị hỗ trợ kết nối Internet không
dây như máy tính bảng, hay PDA sẽ là tương lai của ngành viễn thông di
động. Đây là sự mở rộng mang tính đón đầu cho tương lai phát triển của
Mobile Marketing. Vì thế, cho dù khái niệm này được đưa ra cách đây khá lâu
(2004) nhưng cho đến nay nó vẫn là khái niệm rất có giá trị và được nhiều nhà
nghiên cứu sử dụng. Dickinger - Haghirian (2004) quan niệm:
“Mobile Marketing là việc sử dụng phương tiện truyền thông tương tác
không dây để cung cấp cho khách hàng những thông tin đã được cá nhân hóa
với mục tiêu xúc tiến hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ và mang lại giá trị cho
các cổ đông.”
(Nguồn: Dickinger và Haghirian, 2004)
Trong khái niệm trên, khác với quan niệm coi Mobile Marketing là một
kênh Marketing hai chiều như MMA Global, Dickinger - Haghirian lại cho
rằng Mobile Marketing chỉ đơn thuần là hoạt động cung cấp thông tin về sản
chúng tôi tập trung vào nhắm vào việc đưa ra một cái nhìn tổng quan về thái
độ của người tiêu dùng đối quảng cáo di động nhìn vào những khía cạnh khác
nhau của hiện tượng tiếp thị mới này.
2.1.2 Đặc điểm của Mobile Marketing
2.1.2.1 Khả năng tương tác cao giữa khách hàng và doanh nghiệp
Là một trong những đặc tính quan trọng và hữu hiệu nhất của chiến
lược Mobile Marketing, tính tương tác hai chiều không những giúp nhà doanh
nghiệp có thể lắng nghe phản hồi từ khách hàng một cách trực tiếp (thông qua
việc gọi trực tiếp hay sự phản hồi lại qua tin nhắn), để từ đó đánh giá được
mức độ thành công của chiến dịch, mà còn giúp cho nhóm khách hàng có thể
23
có được những thông tin về sản phẩm, dịch vụ mới trên thị trường mọi lúc mọi
nơi.
2.1.2.2 Chi phí thấp - hiệu quả cao
Theo thống kê từ Wearesocial, đến đầu tháng 1 năm 2014, Việt Nam
với số dân hơn 90 triệu người, có hơn 134 triệu thuê bao đã đăng kí. Điều này
có nghĩa trung bình mỗi người dân Việt Nam sẽ có từ 1-2 thuê bao, mở ra vô
vàn cơ hội đối với các chiến dịch Marketing thông qua di động.
Đơn giản bằng cách gửi đi những thông báo đến những khách hàng đã
đồng ý cung cấp số di động, doanh nghiệp có thể thu về cho mình số lượng lớn
sự chú ý từ phía khách hàng của mình. “Theo hãng nghiên cứu FirstPartner,
các chiến dịch Mobile Marketing có tỉ lệ hồi đáp trung bình là 12% - gấp 4 lần
so với những hình thức Marketing khác (trung bình 2-3%)” - theo Đề tài Thực
tiễn áp dụng Mobile Marketing tại các TNCs trên thế giới và bài học kinh
nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam – Bùi Văn Lương, 2011.
2.1.2.3 Đa dạng và mang tính giải trí cao
Với sự phát triển không ngừng của điện thoại, đặc biệt là smartphone,
thế giới trong chiếc di động nhỏ bé dường như càng trở nên đa sắc đa hình hơn
bao giờ hết. Và đây cũng chính là cơ hội màu mỡ để các nhà hoạt động
marketing sáng tạo nên nhiều kịch bản, đưa ra nhiều chiến lược mới cho chiến
- Mang tính định hương, thông báo, nhắc nhở khách hàng về 1 sự kiện,
1 lời nhắn, xác nhận.
- Hiệu quả đầu tư cao hơn những phương tiện truyền thông khác, nhờ
marketing trực tiếp, có lựa chọn khách hàng.
- Chi phí thấp, góp phần gia tăng lợi nhuận bán hàng.
- 91% sẽ không xóa SMS trước khi đọc và 71% SMS sẽ lưu lại.
- 69% số người đọc SMS sẽ gọi đến thương hiệu thể hiện trong SMS
2.1.3.2 Bluetooth Marketing
Giải pháp này sẽ giúp bạn có được số điện thoại di động của khách
hàng trong một phạm vi nhất định về địa lý.
Chuyển tải được thông tin bóng bẩy về nội dung hơn vì bạn có thể gửi
một tấm hình, một video clip, một đoạn âm thanh… trong khi với SMS thì bạn
chỉ có thể gửi những ký tự (text).
Kênh này giúp bạn track được là đã gửi quảng cáo đến bao nhiêu thiết
bị, thiết bị nào xem, những người xem quảng cáo đó có đi đến một hành động
25