BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ TỚI
ðÁNH GIÁ LƯU HÀNH KHÁNG THỂ CHỐNG
MYCOPLASMA GALLISEPTICUM TRONG HUYẾT THANH
TRÊN ðÀN GÀ NUÔI TẠI MỘT SỐ Xà THUỘC HUYỆN MỸ
LỘC TỈNH NAM ðỊNH
ðÁNH GIÁ LƯU HÀNH KHÁNG THỂ CHỐNG
MYCOPLASMA GALLISEPTICUM TRONG HUYẾT THANH
TRÊN ðÀN GÀ NUÔI TẠI MỘT SỐ Xà THUỘC HUYỆN MỸ
LỘC TỈNH NAM ðỊNH
CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN BÁ TIẾP
HÀ NỘI, 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Toàn
bộ các số liệu và kết quả thu được là do bản thân tôi trực tiếp điều tra, thu
thập với một thái độ hoàn toàn khách quan và trung thực, chưa từng được sử
nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS. Nguyễn Bá Tiếp,
thầy đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo Sau đại học, Khoa Thú y, Học
viện Nông nghiệp Việt Nam cùng các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian học tập ở trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo Chi cục Thú y
Nam Định, Trạm Thú y huyện Mỹ Lộc, Trung tâm thú y vùng I cùng toàn thể
bạn bè, các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia đình và bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Nam ðịnh, tháng 12 năm 2014
Tác giả Lê Thị Tới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
1.3. Tình hình nghiên cứu bệnh do Mycoplasma ở gia cầm 18
1.3.1. Tình hình nghiên cứu bệnh do Mycoplasma ở gia cầm trên thế giới 18
1.3.2. Tình hình nghiên cứu CRD ở Việt Nam 19
Chương 2. ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 22
2.2. Nội dung nghiên cứu 22
2.3. Nguyên liệu 22
2.4. Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 23
2.4.2. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng điển hình của CRD 23
2.4.3. Pương pháp mổ khám 23
2.4.4. Xác định dung lượng mẫu 23
2.4.5. Phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính 23
2.5. Phương pháp sử lý số liệu 24
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1. Thực trạng chăn nuôi gà tại huyện Mỹ Lộc - Nam Định 25
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội. 25
3.1.2. Tình hình chăn nuôi gà tại một số xã của huyện Mỹ Lộc 25
3.1.3. Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà ở một số xã trên địa bàn
huyện Mỹ Lộc 28
3.1.3. Công tác vệ sinh thú y 29
3.2. Đánh giá lưu hành kháng thể chống Mycoplasma gallisepticum
(MG) trên đàn gà nuôi tại huyện Mỹ Lộc. 33
3.2.1. Đánh giá lưu hành kháng thể chống Mycoplasma gallisepticum theo
giống. 33
3.2.2. Sự lưu hành kháng thể chống Mycoplasma gallisepticum theo lứa tuổi. 38
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
ELISA Enzyme Linked Immunosorbent Assey
MG Mycoplasma gallisepticum
Nt Như trên
OIE Office Internationnal des épizooties (Tổ chức dịch tễ thế giới)
PCR Polymerase Chain Reaction (Phản ứng nhân gen)
PPLO Pleuro- Pneumonia- Like- Organissm
SPA Serum plate agglutination
µm Micromet Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1. Cơ cấu đàn gà trên địa bàn huyện Mỹ Lộc từ năm 2012 đến T6/2014 26
3.2. Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng được áp dụng tại các gia trại 28
3.3. Lịch tiêm vacxin phòng bệnh cho đàn gà tại các gia trại. 31
3.4. Lịch tiêm vacxin phòng bệnh cho đàn gà thả vườn 31
3.5. Lịch sử dụng thuốc phòng bệnh cho đàn gà nuôi tại các gia trại 32
3.6. Lịch sử dụng thuốc phòng bệnh cho đàn gà thả vườn 33
3.7. Kêt quả xác định lưu hành kháng thể chống MG theo giống gà. 34
3.7. Bệnh tích ở gà liên quan đến MG: Phổi viêm và hoại tử 47Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ðẦU
1.1. Tính cấp thiết của ñề tài
Chăn nuôi gà chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi của Việt
Nam. Hàng năm, chăn nuôi gà cung cấp khoảng 350 – 450 ngàn tấn thịt và
hơn 3,5 tỷ quả trứng. Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã góp
phần “đẩy nhanh việc đổi mới và phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng
trang trại, công nghiệp và nuôi chăn thả có kiểm soát”. Chăn nuôi gia cầm
đang trở thành một ngành sản xuất hàng hóa hiệu quả và bền vững. Với mục
tiêu tổng đàn gà tăng 5% năm, đạt 300 triệu con vào năm 2020, trong đó gà
công nghiệp chiếm 33%; sản lượng thịt gà đạt 1.760 tấn, chiếm 32% tổng sản
lượng thịt xẻ các loại; sản lượng trứng đạt 14 tỷ quả.
Để đạt được mục tiêu trên, ngoài yếu tố giống cho năng suất thịt và trứng
cao, việc tạo được đàn gà khỏe mạnh, không mắc các loại dịch bệnh là một
nhiệm vụ quan trọng của các nhà chuyên môn thú y cũng như người chăn nuôi.
Muốn vậy, công tác phòng và trị các bệnh truyền nhiễm cũng như các bệnh
không lây lan khác ở gà phải đươc trú trọng. Tuy nhiên, những kinh nghiệm
thực tế cho thấy việc phòng chống các loại dịch bệnh cho đàn gà khó khăn và
phức tạp hơn nhiều so với các loại vật nuôi khác. Khi quy mô chăn nuôi được
mở rộng thì dich bệnh cũng diễn biến phức tạp làm tăng chi phí nhân công, chi
phí cho các biện pháp chống dịch bệnh. Điều này đã làm ảnh hưởng đáng kể
đến hiệu quả kinh tế của nghề nuôi gà nói riêng và ngành chăn nuôi nói chung.
Trong khi đó nhu cầu của xã hội về thực phẩm ngày càng cao, đòi hỏi ngành
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về bệnh viêm ñường hô hấp mạn tính
CRD là bệnh truyền nhiễm của nhiều loài gia cầm (Ley, 2003). Bệnh
gây viêm thanh dịch có fibrin ở niêm mạc đường hô hấp trên và thành túi khí,
gây các triệu chứng khó thở, thở khò khè, vươn cổ để thở, gà bệnh thường ho,
chảy nước mắt, nước mũi.
Bệnh thường tiến triển chậm và kéo dài làm cho gà chậm lớn, gầy yếu,
giảm tỷ lệ đẻ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho một số vi khuẩn khác như:
E. coli, Salmonella, Pasteurella, xâm nhập vào cơ thể gây bệnh.
1.1.1. Nguyên nhân gây bệnh
Đối với gia cầm, bệnh có thể do nhiều loài Mycoplasma gây nên. Có bốn
loài gây bệnh điển hình: Mycoplasma gallisepticum, Mycoplasma synoviae,
Mycoplasma meleagridis, Mycoplasma iowae. Trong đó Mycoplasma
gallisepticum là nguyên nhân tiên phát gây CRD và viêm xoang truyền nhiễm ở
gà, gà tây và một số gia cầm khác.
1.1.2. Loài vật mắc bệnh
Trong thiên nhiên: gà, gà tây, gà sao dễ mắc bệnh. Bồ câu, vịt, ngan,
ngỗng ít cảm thụ. Ở gà tây, bệnh này được mô tả dưới tên viêm xoang mũi
truyền nhiễm (Infectious Sinustis in – Turkey). Năm 1926, Tyzzer đã phân lập
Mùa vụ mắc bệnh
Trong điều kiện khí hậu ở Việt Nam, nóng ẩm về mùa hè và gió lạnh về
mùa đông sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển
Bệnh tập trung vào đầu tháng 4 và giảm dần vào tháng 6, tháng 7.
1.1.4 Chất chứa mầm bệnh và con ñường truyền lây
Gà mang trùng nguồn bệnh chủ yếu. Gà trong thời kỳ nung bệnh và gà
có bệnh ẩn hay gà mang trùng là nguồn bệnh quan trọng. Đối với gà bệnh,
mầm bệnh có nhiều trong nước mắt, nước mũi, miệng. Cho nên khi gà hắt hơi
mầm bệnh được lan truyền vào không khí. Gà lành mắc bệnh do hít phải mầm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
bệnh. Dụng cụ chuồng nuôi bị nhiễm trùng ít có ý nghĩa dịch tễ, vì sức đề
kháng của Mycoplasma ngoài không khí rất yếu. Trứng gà có nguồn gốc từ
những đàn gà mắc CRD có ý nghĩa dịch tễ rất quan trọng vì căn bệnh có khả
năng truyền lây qua trứng (Bradbury et al, 1994). Các nghiên cứu đã cho thấy
rằng căn bệnh xâm nhập vào trứng không phải từ buồng trứng gà bệnh mà chủ
yếu từ ống dẫn trứng trong quá trình hình thành vỏ trứng. Điều này giải thích
lý do tại sao gà con mới nở đã mắc bệnh và bệnh lây lan nhanh từ một cơ sở
gà giống ra nhiều cơ sở chăn nuôi khác.
Kháng thể chống Mycoplasma đã được phát hiện trong lòng đỏ trứng gà
(Đào Trọng Đạt, 1975). Trên thế giới, gà trống mắc bệnh cũng có thể truyền
bệnh cho gà mái (Delaplane và Stuart, 1943). Như vậy ngoài đường hô hấp,
đường sinh dục cũng là cửa ngõ truyền bệnh rất nguy hiểm cho đàn gà.
Cơ chế gây bệnh
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, M. gallisepticum đến ký sinh và làm
viêm nhẹ niêm mạc đường hô hấp, niêm mạc mũi và các xoang xung quanh,
thành túi khí. Khi đó niêm mạc phù nhẹ, lớp dưới bị thâm nhiễm các tế bào
lympho và tế bào đơn nhân tạo nên các hạt nhỏ lấm tấm. Nếu sức đề kháng
Gà bị bệnh đầu tiên chảy nước mắt, nước mũi. Nước mũi lúc đầu loãng
sau đó đặc dần, màu trắng sữa bám đầy khóe mũi làm cho gà phải há miệng để
thở. Nước mắt quánh dần lại sau đó biến thành fibrin đóng kín mắt. Fibrin tích
tụ ngày càng nhiều tạo thành những khối tia bằng hạt ngô, hạt lạc nổi lồi trên
tròng mắt. Đôi khi giác mạc bị viêm loét viêm mủ toàn mắt, xoang mắt đặc
lại, con vật bị mù. Trong khi đó có hiện tượng viêm lan từ mũi ra các xoang
xung quanh,vách các xoang, đặc biệt là xoang mắt viêm sưng. Mặt gà bị biến
dạng nên đầu gà giống như đầu chim cú đặc biệt là ở gà tây. Các xoang lúc
đầu chứa thanh dịch loãng sau đó biến thành fibrin đặc.
Gà có hiện tượng rất khó thở nên thường xuyên phải há miệng để thở.
Gà thường xuyên lắc vẩy mỏ, sau đó là tiếng “khoẹc” biểu hiện nhiều về đêm
và sáng sớm. Có con có triệu chứng vận động.
Gà ăn ít, giảm tăng trọng rõ rệt, lông xơ xác, đàn gà có nhiều con bị còi
cọc. Phân của gà có màu xanh loãng, hơi nhớt hoặc màu xanh trắng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Gà con mắc bệnh tỷ lệ chết cao hơn gà lớn. Có khi chết mà chưa có bệnh
tích đặc trưng. Bệnh tích kéo dài 10 ngày tỷ lệ chết thấp khoảng 5- 12%, có
khi 20- 50% (Nguyễn Thị Hương và Lê Văn Năm, 1997).
Ở gà lớn:
Gà lớn mắc bệnh chủ yếu ở thể ẩn tính, triệu chứng lâm sàng không rõ.
Bệnh hay xảy ra chậm và kéo dài nhiều tháng. Dấu hiệu đặc trưng nhất là thở
khó, thở khò khè, viêm mũi một bên hoặc hai bên. Gà vẫn ăn tốt nhưng tăng
trọng chậm.
Gà ñẻ: giảm sản lượng trứng tới 50-60%, trứng nhỏ và dị dạng, tỷ lệ nở
thấp, tỷ lệ phôi chết tăng do phôi thường bị chết ngạt.
Gà bệnh còn có hiện tượng viêm khớp, viêm bao hoạt dịch (10-15%). Có
trường hợp gà biểu hiên triệu chứng thần kinh
Qua xét nghiệm mô học khí quản, thấy sự tăng sinh tế bào đơn nhân có
tính đặc hiệu ở niêm mạc. Các ổ tăng sinh lympho, các ống tuyến dịch của
biểu mô dài ra rõ rệt rất có ý nghĩa chẩn đoán vì với những biến đổi ấy người
ta không thấy có trong các bệnh. Trong mô phổi có tăng các tế bào lympho
dạng nang. Đặc biệt trong các phế quản nhỏ có viêm tăng sinh với các tế bào
đơn nhân và tế bào khổng lồ mang tính đặc hiệu của bệnh do Mycoplasma.
Tổn thương dạng u hạt này chiếm tỷ lệ đến 22,50% trường hợp bệnh trong tự
nhiên, còn ở các trường hợp gà con mắc bệnh thực nghiệm chỉ đạt tỷ lệ 7%.
Ở thai chết vào ngày thứ 8 – 14 có hiện tượng thủy thũng và chảy máu
ở đầu, cổ. Ở thai chết vào ngày thứ 15 – 21 ngoài hiện tượng xuất huyết và
thủy thũng ở đầu và cổ còn thấy màu trắng ở khớp háng – xương chày rất dễ
phân biệt với các chi có màu đỏ của máu. Các phôi bị bệnh có kích thước
ngắn, màng đệm niệu nang dày thêm đục khô dính chặt vào phôi; bụng to lên,
chân ngắn lại, khớp háng và khớp bàn bị viêm, ít thấy viêm màng phổi và
thủy thũng phổi.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
* Bệnh tích khi có bệnh ghép:
Khi bị nhiễm M. gallisepticum sẽ nhanh chóng lan tỏa toàn đàn gà làm
giảm sức đề kháng của con vật và dễ nhiễm các bệnh khác. Khi bị nhiễm bệnh
thứ phát thì bệnh sẽ tiến triển theo hướng phức tạp hơn.
Khi đã bị CRD, thì khả năng tạo miễn dịch do tiêm vacxin Newcastle
cũng bị giảm, cơ thể yếu làm cho gà không chống được virus cường độc và dễ
nhiễm Newcastle.
Khi có bệnh ghép với E. coli thì có bệnh tích của viêm ruột, viêm cata
* Chẩn ñoán phân biệt
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2009) cần phân biệt CRD với bệnh viêm
phế quản truyền nhiễm, viêm mũi truyền nhiễm, viêm thanh khí quản truyền
nhiễm, bệnh đậu gà, bệnh Newcatle, Aspergillosis thiếu vitamin A…"
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm: thường chỉ xảy ra ở những đàn gà
con dưới 6 tuần tuổi. Gà đẻ bị bệnh sẽ có triệu chứng cấp tính, tỷ lệ mắc bệnh
cao. Triệu chứng hô hấp của gà bệnh không phải thể hiện ở phần trên mà ở
phần dưới của đường hô hấp. Một số trường hợp gà bị sưng hầu, sản lượng
trứng giảm đột ngột.
Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm: nhầm với bệnh do CRD ở thể
nhẹ. Trường hợp này có thể kiểm tra vi thể niêm mạc khí quản để phát hiện
thể bao hàm, đồng thời có thể phân lập virus để định bệnh.
Bệnh ñậu gà: Trong bệnh đậu, màng giả niêm mạc miệng, hầu thường
dầy, tràn lan và khó bóc. Ngoài ra trong ổ dịch đậu, có biểu hiện triệu chứng
mụn đậu ngoài da.
Thiếu Vitamin A: Trong trường hợp bệnh nhẹ chỉ có thể bằng phương
pháp phân tích hàm lượng Vitamin A mới xác định được bệnh. Gà cũng có
hiện tượng chảy nước mắt, nước mũi do niêm mạc cơ quan hô hấp và mắt bị
tổn thương, đôi khi còn xuất hiện triệu chứng thần kinh. Bệnh phát triển chậm
và không lây lan.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
* Chẩn ñoán vi khuẩn học
Phân lập và xác định mầm bệnh là phương pháp chính xác nhất trong chẩn
đoán bệnh do M. gallisepticum gây ra.
Mẫu bệnh phẩm bao gồm : túi khí, phổi, dịch nhầy, tổ chức trong xoang,
đoán Mycoplasma bao gồm:
1. Phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính.
2. Phản ứng ngưng kết chậm trong ống nghiệm
3. Phản ứng ngưng kết và ngăn trở ngưng kết hồng cầu gà
4. Phản ứng ELISA.
5. Phản ứng ức chế sinh trưởng
6. Phản ứng kết tủa và khuyếch tán trên thạch
7. Kiểm tra khuẩn lạc bằng kháng huyết thanh
Trong đó, phản ứng huyết thanh được sử dụng thường xuyên nhất là
phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính (Serum plate agglutination -
SPA). Đây là một phản ứng được sử dụng như một kĩ thuật thường quy để
chẩn đoán, xác định gà bị bệnh.
Theo quy định của Cuba năm 1989 về tỷ lệ dương tính kháng thể kháng
MG MG cho phép với đàn gà giống là dưới 2%, OIE (2000) cho phép dưới 5%.
Đàn gà bị coi là nhiễm bệnh khi có trên 50% số mẫu kiểm tra cho phản
ứng dương tính. Nếu trong trường hợp tỷ lệ ít hơn nhưng khi kiểm tra gà có
biểu hiện triệu chứng, bệnh tích của bệnh thì đàn gà được coi là không an
toàn về bệnh CRD.
Phản ứng dương tính khi huyết thanh pha loãng 1/8 hay cao hơn có thể
kết luận gà bị nhiễm CRD (OIE, 2000).
1.1.8. Phòng bệnh
CRD được coi là một bệnh “chỉ thị” thông báo về sức đề kháng của vật
nuôi. Do vậy trong mọi trường hợp cần phải giữ tốt sức đề kháng, ở các trại gà
nuôi tập trung cần phải thường xuyên thực hiện tốt công tác vệ sinh chuồng trại
hàng ngày, định kỳ khử trùng chuồng trại, đảm bảo mật độ chuồng nuôi, chế độ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng phải đúng kỹ thuật, vệ sinh tốt môi trường xung
Mycoplasma khó bắt màu với các thuốc nhuộm thông thường. Để quan
sát được dưới kính hiển vi, sử dụng phương pháp nhuộm giemsa và Mycoplasma
bắt màu tương tự vi khuẩn gram âm.
*Cấu tạo
Mycoplasma chưa có thành tế bào vững chắc (chỉ một lớp màng
mỏng); nguyên sinh chất loãng nên dễ bị biến đổi hình dạng (Nguyễn Bá Hiên
và cs, 2009)
Trong cấu tạo của Mycoplasma, các chất đặc trưng đối với các tế bào vi
khuẩn (các nucotit). Lớp vỏ ngoài cùng của Mycoplasma chỉ là màng nguyên
sinh chất. Chiều dài của Mycoplasma từ 70- 100 A
0.
* Phân loại
Theo Subcommitte on the Taxonomy of Mycoplasmatales (1974), M.
gallisepticum thuộc: Lớp: Mollicutes
Họ: Mycoplasmatacene
Giống: Mycoplasma
Hệ thống phân loại Mollicutes như sau:
Giống Mycoplasma có 35 chủng trong đó có các chủng quan trọng như:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Mycoplasma gallisepticum, Mycoplasma synovie, Mycoplasma meliragridis,
Mycoplasma viner, Mycoplasma herminis, Mycoplasma canis, Mycoplasma
preamoniae, Mycoplasma edwardi, Mycoplasma hyopneumoniad.
1.2.2. ðặc tính nuôi cấy
Mycoplasma là một vi sinh vật trung gian giữa virus và vi khuẩn, có
đặc tính sống yếm khí hoặc hiếu khí tùy tiện. Theo Nelson, căn bệnh chỉ nuôi