BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
VŨ THỊ TRANG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG
CAO ĐẲNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH THÁI NGUYÊN CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60 34 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐỖ VĂN VIỆN Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện Luận văn tôi đã nhận được nhiều sự
quan tâm, giúp đỡ, góp ý của nhiều tập thể và cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS. Đỗ Văn Viện,
người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi về kiến thức cũng như phương
pháp nghiên cứu, chỉnh sửa trong quá trình thực hiện Luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, các Giáo sư,
Tiến sĩ giảng dạy tại Học viện Nông Nghiệp Việt Nam - những người đã trang bị
cho tôi những kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Có được kết quả nghiên cứu này tôi đã nhận được sự quan tâm tạo điều kiện
của các đồng chí trong Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái
Nguyên, sự tận tình cung cấp các thông tin, số liệu của các đơn vị phòng, ban trong
Nhà trường, sự đánh giá nhiệt tình của các thầy, cô và học sinh, sinh viên. Tôi xin
được ghi nhận và cảm ơn những sự giúp đỡ này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, những người
thường xuyên hỏi thăm, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù bản thân cũng rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện
Luận văn nhưng do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy, cô
giáo và tất cả bạn bè.
Hà Nội, tháng năm 2015
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Các lý thuyết liên quan đến chất lượng đào tạo 8
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 22
2.2.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo tại Trung Quốc 22
2.2.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo tại Việt Nam 23
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đặc điểm địa bàn 28
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 28
3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 29
3.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý 32
3.1.4 Quy mô đào tạo 34
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu 36
3.2.2 Phương pháp phân tích thông tin 41
3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Thực trạng chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính
Thái Nguyên 44
4.1.1 Kết quả đào tạo sinh viên 44
4.1.2 Chất lượng việc làm và thu nhập của HSSV 48
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của Nhà trường 51
4.2.1 Trình độ và kinh nghiệm của giảng viên 51
4 GDĐT Giáo dục đào tạo
5 HSSV Học sinh sinh viên
6 NCKH Nghiên cứu khoa học
7 NXB Nhà xuất bản
8 PGS.TS Phó giáo sư. Tiến sĩ
9 QTKD Quản trị kinh doanh
10 SL Số lượng
11 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
12 TP Thành phố
13 UBND Ủy ban nhân dân Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2.1 Tỷ lệ trung bình về vai trò của các giác quan trong việc thu nhận tri thức 21
2.2 Tỷ lệ tri thức còn lưu lại trong trí nhớ sau khi thu nhận bằng các giác quan 21
3.1 Số HSSV của trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên qua 3 năm 35
3.2 mẫu chọn khảo sát cán bộ, giáo viên 39
3.3 mẫu chọn khảo sát HSSV năm thứ 2 và thứ 3 39
3.4 mẫu chọn khảo sát các doanh nghiệp 40
4.1 Kết quả học tập của sinh viên 44
4.2 Kết quả rèn luyện của sinh viên qua các năm 45
4.3 Kết quả tốt nghiệp của sinh viên 47
4.4 Nhận xét của Đơn vị sử dụng sinh viên tốt nghiệp của trường 48
4.5 Việc làm, thu nhập của HSSV tốt nghiệp trường cao đẳng Kinh tế - Tài
Chính Thái Nguyên từ năm 2012 - 2013. 50
4.2 Cơ cấu trình độ giảng viên năm học 2013 - 2014 53Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự toàn cầu hoá và cuộc cải cách trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã làm
dấy lên nhu cầu về mô hình phát triển mới, trong đó xem con người là trọng tâm và
phát triển giáo dục dựa vào khoa học công nghệ là động lực then chốt cho sự phát
triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia. Toàn cầu hoá cũng đã mở rộng thị trường
nguồn nhân lực và điều kiện hội nhập cho giáo dục nước ta phát triển hiện đại hoá
và vươn lên đạt các chuẩn mực khu vực và quốc tế.
Như vậy, cùng với thế giới, chúng ta đã từng bước xây dựng một nền kinh tế
tri thức tuân theo sự điều tiết bởi cơ chế thị trường. Đào tạo nghề nghiệp trở thành
một ngành sản xuất đặc biệt – “Sản xuất nguồn nhân lực” và cũng phải tuân theo
quy luật cạnh tranh trên thị trường. Đây chính là một ngành dịch vụ, việc nâng cao
chất lượng dịch vụ là yếu tố sống còn của mỗi trường trong bối cảnh hội nhập và
cạnh tranh hiện nay, khi mà hệ thống các trường đại học, cao đẳng công, tư ngày
càng phát triển mạnh cả về quy mô và loại hình đào tạo.
Tuy nhiên, khi quy mô tăng nhanh mà các nguồn lực tại các cơ sở đào tạo còn
hạn chế, chưa đủ khả năng đáp ứng, tất yếu sẽ không tránh khỏi những nỗi băn
khoăn, lo lắng về chất lượng đào tạo. Đặc biệt, khi hoạt động của các doanh nghiệp
trở nên toàn cầu hóa hơn thì các doanh nghiệp phải có một lực lượng lao động có
trình độ tay nghề hơn. Điều đó đòi hỏi người tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại
học phải có những phẩm chất nhất định, có khả năng cạnh tranh thành công trên thị
trường lao động đang ngày một gay gắt. Cho đến nay bài toán về chất lượng nguồn
nhân lực vẫn còn khá nan giải, nguồn nhân lực tuy bước đầu đã được nâng cấp
Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên những năm qua, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao
chất lượng đào tạo của trường những năm tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa những lý luận cơ bản và thực tiễn về đào tạo và
chất lượng đào tạo của trường cao đẳng.
- Đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo của trường cao đẳng Kinh tế - Tài
chính Thái Nguyên những năm gần đây và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng đào tạo của trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Kinh tế
- Tài chính Thái Nguyên trong thời gian tới.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thế nào là chất lượng đào tạo cao đẳng? Đo lường chất lượng đào tạo cao
đẳng bằng những chỉ tiêu nào?
- Thực trạng chất lượng đào tạo của trường Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên
như thế nào?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của Nhà trường?
- Cần áp dụng các giải pháp gì nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà
trường trong thời gian tới?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng
Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
+ Các vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo.
+ Thực trạng chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính
nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, với mục tiêu giúp người
học lĩnh hội và nắm vững những tri thức một cách có hệ thống, tạo tiền đề cho
người học thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất
định. Khái niệm đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục. Thông thường, đào
tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có
một trình độ nhất định.
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ chu trình đào tạo
(Nguồn: Trần Khánh Đức, 2004)
2.1.1.2. Chất lượng đào tạo
Chất lượng luôn là vấn đề rất được quan tâm và việc phấn đấu nâng cao chất
lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở
Khách hàng
(Các yêu cầu)
Quá trình dạy
học
Khách hàng
(Sự thoả mãn)
Đầu vào Đầu ra
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
đào tạo nào. Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “chất lượng đào tạo”
dựa trên các “góc nhìn” khác nhau:
Chất lượng đào tạo được hiểu là mức độ đạt được mục tiêu đề ra đối với một
chương trình đào tạo. (Lê Đức Ngọc, 2005)
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc
phù hợp với nhu
cầu sử dụng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động” (Trần Khánh
Đức, 2004
)
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo
(Nguồn: Trần Khánh Đức, 2004)
Trong đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo là quá trình tổ chức thực hiện có
hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ quá trình đào tạo nhằm đảm bảo không
ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động (từ
khâu tìm hiểu nhu cầu thị trường lao động, thiết kế chương trình đào tạo đến khâu
tuyển sinh, tổ chức đào tạo và kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo).
Trường học là nơi tạo ra chất lượng đào tạo, nơi đảm bảo và nâng cao chất
Thực hiện được mục tiêu quản lý chất lượng sẽ tạo cơ sở vững chắc để thực
hiện các mục tiêu khác của Nhà trường như: Nâng cao sức cạnh tranh tạo uy tín và
thương hiệu của Nhà trường, mục tiêu ổn định và phát triển.
Nhà trường cần có các chức năng chủ yếu sau đây về quản lý chất lượng đào tạo.
- Hiện trưởng hướng dẫn đôn đốc kiểm tra để đạt được mục tiêu chất lượng.
- Lập mục tiêu kế hoạch và nhiệm vụ chất lượng.
- Xác định đổi mới giáo trình phù hợp với nhu cầu, cơ cấu cán bộ và trình độ
giáo viên cần phải có để đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Phân phối hoạt động giữ các phòng, khoa một cách khoa học.
- Kiểm soát, kiểm tra chất lượng đào tạo (theo giáo trình quản lý chất lượng
trong các tổ chức).
2.1.1.4. Đánh giá chất lượng đào tạo
Đánh giá trong giáo dục đào tạo là một quá trình hoạt động được tiến hành có
hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý về mục tiêu đã định.
Chất lượng đào tạo như đã trình bày ở phần trên, là một khái niệm động, đa chiều, và
gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người và người, do vậy không
thể dùng một phép đo đơn giản để đánh giá.
Việc đánh giá, đo lường chất lượng có thể được tiến hành bởi chính cán bộ
giảng dạy, sinh viên của trường nhằm mục đích tự đánh giá các điều kiện đảm bảo
chất lượng đào tạo cũng như đánh giá bản thân chất lượng đào tạo của trường mình.
Hoặc việc đánh giá, đo lường chất lượng cũng có thể được tiến hành từ bên ngoài do
các cơ quan hữu quan thực hiện với các mục đích khác nhau (khen - chê, xếp hạng,
khuyến khích tài chính, kiểm định công nhận…)
Dù đối tượng của việc đo lường, đánh giá chất lượng là gì và chủ thể của
việc đo lường, đánh giá là ai thì việc đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là xác định mục
đích của việc đo lường, đánh giá. Từ đó mới xác định được việc sử dụng phương
pháp cũng như các công cụ đo lường tương ứng. Mục đích của đánh giá trong giáo
dục hết sức đa dạng tuỳ thuộc vào đặc thù của từng trường, sự phát triển kinh tế xã
hội của đất nước và cả tuỳ thuộc vào quan điểm đánh giá của các chủ thể. Ví dụ,
2.1.2.1. Các mô hình quản lý chất lượng đào tạo
a. Mô hình quản lý chất lượng theo ISO 9000
ISO (International Organization Sandardization) - Tổ chức quốc tế về tiêu
chuẩn hoá với gần 200 quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam. ISO không quy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
định những tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm mà chỉ đưa ra những hướng dẫn, các
định mức về quản lý chất lượng sản phẩm.
ISO 9000 là sự kế thừa các tiêu chuẩn đã tồn tại và được sử dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực. ISO 9000 cũng đã được áp dụng vào giáo dục với yêu cầu cơ bản là
hình thành ở các cơ sở đào tạo hệ thống quản lý chất lượng theo tư tưởng đảm bảo tính
liên tục của các quá trình. Quá trình xây dựng hệ thống chất lượng là quá trình hết sức
quan trọng. Quá trình này gồm bốn giai đoạn chủ yếu:
Giai đoạn 1: Phân tích tình hình và hoạch định.
Giai đoạn 2: Viết các tài liệu của hệ thống chất lượng
Giai đoan 3: Thực hiện và cải tiến.
Giai đoạn 4: Công nhận.
Mô hình này có ưu điểm là quản lý được toàn bộ các khâu, các giai đoạn, các
hoạt động của quá trình đào tạo, nhất là các khâu, các hoạt động có thể dễ dàng
lượng hoá được như phát triển đội ngũ giảng viên, xây dựng trường sở, xây dựng
chương trình đào tạo, Hơn thế nữa, sản phẩm đào tạo không chỉ đáp ứng mục tiêu
của nhà trường mà còn thoả mãn nhu cầu của người sử dụng lao động. Tuy nhiên,
việc vận dụng ISO 9000 vào trong quản lý giáo dục không đơn giản vì việc thực
hiện ISO đòi hỏi mọi cá nhân, từ người lãnh đạo đến các thành viên từng bộ phận
phải hành động một cách đồng bộ. Hơn nữa, không như trong quản lý sản xuất hoặc
kỹ thuật, quản lý giáo dục là quản lý con người, trong đó luôn diễn ra quan hệ người
- người hết sức phong phú, sinh động và cũng rất phức tạp. Rất nhiều biểu hiện
không cân đong, đo đếm được. Vì những lý do đó, muốn áp dụng ISO 9000 trong
- Đầu vào : Sinh viên, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình đào
tạo, quy chế, luật định, tài chính
- Quá trình đào tạo: Phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo
- Kết quả đào tạo: Mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được và khả
năng thích ứng của sinh viên.
- Đầu ra: Sinh viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp ứng
nhu cầu kinh tế và xã hội.
- Hiệu quả: Kết quả của giáo dục đại học và ảnh hưởng của nó đối với xã hội.
Dựa vào 05 yếu tố đánh giá trên các học giả đã đưa ra 05 khái niệm về chất
lượng giáo dục đại học như sau:
- Chất lượng đầu vào: Trình độ đầu vào thỏa mãn các tiêu chí, mục tiêu đề ra.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
- Chất lượng quá trình đào tạo: Mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy và
học và các quá trình đào tạo khác.
- Chất lượng đầu ra: Mức độ đạt được của đầu ra (sinh viên tốt nghiệp, kết quả
nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác) so với Bộ tiêu chí hoặc so với các mục
tiêu đã định sẵn.
- Chất lượng sản phẩm: Mức độ đạt các yêu cầu công tác của sinh viên tốt
nghiệp qua đánh giá của chính bản thân sinh viên, của cha mẹ, của cơ quan công tác
và của xã hội.
- Chất lượng giá trị gia tăng: Mức độ năng lực của sinh viên tốt nghiệp
(kiến thức, kỹ năng, quan điểm) đóng góp cho xã hội và đặc biệt hệ thống giáo dục
đại học.
2.1.2.2. Các quan điểm đánh giá chất lượng đào tạo
a. Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Đầu vào”
Quan điểm này cho rằng: “Chất lượng một trường đào tạo phụ thuộc vào chất
trị “đầu ra” trừ đi giá trị “đầu vào”, kết quả thu được là giá trị gia tăng mà trường
học đã đem lại cho sinh viên và được cho rằng đó là chất lượng đào tạo của trường.
Quan điểm này chỉ tồn tại về mặt lý thuyết vì trên thực tế rất khó có thể thiết
kế một thước đo thống nhất về mặt định lượng để đánh giá chất lượng "đầu vào" và
"đầu ra" từ đó tìm ra mức chênh lệch để đánh giá chất lượng đào tạo.
d. Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”
Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường học phương tây, chủ yếu
dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ giảng
viên trong từng trường trong quá trình thẩm định, công nhận chất lượng đào tạo của
trường. Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng viên có học vị, học hàm
cao, có uy tín khoa học lớn thì được xem là trường có chất lượng cao.
Hạn chế của quan điểm này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được
đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh
của các trường để nhận tài trợ cho các chương trình nghiên cứu trong môi trường
không thuần học thuật. Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của
đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khi có xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu,
phương pháp luận ngày càng đa dạng. Đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục hiện nay
có quá nhiều các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, xu thế đa dạng hóa ngành
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
nghề, lĩnh vực đào tạo; sự buông lỏng trong quản lý cũng như khả năng quản lý yếu
kém trong giáo dục đã làm cho số lượng các học thuật mà các trường sở hữu tăng
những chất lượng cũng đang báo động.
e. Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức riêng”
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường đại học, cao đẳng phải tạo ra
văn hoá tố chức riêng” với những nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng
cao chất lượng đào tạo. Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp và
thương mại.
với sự đa dạng về nhận thức, quan điểm, tình cảm làm cho quá trình dạy học trở
thành hoạt động rất khó khăn và phức tạp. Người thầy không thể dạy tốt được nếu
chỉ nắm vững kiến thức của một môn học, có nghĩa là ngoài kiến thức của môn học
người thầy phải hiểu biết nhiều lĩnh vực khác như: Kiến thức của các môn học khác
có liên quan, kiến thức về tâm lý, giao tiếp, xử lý các tình huống sư phạm Vì vậy,
đối với giáo viên, thời gian và kinh nghiệm giảng dạy là một vốn quý, có vai trò rất
lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo.
Giảng dạy là quá trình truyền đạt tri thức, vấn đề quan trọng là người thầy
phải nắm vững kiến thức; biết mười dạy một, hai là thể hiện người thầy có kiến
thức. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là phải làm cho kiến thức của thầy trở thành
kiến thức của trò, có nghĩa là trò phải tiếp thu tốt kiến thức của thầy. Điều này có
quan hệ mật thiết đến phương pháp giảng dạy. Phương pháp dạy học là tổng hợp
các cách thức tác động của giáo viên và học sinh, sinh viên nhằm thực hiện tốt các
nhiệm vụ dạy học. Phương pháp giảng dạy được quy định bởi nội dung dạy học, nói
cách khác, nội dung dạy học chi phối việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các
phương pháp giảng dạy. Mặt khác, bản thân phương pháp là con đường, cách thức
để đạt tới mục đích nhất định. Để đạt được cùng một mục đích, những con người
khác nhau sẽ chọn những con đường (phương pháp) khác nhau. Lựa chọn con
đường nào lại tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, như: Nhận thức của mỗi người, đánh
giá chủ quan của mỗi người về đối tượng giảng dạy Ngay cả khi cùng sử dụng
một phương pháp thì do khả năng và trình độ của mỗi người thì khác nhau, nên kết
quả là chất lượng giảng dạy sẽ khác nhau. Xét phương pháp giảng dạy ở giác độ con
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
đường để đạt được mục đích, thì việc chọn con đường và đi trên con đường ấy như
thế nào là khả năng của mỗi người thầy và nó gần như có sẵn (bẩm sinh). Như vậy,
việc lựa chọn phương pháp, phối hợp và thực hiện các phương pháp giảng dạy vừa
dựa vào nội dung dạy học, vừa dựa vào khả năng của mỗi giáo viên, đây là công
sau khoá học, nó phác hoạ ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó
cũng cho biết các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả
học tập theo một thời gian biểu chặt chẽ. Cấu trúc của một chương trình đào tạo
thường gồm bốn yếu tố cơ bản:
- Mục tiêu đào tạo
- Nội dung đào tạo
- Phương pháp, quy trình đào tạo
- Cách đánh giá kết quả đào tạo
Như vậy, chương trình đào tạo vừa là chuẩn mực để hiện công tác đào tạo, vừa là
chuẩn mực để đánh giá chất lượng đào tạo. Với ý nghĩa này, chương trình đào tạo phải
thiết kế sao cho vừa đủ cả điều kiện chung (Chương trình khung theo yêu cầu do bộ giáo
dục và đào tạo phê duyệt) vừa phải có những bổ sung sao cho phù hợp với như cầu thị
trường lao động hiện tại để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động cũng như nền
kinh tế xã hội và nâng cao vị thế của nhà trường.
Chương trình đào tạo phải tuỳ theo từng ngành nghề mà bố trí số môn học,
số tiết giảng và trình tự sắp xếp thứ tự các môn học sao cho phù hợp, lô gíc, tạo
thuận lợi cho học sinh tiếp thu một cách có hệ thống và bài bản.
Thông thường, để phát triển một chương trình đào tạo cần thực hiện theo
năm bước cơ bản như sau:
Công tác quản trị trường ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Hệ
thống tổ chức trong Nhà trường hình thành nên các bộ phận, quan hệ công việc giữa
các bộ phận (phối hợp và tương trợ); mối quan hệ như thế nào sẽ liên quan đến thời
gian giải quyết công việc và hiệu quả công việc. Sự phân công nhiệm vụ giữa
những con người trong từng bộ phận (qua bản mô tả công việc) sẽ cho phép đánh
giá chính xác khối lượng và chất lượng công việc của từng người trong một thời
gian nhất định. Đó là cơ sở để khen thưởng, xử phạt và phân phối thu nhập một
cách chính xác. Đánh giá đúng thì sẽ động viên được mọi người đem hết khả năng
để làm việc, đồng thời hạn chế được những người dựa dẫm, cơ hội, gây mất đoàn
kết trong Nhà trường.
Để tổ chức quản lý tốt trong Nhà trường thì mỗi bộ phận phải xây dựng được
quy chế hoạt động và hoạt động theo đúng quy chế đó; giữa các bộ phận phải có
quy chế phối hợp. Ví dụ: Quy chế phối hợp giữa Đảng, chính quyền với các tổ chức
đoàn thể trong Nhà trường.
Hiệu quả của công tác quản lý chính là hiệu quả công tác của Nhà trường,
trong đó có chất lượng đào tạo. Hiện nay, các tổ chức, doanh nghiệp đều chú trọng
vào việc tổ chức lại bộ máy, đơn giản hóa thủ tục giải quyết công việc, giải quyết
công việc theo cơ chế "một cửa" đó chính là góp phần vào việc nâng cao chất lượng
công tác tổ chức mình.
Trong Nhà trường cũng như trong từng đơn vị thuộc Trường, mọi công việc
được đưa ra trao đổi, thảo luận nhằm phát huy trí tuệ tập thể nhưng phải có người