ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGUYỄN VĂN MẠNH
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CẤP TỈNH CỦA VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGUYỄN VĂN MẠNH
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CẤP TỈNH CỦA VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGÔ QUANG MINH
và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn nữa.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...........................................................................i
DANH MỤC BẢNG ...............................................................................................ii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ ............................................................................. iii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP
TỈNH (PCI) ............................................................................................................. 6
1.1. Cơ sở lý luận về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) ........................... 6
1.1.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh ............................................................................................................... 6
1.1.2. Quy trình xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh...................... 9
1.1.3. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ........................... 12
1.1.4. Đặc điểm của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ............................ 20
1.2. Tổng quan về chỉ số chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của các tỉnh, thành phố
qua các năm ...................................................................................................... 20
1.2.1. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2014 ............................................ 26
1.2.2. PCI của một số tỉnh, thành năm 2014 ................................................ 27
1.2.3. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Vĩnh Phúc ............................. 32
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................... 34
2.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết ................................................. 34
2.2. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 34
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP
TỈNH CỦA VĨNH PHÚC ...................................................................................... 36
3.1. Giới thiệu sơ lược về tỉnh Vĩnh Phúc .......................................................... 36
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................. 36
3.1.2. Môi trường kinh tế - xã hội ................................................................ 37
3.1.3. Những thuận lợi khó khăn ................................................................. 38
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 114
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
2
CBCCVC
Cán bộ, công chức, viên chức
3
CCHC
Cải cách hành chính
9
GPMB
Giải phóng mặt bằng
10
DN
Doanh ngiệp
11
KCN
Khu công nghiệp
12
TTHC
Thủ tục hành chính
13
PCI
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
ii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
HÌNH
Hình 3.1: kết quả 9 chỉ số thành phần PCI 2013 – 2014 ......................................... 40
BIỂU ĐỒ
Biểu 1.1: Chỉ số PCI qua các năm của tỉnh Lào Cai ............................................... 27
Biểu 1.2: Chỉ số PCI qua các năm của Đà Nẵng .................................................... 30
iii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang trong quá trình hội nhập, phát triển kinh tế, việc thu hút đầu tư
từ nước ngoài có ý nghĩa hết sức quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất
nước. Nhưng các các doanh nghiệp đầu tư vẫn còn hết sức quan ngại về triển vọng
phát triển trong tương lai vì các doanh nghiệp không dự đoán được các biến động
khác quan của nền kinh tế. Trong bối cảnh như vậy, các doanh nghiệp rất cần có
những chính sách, quy định rõ ràng, mình bạch và công bằng là hết sức cần thiết,
giúp cho các doanh nghiệp cạnh tranh công bằng, có một môi trường kinh doanh
năng động và phát triển. Để giúp cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện tốt hơn
công tác của mình, năm 2005, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
và dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) hợp tác xây dựng chỉ số
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) nhằm đánh giá và xếp hạng môi trường kinh
doanh của 42 tỉnh, thành, sau đó tiếp tục mở rộng ra, từ năm 2010 đến nay là 63 tỉnh.
giảm, và giảm khá sâu trong năm 2012 (năm 2012 xếp thứ 43). Bởi vậy nâng cao
chỉ số năng lực cạnh tranh nhằm cải thiện môi trường đầu tư đang là vấn đề đặt ra
cho tỉnh Vĩnh Phúc, đưa Vĩnh Phúc trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư,
và trở lại vị trí trong top 10 tỉnh dẫn đầu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Vì
những lý do nêu trên, qua nghiên cứu lý luận và từ thực tế công việc, học viên chọn
đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Phúc”.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là chỉ số đánh giá chất lượng điều
hành kinh tế cấp tỉnh được xem là lớn nhất và toàn diện nhất ở Việt Nam cho đến
nay và cũng là một trong những mối quan tâm của các tỉnh thành trong cả nước, có
tác động tích cực đến lãnh đạo các địa phương trong việc đề ra các giải pháp chỉ đạo
nhằm thúc đẩy hơn nữa quá trình cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh nhằm
giúp các doanh nghiệp phát triển đầu tư, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả tốt nhất.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được công bố thí điểm lần đầu tiên vào
năm 2005 cho 47 tỉnh, thành. Đây là dự án hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt
Nam (do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ - USAID tài trợ). Từ năm 2006 trở đi
tất cả các tỉnh đều được đưa vào xếp hạng. Trong bảng xếp hạng, các tỉnh, thành
phố được chia thành 6 nhóm từ Rất tốt (có số điểm PCI trên 65), Tốt (từ 60-65),
2
Khá (từ 53 đến dưới 60), Trung bình (từ 51 đến dưới 53), Tương đối thấp đến Thấp
(từ 50 trở xuống).
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là một trong những điều tra xã hội học
lớn và toàn diện (điều tra khoảng 7.000 doanh nghiệp trong nước và trên 1.000
doanh nghiệp FDI của gần 50 quốc gia đầu tư tại Việt Nam). Chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh cung cấp những thông tin hữu ích cho lãnh đạo tỉnh xác định lĩnh vực
và cách thức cải cách điều hành kinh tế hiệu quả nhất. Chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh được sử dụng như là một công cụ quan trọng để đo lường, đánh giá công
5. Phương pháp nghiên cứu luận văn
Đề tài được xây dựng dựa trên phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phân
tích, nghiên cứu các tài liệu có liên quan về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, kết
hợp với phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phân tích, xử lý thông tin từ nhiều kênh
thông tin khác nhau, như: thông tin của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn
tỉnh, thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước, các chuyên gia kinh tế, tham khảo,
học hỏi từ các địa phương... từ đó phân tích đánh giá để đưa ra hướng giải quyết vấn
đề của đề tài đề cập đến một cách khoa học, biện chứng. Trong đó:
- Nghiên cứu tổng quan: từ các cơ sở lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước.
- Thống kê, xử lý, phân tích các số liệu thu thập được để tổng hợp, so sánh,
đối chiếu, diễn giải và tư duy logic.
- Dự báo, định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2015 và những năm tiếp theo.
6. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Phân tích đánh giá về thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của
tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm qua, từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao chỉ số
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Phúc, nhằm thu hút đầu tư góp phần phát
triển kinh tế của tỉnh.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo... đề tài gồm có 4
chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Vĩnh Phúc.
4
Chương 4: Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của
Vĩnh Phúc.
hưởng quyết định mức sống của người dân. Khi năng suất lao động tăng lên làm
cho đồng lương mà người lao động nhận được nhiều hơn. Chủ đầu tư thu được lợi
nhuận nhiều hơn, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra tăng lên. Bên cạnh đó, tài giá trị
đóng góp vào sản phẩm cũng tăng lên là cho tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài
nguyên thiên nhiên cũng tăng lên. Suy cho cùng năng suất xác định mức sống của
người dân có bền vững hay không?.
6
- Năng lực cạnh tranh được các tỉnh chú trọng tới để có thể phát triển hơn
nữa kinh tế của tỉnh. Các tỉnh cần phải nắm được năng lực cạnh tranh không phải là
một tỉnh cạnh tranh trong lĩnh vực nào đó để phát triển mà là tỉnh đó cạnh tranh
hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực.
- Năng suất của một tỉnh có được từ sự kết hợp của các doanh nghiệp trong
và ngoài nước. Các doanh nghiệp trong và ngoài nước là nơi sản xuất hàng hóa
phục vụ tiêu dùng trong và ngoài nước. Cần có sự kết hợp giữa các doanh nghiệp
này để thúc đẩy quá tŕnh sản xuất và xuất khẩu hàng hóa được thuận lợi.
- Năng suất của các ngành nghề trong tỉnh là căn bản của năng lực cạnh tranh,
chứ không phải là năng lực cạnh tranh một ngành nghề xuất khẩu. Các ngành nghề sản
xuất trong tỉnh là cơ sở để nâng cao năng lực cạnh tranh. Chỉ khi đạt được năng suất
cao của các ngành nghề này thì mới có thể thúc đẩy quá trình phát triển tổng hợp. Nó là
tiền đề để các ngành xuất khẩu phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Do vậy, các tỉnh cạnh tranh trong việc tạo ra môi trường kinh doanh hiệu
quả nhất (mang lại năng suất cao nhất).
Các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân đóng các vai trò khác nhau nhưng
lại liên quan với nhau trong việc tao ra một nền kinh tế có năng suất cao.
1.1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Khái niệm: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (viết tắt của Provincial
Competitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng đánh giá chất lượng điều
triển của các ngành nghề góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất
lượng sống của người lao động. Đối với các doanh nghiệp, quá trình vận hành và lập
chiến lược ở cấp công ty đưa ra hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp, đây là điều làm
tăng năng suất lao động. Năng suất thực sự phụ thuộc vào việc cải thiện năng lực kinh
tế tầm vi mô và trình độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tỉnh.
Các lợi thế tự nhiên được coi là các lợi thế khách quan và tạo ra điều kiện
tốt cho tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đây có thể coi là một yếu tố
ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của tỉnh.
Hiện nay, mục tiêu của hầu hết các tỉnh là nâng cao năng lực cạnh tranh của
tỉnh mình để tìm kiếm và phát triển khu vực kinh tế tư nhân nhằm nâng cao tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội, nên cần kết hợp đồng bộ các yếu tố quyết định
tới năng lực cạnh tranh một cách phù hợp.
8
1.1.2. Quy trình xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Để xây dựng chỉ số PCI cần tiến thành theo ba bước chính đó là: Thu thập số
liệu, Xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần, Xây dựng chỉ số tổng hợp
PCI. Trong đó:
Bước 1: phương pháp thu thập số liệu xây dựng chỉ số PCI
Quá trình thu thập số liệu để xây dựng chỉ số PCI gồm có: thứ nhất, các
chuyên gia nghiên cứu tiến hành điều tra các các doanh nghiệp trong nước đảm bảo
mẫu đại diện đủ lớn, có thể đại diện cho tổng thể mẫu các doanh nghiệp trong cả
nước để thu thập thông tin đánh giá của các doanh nghiệp. Thứ hai, nhóm nghiên
cứu tiến hành thu thập các nguồn số liệu chính thống đã được công bố ở địa
phương. Mục tiêu là kết hợp cả số liệu khách quan (số liệu “cứng”) và số liệu chủ
quan (số liệu “mềm”: thể hiện cảm nhận đánh giá của các doanh nghiệp được điều
tra), để có thể cho những kết quả đáng tin cậy hơn so với chỉ sử dụng một trong hai
loại số liệu trên.
nghiệp và đánh giá của doanh nghiệp về 12 khía cạnh khác nhau trong
hoạt động quản lý và điều hành kinh tế của chính quyền địa phương.
-
Phương pháp điều tra: cơ nghiên cứu gửi bộ câu hỏi điều tra qua bưu
điện đến các doanh nghiệp (năm 2010 VCCI gửi phiếu điều tra tới 7.300
doanh nghiệp trong nước và 1.115 doanh nghiệp FDI). Sau khi nhận được
trả lời của doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu sử dụng các trợ giúp kỹ
thuật nhằm loại bỏ các sai số không đáng tin cậy.
Số liệu “cứng’’: Các phương pháp được cơ quan nghiên cứu sử dụng thu thập
số liệu như: lấy ý kiến chuyên gia; sử dụng bộ câu hỏi so sánh; và số liệu thống kê.
-
Lấy ý kiến chuyên gia: thu thập ý kiến của các chuyên gia về chất lượng
quản lý và điều hành đối với từng tỉnh để hiệu chính những sai lệch trong
đánh giá của các doanh nghiệp trong tính toán chỉ số cuối cùng.
-
Sử dụng bộ câu hỏi so sánh: với cách này, các nhà nghiên cứu cần bổ
sung thêm một số câu hỏi chuẩn so sánh trong các phiếu điều tra để các
doanh nghiệp đánh giá và xếp hạng 10 tỉnh theo môi trường chính sách
tốt nhất và tồi nhất, sau đó xếp hạng tỉnh nơi doanh nghiệp đang hoạt
động vào danh sách đó.
-
Số liệu thống kê: để tiến hành thu nhập số liệu từ các nguồn công bố
nhân ở Việt Nam. Các chỉ tiêu sau khi đã chuẩn hóa tính trung bình để tạo ra từng
chỉ số thành phần.
Thứ ba: tính toán trọng số cho mỗi chỉ số thành phần. Do các chỉ số thành
phần PCI có ảnh hưởng khác nhau và vai trò quan trọng khác nhau khi lý giải sự
khác biệt về kết quả phát triển khu vực kinh tế tư nhân, VCCI và VNCI đã tính toán
trọng số tương ứng với mức độ đóng góp thực sự của từng chỉ số đối với việc phát
triển kinh tế tư nhân như: tỷ lệ doanh nghiệp dân doanh; vốn đầu tư dài hạn của khu
vực tư nhân tính bình quân đầu người; và lợi nhuận bình quân trên một doanh
nghiệp tính theo triệu đồng.
Cuối cùng:Tính toán chỉ số PCI. Trên cơ sở điểm số và trọng số tương ứng của
từng chỉ số thành phần, nhóm nghiên cứu đưa ra chỉ số PCI tổng hợp cuối cùng
được chuẩn hóa theo thang điểm 100. Các tỉnh sẽ được ra vào các nhóm như là:
11
- Rất tốt: Nhóm này gồm các tỉnh vượt trội rõ rệt so với các tỉnh còn lại. Đây
là nhóm tỉnh đứng đầu với mọi chỉ số thành phần được đánh giá rất cao, có từ 3-4
chỉ số thành phần có điểm đạt trên 8,0 điểm. Ở những tỉnh này, các doanh nghiệp tư
nhân phát triển nhanh, mạnh và khá sôi động, đồng thời các doanh nghiệp đánh giá
rất cao môi trường đầu tư của tỉnh.
-Tốt: Nhóm này bao gồm các tỉnh có hầu hết chỉ số đều có kết quả tốt và đặc
biệt tốt ở các chỉ số thành phần có trọng số cao. Ở những tỉnh này, nhiều doanh
nghiệp phát triển và thu hút nhiều doanh nghiệp mới.
-Khá: Nhóm này bao gồm các tỉnh có chỉ số trên điểm trung vị. Trong nhóm
này các tỉnh thực hiện khá tốt ở nhiều điểm thành phần, nhưng vẫn còn có kết quả
nghèo nàn ở một số điểm thành phần khác. Ở nhóm tỉnh này, các doanh nghiệp tư
nhân phát triển ở mức khá, và tại tỉnh cần nhiều cải thiện nhiều để thu hút và giữ
chân nhà đầu tư.
-Trung bình: Nhóm này bao gồm các tỉnh có kết quả khá nghèo nàn ở nhiều
lĩnh vực, tuy nhiên vẫn đạt được một số kết quả khá ở một vài chỉ số thành phần.
- Số lượng giấy đăng ký, giấy phép kinh doanh cần thiết để chính thức hoạt động;
- Thời gian chờ đợi để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- % doanh nghiệp mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh doanh;
- % doanh nghiệp mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh;
- % DN gặp khó khăn để có đủ các loại giấy phép cần thiết (bỏ từ năm 2009);
2. Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: Đo lường về hai
khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đai có
dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi
có được mặt bằng kinh doanh hay không, gồm:
- % doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- % diện tích đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: Rất cao đến 5: Rất thấp);
- Nếu bị thu hồi đất, doanh nghiệp sẽ được bồi thường thỏa đáng (% Luôn
luôn hoặc Thường xuyên);
- Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi của giá thị
trường (% Đồng ý);
- Doanh nghiệp không đánh dấu ô nào trong danh mục lựa chọn cản trở về
mặt bằng kinh doanh;
13
- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro về thay đổi các điều kiện cho thuê (1: Rất
cao hoặc 5: Rất thấp);
- % doanh nghiệp cho rằng thiếu mặt bằng kinh doanh hạn chế khả năng mở
rộng kinh doanh của họ (bỏ từ năm 2009);
- % doanh nghiệp đánh giá Chính sách chuyển đổi đất nông nghiệp của tỉnh
là Tốt hoặc Rất tốt (bỏ từ năm 2009);
- Nếu hợp đồng cho thuê thay đổi, sẽ có cơ chế giải quyết tranh chấp công
bằng (% Luôn luôn hoặc Thường xuyên) (bỏ từ năm 2009);
3. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: Đo lường khả năng tiếp cận các
chính thức;
- % doanh nghiệp phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không
chính thức;
- Cán bộ tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương với mục đích trục
lợi (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý);
- Công việc được giải quyết sau khi chi trả chi phí không chính thức (%
Luôn luôn hoặc Thường xuyên);
- Doanh nghiệp trả hoa hồng để có được hợp đồng từ các cơ quan nhà nước
(% Đúng);
- % doanh nghiệp cho rằng các chi phí không chính thức là cản trở chính
đối với hoạt động kinh doanh (bỏ từ năm 2009);
6. Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: Đo lường tính sáng
tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương
cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư
nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa
rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp.
- Tỉnh rất linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh
doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý);
- Tỉnh sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại đối với
cộng đồng doanh nghiệp (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý);
- Cảm nhận của doanh nghiệp về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu
vực tư nhân (% Tích cực hoặc Rất tích cực);
- Tỉnh có sáng kiến tốt nhưng còn nhiều cản trở ở Trung ương (% Đồng ý
hoặc Hoàn toàn đồng ý) (bỏ từ năm 2009);
15
- Không có sáng kiến nào ở cấp tỉnh, tất cả đều đến từ cấp Trung ương (%
Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý) (bỏ từ năm 2009).
7. Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: Chỉ số này trước kia có tên gọi là Chính