PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai cũng là thành phần quan trọng tạo ra môi trường sống, là địa
bàn phân bố và cư trú của dân cư, và chính đất đai là điều kiện để xây dựng
các cơ sở hạ tầng, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng của đất
nước. Do đó, đất đai không chỉ gắn liền với sản xuất nông nghiệp mà còn là
điều kiện không thể thiếu để phát triển kinh tế đất nước.
Ngày nay, quá trình phát triển kinh tế thế giới diễn ra ngày càng mạnh
mẽ đã có tác động tích cực đến cơ cấu kinh tế Việt Nam, nhất là trong cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nông thôn có sự thay đổi rõ rệt. Cụ thể là có sự thay đổi
đáng kể trong cơ cấu đất đai, tỷ lệ diện tích đất chuyên dùng và đất ở có xu
hướng ngày càng tăng lên trong khi tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp có xu
hướng giảm xuống. Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
vì mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn, một số địa phương đã và đang tiến
hành các chương trình, dự án nhằm thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp nông
thôn. Vì vậy, việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích xây dựng KCN
đang diễn ra mạnh mẽ. Chính điều này đã ảnh hưởng đến sản xuất nông
nghiệp và đời sống của cư dân nông thôn. Để bảo đảm cho người dân sản xuất
ngày càng phát triển và đời sống ngày càng nâng cao thì trước tiên vấn đề thu
hồi và đền bù đất nông nghiệp cho nông dân là hết sức quan trọng và cần
được tính toán đền bù hợp lý, nhằm đảm bảo cho nông dân không bị thiệt
thòi, ổn định việc làm và thu nhập.
Chính từ thực tế trên, một số vấn đề lớn đặt ra là: Số tiền mà người
dân được đền bù để giúp họ ổn định cuộc sống và chuyển đổi nghề mới nên
được sử dụng như thế nào?, sử dụng vào những việc cho đúng mục đích và
có hiệu quả nhất?, và có những yếu tố nào tác động tới việc sử dụng tiền
đền bù của hộ nông dân?...Trả lời được những câu hỏi đó sẽ góp phần đáng
1
Đất đai là tư liệu đầu tiên và cần thiết nhất khi tiến hành sản xuất cho
nên người dân muốn sản xuất nông nghiệp thì bắt buộc phải có đất và thông
qua đất người dân có thể cải tạo, tác động tới đất để tạo ra của cải vật chất. Do
đó, đất đai vừa là tư liệu lao động và vừa là đối tượng lao động của người dân
trong sản xuất nông nghiệp.
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá tham gia vào quá trình sản xuất
của xã hội song tuỳ từng ngành cụ thể mà sự tham gia của đất là khác nhau.
3
Còn đối với nông nghiệp, đất đai tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của
quá trình sản xuất nên sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào số lượng và
chất lượng đất. Vì vậy, cần phải sử dụng hợp lý đất đai vì đây chính là
nguồn lực để tạo ra thu nhập cho người nông dân, là yếu tố quan trọng để
tạo ra những hàng hoá thiết yếu nuôi sống con người và cung cấp đầu vào
cho một số ngành công nghiệp chế biến và cung cấp hàng hoá cho xuất
khẩu.
Đất đai có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội nhất là
trong điều kiện như hiện nay khi mà đất nước đang diễn ra quá trình CNH HĐH. Bởi lẽ đất đai chính là thành phần quan trọng để xây dựng các cơ sở
kinh tế - văn hoá - xã hội.
2.1.2 Đền bù và việc sử dụng tiền đền bù của nông hộ
2.1.2.1 Khái niệm đền bù đất nông nghiệp
Trong đền bù đất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất của nông hộ
để xây dựng khu công nghiệp thì Nhà nước phải tính toán “đền” tiền cho
người dân một khoản tương ứng và phù hợp với giá trị hiện tại mảnh đất đó,
và “bù” bằng tiền cho những giá trị tương lai mà mảnh đất này có thể tạo ra
trên cơ sở tính toán ở hiện tại. Ngoài ra khi thu hồi đất thì người nông dân
không có việc làm do mất tư liệu sản xuất, Nhà nước tiếp tục tính toán “bù”
thêm một khoản cho người nông dân chuyển đổi nghề mới, tạo việc làm và
việc làm cho nông hộ như: xây dựng nhà cửa, mua đồ dùng sinh hoạt, trả nợ,
chia cho con cháu,…
• Các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng tiền đền bù của hộ
Các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng tiền đền bù của hộ có thể được
chia thành nhóm yếu tố bên trong hộ và nhóm yếu tố bên ngoài hộ:
- Nhóm yếu tố bên trong hộ bao gồm các yếu tố như trình độ và tuổi
của chủ hộ, thu nhập của hộ trước khi nhận tiền đền bù, diện tích đất bị mất,
… sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc tiêu dùng tiền đền bù của hộ.
5
- Nhóm yếu tố bên ngoài hộ như: điều kiện phát triển kinh tế và định
hướng phát triển các ngành nghề, dịch vụ của địa phương; hình thức dải ngân
tiền đền bù; khả năng thu hút lao động của khu công nghiệp,… sẽ ảnh hưởng
gián tiếp tới tiền đền bù của hộ.
2.1.3 Cơ sở lý luận chung về khu công nghiệp
2.1.3.1 Khái niệm về khu công nghiệp
Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được
thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực
hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh
giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng
đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này.
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ
trường hợp quy định cụ thể.
2.1.3.2 Sự hình thành các khu công nghiệp
Khu công nghiệp là một khu vực sản xuất công nghiệp tập trung trên
một phạm vi lãnh thổ nhất định. Một khu công nghiệp có thể gồm một cụm
2.2.1 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp, vấn đề việc làm và sử dụng lao
động ở Việt Nam hiện nay
Thời gian qua, cùng với sự phát triển của KCN và quá trình đô thị hóa
nhanh, mạnh mẽ là diện tích đất nông nghiệp (chủ yếu là đất thâm canh lúa)
đang bị nhiều địa phương thu hồi. Tình trạng này đã khiến cho người nông
dân nhiều địa phương trong cả nước rơi vào tình trạng không có đất canh tác.
Theo điều tra của Bộ Nông nghiệp và PTNT tại 16 tỉnh trọng điểm về
thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp chiếm 89% diện tích đất thu hồi và số
còn lại là diện tích đất thổ cư. Mặc dù diện tích đất nông nghiệp thu hồi chỉ
chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên (chiếm 1- 2%), nhưng lại
chủ yếu tập trung vào một số xã, huyện có mật độ dân số cao, tỷ lệ diện tích
đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có xã có diện tích bị thu hồi chiếm
7
tới 70 – 80% diện tích đất canh tác. Theo kế hoạch, những năm tới có xã có
thể chuyển đổi 100% diện tích đất nông nghiệp, kéo theo nhiều hộ bị thu hồi
100% diện tích đất sản xuất. Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn
nhất là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai (19.752 ha), Bình Dương (16.627
ha), Cà Mau (13.242 ha), Hà Nội (7.776 ha), Vĩnh Phúc (5.573 ha), Hải
Dương (3.146 ha)… Khoảng 70% số hộ có diện tích đất thu hồi từ 50% diện
tích đất sản xuất trở lên.
Theo dự báo của Bộ NN&PTNT, đến năm 2010, bình quân đất nông
nghiệp trên một nhân khẩu chỉ còn 0,108 ha (so với 10 năm trước giảm 0,005
ha); trong khi đó, mức bình quân đất nông nghiệp của thế giới hiện nay là
0,23 ha/người. Vấn đề này đã được Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT báo động
nhiều lần. Tuy nhiên, tình trạng này không những không ngăn chặn được mà
còn có chiều hướng gia tăng. Tính riêng giai đoạn từ 2001-2005, tổng diện
tích đất bị thu hồi cả nước đã lên tới trên 366 nghìn ha (chiếm gần 3,9% quỹ
nghiệp... Đơn thuần, không có đất canh tác, lại không kiếm được công việc
mới nên thu nhập của 37% số hộ nông dân bị thu hồi đất bị sụt giảm so với
trước đây, và chỉ có 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước.
Như vậy có thể nói việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các KCN
không chỉ ảnh hưởng đến việc làm của người dân có đất bị thu hồi, mà còn
ảnh hưởng rất lớn và sâu sắc đến thu nhập, cũng như đời sống vật chất và tinh
thần của gia đình họ. Chính vì vậy, Nhà nước đã có chính sách bồi thường
cho họ để bù đắp cho một phần những ảnh hưởng đó. Nhưng việc sử dụng
tiền đền bù, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân đôi khi cũng
chưa hợp lý, chủ yếu dùng để xây nhà, mua sắm, chỉ chiếm một lượng khiêm
tốn hộ dùng số tiền đó một cách thiết thực. Do đó, chuyện nhận tiền đền bù
vài trăm triệu đồng nhưng chỉ sau 1-2 năm lại trở thành hộ nghèo. Không chỉ
nguy cơ thất nghiệp, nghèo đói đe dọa người nông dân bị mất đất sản xuất mà
nó còn kéo theo nhiều hệ lụy khác. Chẳng hạn vấn đề an ninh nông thôn cũng
bị xáo trộn đáng kể khi có một lượng lớn người thất nghiệp tại địa phương,
cùng với một lượng lớn lao động từ các nơi khác đổ về....
9
Do đó, các tỉnh cần tìm được lối ra hợp lý, tạo cơ hội để nông dân
chuyển sang ngành nghề mới và tay nghề được nâng cao hơn để đáp ứng với
yêu cầu của sản xuất hàng hóa.
2.2.2 Kinh nghiệm về sử dụng tiền đền bù của hộ nông dân bị thu hồi đất
nông nghiệp ở một số địa phương
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp tỉnh Hưng Yên phát
triển vượt bậc cả về giá trị sản xuất, mức tăng trưởng và thu hút được rất nhiều
các dự án công nghiệp trong và ngoài nước. Các dự án đi vào hoạt động đã
giải quyết được một lượng lớn việc làm cho lực lượng lao động của địa
phương. Với số tiền đền bù đất nông nghiệp mà hộ nông dân nhận được, ở
lại cho người hàng xóm để mở quán cơm bình dân.
Nhờ sử dụng số tiền đền bù đúng mục đích mà cuộc sống của người
dân Hưng Yên đang ngày càng đổi thay không ngừng, hàng trăm gia đình đã
đổi đời trên chính mảnh đất của mình từ khi khi tỉnh Hưng Yên "trải thảm đỏ"
mời gọi các nhà đầu tư vào khu công nghiệp.
Kinh nghiệm sử dụng tiền đền bù của các hộ nông dân ở tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc đã áp dụng chính sách cấp đất dịch vụ cho nông dân sau thu
hồi đất để phục vụ phát triển công nghiệp, tạo cơ hội cho người nông dân sử
dụng đúng mục đích tiền đền bù vào phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời
cũng là động lực thúc đẩy công tác đền bù giải phóng mặt bằng. Dịch vụ
chính của người dân khi được cấp đất đền bù là xây nhà cho thuê và đối tượng
thuê chính là công nhân lao động trong các khu công nghiệp. Theo ông Trịnh
11
Đình Dũng - Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, cơ chế này xuất phát từ chính yêu cầu
của tỉnh Vĩnh Phúc: lấy đất của dân để làm công nghiệp nhưng không làm bần
cùng hóa người dân. Bởi người dân nếu chỉ nhận tiền đền bù giải phóng mặt
bằng thì rất thiệt thòi, sử dụng chưa chắc đã hiệu quả hợp lý. Trong khi đó,
việc xây nhà cho công nhân thuê, Nhà nước cũng như các doanh nghiệp chưa
làm được vì hiệu quả kinh doanh không cao (nếu giá cao thì công nhân không
thuê, thấp thì doanh nghiệp lỗ) nên để người dân làm là phù hợp nhất.
Ngoài ra, Vĩnh Phúc còn tạo điều kiện cho một bộ phận nhân khẩu có
khả năng lao động trong các hộ dân bị thu hồi đất được tuyển vào làm việc
trong khu công nghiệp; những người không đủ điều kiện làm việc trong khu
công nghiệp thì làm dịch vụ. Nhờ vậy, người dân bị thu hồi đất được tham gia
các dịch vụ phục vụ luôn cho khu công nghiệp và khu đô thị, giải quyết được
vấn đề việc làm khi người dân mất đất sản xuất.
Một số doanh nghiệp điển hình đã sử dụng người lao động tại nơi thu
đất tốt nghiệp trung học phổ thông và 14% lao động được đào tạo chuyên
môn kỹ thuật từ sơ cấp hoặc học nghề trở lên.
Với một nước có hơn 70% số dân sống bằng nông nghiệp và sống ở
nông thôn như nước ta nên các chính sách về thu hồi và đền bù đất nông
nghiệp của Đảng và Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ, tâm trạng
và tính tích cực hoạt động của nông dân. Do đó, đối với hộ nông dân không
còn đất sản xuất, cần giải quyết một số chính sách, biện pháp cụ thể sau đây:
- Trước tình trạng nông dân thiếu đất sản xuất ngày càng có xu hướng
tăng, việc giao đất không chỉ dừng lại ở việc ưu tiên cho người có hộ khẩu
trong vùng, khu vực, địa phương, mà có thể mở rộng cho các đối tượng nghèo
không có ruộng trong cả nước với những biện pháp quản lý chặt chẽ về mặt
pháp lý. Hội Nông dân chủ động phối hợp với chính quyền và các đoàn thể
nhân dân ở địa phương để hòa giải, giải quyết các vấn đề mâu thuẫn phát sinh
trong nông thôn, nhất là những vấn đề về đất đai.
13
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không sinh sôi nảy nở thêm. Vì
vậy, phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có hiệu quả, nâng cao độ phì
của đất, bồi bổ đất, để đất ngày càng có hiệu quả kinh tế cao. Phải sử dụng đất
tiết kiệm, hạn chế sử dụng đất hai vụ lúa vào xây dựng KCN, đô thị. Quy
hoạch KCN và đô thị vào đất đồi, bãi đầm lầy (có đất địa tô chênh lệch thấp),
nơi xa đô thị, xa trung tâm thì mở đường giao thông và chuyển các dịch vụ về
gần với nông thôn, nông dân hơn. Thật cần thiết mới sử dụng đến đất tốt, đất
trồng cây lương thực.
Quy hoạch sử dụng đất để xây dựng các KCN, khu đô thị mới cần thông báo
sớm, một cách công khai để cho nhân dân được biết. Các cấp ủy, chính
quyền, các đơn vị nhận đất cần phối hợp với các đoàn thể nhân dân, trong đó
Hội Nông dân các cấp là nòng cốt để tiến hành các thủ tục cần thiết và tuyên
thị trấn (thị trấn Hồ) và 17 xã với diện tích đất tự nhiên toàn huyện là
11.791,01 ha, chiếm 14,67% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.
3.1.1.2 Khí hậu
Thuận Thành thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa
rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô – lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau, còn mùa mưa – nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ
trung bình trong năm là 23,3oC, trong đó nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là
28,9oC (tháng 7) và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8oC (tháng 1).
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.400mm –
1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu vào mùa
mưa chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 20%
tổng lượng mưa cả năm. Điều này đã gây khá nhiều khó khăn như hiện tượng
16
ngập úng cục bộ trong những tháng mùa mưa và hạn hán cục bộ trong những
tháng mùa khô.
Độ ẩm trung bình hàng năm là 78%, trong đó tháng cao nhất lên tới
86% (tháng 3) và tháng thấp nhất là 70%, đây là một đặc điểm phổ biến ở
nhiều nơi thuộc khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.
Nhìn chung, khí hậu của Thuận Thành thuận lợi cho việc phát triển
nền nông nghiệp đa dạng và phong phú. Đặc biệt mùa khô – lạnh rất thuận lợi
cho việc trồng các cây rau màu vụ đông có giá trị cao.
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai
Huyện Thuận Thành thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ là khu vực đất đai
màu mỡ có điều kiện tốt cho phát triển nông nghiệp. Trong cơ cấu đất đai của
huyện năm 2007, diện tích đất nông nghiệp vẫn là chủ yếu với 7741,49 ha
chiếm 65,66% tổng diện tích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp chiếm 33,51%
3.1, chúng ta thấy diện tích đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp của
huyện tăng lên cả về số tuyệt đối và số tương đối, từ 215,37 ha chiếm 11,65%
tổng diện tích đất chuyên dùng của huyện năm 2007 tăng lên 584,41 ha năm
2009 chiếm 25,54% diện tích đất chuyên dùng, bình quân 3 năm tăng 64,73%.
Có sự thay đổi trong cơ cấu đất này chủ yếu là do sự chuyển đổi từ đất trồng
lúa, đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thuỷ sản sang đất xây dựng các
KCN nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện đang ngày
một tăng cao. Còn lại, diện tích các loại đất phi nông nghiệp khác cũng có sự
biến đổi nhưng không nhiều, trong đó biến đổi nhiều nhất là diện tích đất
quốc phòng, an ninh từ năm 2008 chỉ có 1,84 ha nhưng năm 2009 tăng lên
30,22 ha do xây dựng trường trung cấp An ninh.
Diện tích đất chưa sử dụng của huyện chiếm tỷ lệ rất nhỏ, năm 2007 chỉ
chiếm 0,82% tổng diện tích tự nhiên của huyện tương ứng với 97,55 ha và
năm 2009 giảm xuống còn 91,66 ha tương ứng với 0,78%.
Cũng từ một số chỉ tiêu phân tích trong bảng 3.1 cho thấy, bình quân
diện tích đất tự nhiên/hộ, đất nông nghiệp/khẩu của huyện thấp và đang có xu
hướng giảm dần. Nguyên nhân là do diện tích đất tự nhiên không thay đổi,
diện tích đất nông nghiệp giảm dần còn tổng số hộ và số nhân khẩu lại liên
18
tục tăng lên trong 3 năm nghiên cứu từ 2007 – 2009. Ngược lại, diện tích đất
nông nghiệp/lao động nông nghiệp và diện tích đất nông nghiệp/hộ nông
nghiệp lại có xu hướng tăng lên vì diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh hơn
tổng số lao động nông nghiệp và tổng số hộ nông nghiệp.
Nhìn chung, tình hình sử dụng đất đai của huyện Thuận Thành trong 3
năm từ 2007 – 2009 có những biến động lớn và xu hướng này sẽ còn tiếp tục
diễn ra mạnh mẽ hơn trong vài năm tới. Nguyên nhân chính là do chủ trương
của huyện phát triển kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp
6. Đất phi nông nghiệp khác
C. Đất chưa sử dụng
II. Một số chỉ tiêu BQ
1.Đất TN/khẩu
2. Đất NN/khẩu
3. Đất NN/lao động NN
4. Đất NN/ hộ NN
2007
SL(ha)
CC(%)
11791.01
100.00
7741.49
65.66
7198.43
92.99
7172.10
99.63
26.33
0.37
539.40
6.97
3.66
0.05
3951.97
33.52
1299.31
32.88
1849.32
64.32
7053.70
93.01
7034.37
99.73
19.33
0.27
526.63
6.94
3.66
0.05
4111.66
34.87
1301.23
31.65
2006.83
48.81
39.86
1.99
1.84
0.09
356.63
17.77
1608.5
80.15
33.75
0.82
131.87
3.21
637.83
3.66
0.05
4400.82
37.32
1308.60
29.74
2288.45
52.00
40.48
1.77
30.22
1.32
584.41
25.54
1633.34
71.37
33.75
0.77
132.35
3.01
637.52
14.49
0.15
0.00
91.66
0.78
0.082
0.050
0.181
0.456
108.52
114.03 111.24
108.20
101.56 104.82
100.00 1642.39 405.26
165.59
163.87 164.73
100.83
101.54 101.19
100.00
100.00 100.00
100.59
100.36 100.48
99.92
99.95
99.94
100.00
100.00 100.00
97.75
96.12
96.93
99.44
97.42
103.26
102.39
99.56
95.81
100.04
101.11
hộ kiêm và hộ phi nông nghiệp lại có xu hướng tăng lên. Số hộ kiêm năm
2007 là 11.399 hộ thì năm 2009 là 13017 hộ, bình quân 3 năm tăng 6,86%,
còn số hộ phi nông nghiệp tăng từ 6.608 hộ năm 2007 lên 7.185 hộ năm 2009,
bình quân 3 năm tăng 4,27%. Nguyên nhân là do diện tích đất nông nghiệp
của nhiều hộ bị giảm do thu hồi để xây dựng KCN, thậm chí có hộ bị thu hồi
100% diện tích đất nông nghiệp sản xuất buộc nông hộ phải kiêm thêm một
ngành nghề khác để tăng thu nhập hay chuyển hẳn sang nghề mới.
Huyện Thuận Thành cũng có một lực lượng lao động khá đông (chiếm
62,05% dân số năm 2009) và cũng được chia thành 3 loại là lao động nông
28
nghiệp, lao động kiêm và lao động phi nông nghiệp. Trong đó: lao động nông
nghiệp vẫn là chủ yếu nhưng có xu hướng giảm dần qua 3 năm, năm 2007 là
44.279 lao động chiếm khoảng 50,42% tổng số lao động, thì năm 2009 số lao
động nông nghiệp giảm xuống còn 40.412 tương ứng 45,03% tổng số lao
động tập trung chủ yếu ở các khu vực nông thôn sản xuất nông nghiệp thuần
túy. Ngược lại với sự giảm đi của lao động nông nghiệp là sự tăng lên của lao
động kiêm và lao động phi nông nghiệp, cụ thể tốc độ tăng bình quân qua 3
năm của lao động kiêm là 7,73% và của lao động phi nông nghiệp là 3,51%,
tập trung chủ yếu ở các trung tâm xã, cụm xã, thị trấn.
Tuy nhiên theo thống kê của huyện Thuận Thành, trình độ của người
lao động chưa cao, năm 2008 số lao động qua đào tạo của toàn huyện là
18.371 người, đạt 21% so với tổng số lao động; tỷ lệ công nhân lành nghề và
cán bộ kỹ thuật còn chiếm tỷ lệ thấp. Đây là khó khăn rất lớn cho việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Mặc dù hàng năm huyện đã thực hiện các chương trình
đào tạo nghề và tạo thêm việc làm mới ổn định được cho khoảng 1.020 lao
động; nhưng hiện nay vẫn có khoảng 5 – 7% lao động thường xuyên không có
việc làm, có khoảng 30% lao động nông nghiệp không có việc làm thường
08/07
09/08
BQ
hộ
35602
100.00
35896
100.00
37025
100.00
100.83
103.15
101.98
1. Hộ nông nghiệp
hộ
13017
35.16
104.75
109.01
106.86
3. Hộ phi nông nghiệp
hộ
6608
18.56
6821
19.00
7185
19.40
103.22
105.34
70266
48.81
70883
49.02
100.95
100.88
100.92
2. Nữ
người
73569
51.39
73706
51.19
73732
50.98
44279
50.42
42008
47.27
40412
45.03
94.87
96.20
95.53
2. Lao động kiêm
lđ
29977
34.13
32471
36.53
103.51
người/hộ
4.02
-
4.01
-
3.91
-
99.74
97.38
98.55
lđ/hộ
2.47
-
2.48
97.70
I. Tổng số hộ
II. Tổng số nhân khẩu
III. Tổng số lao động
IV. Một số chỉ tiêu
1. BQ nhân khẩu/hộ
2. BQ LĐ/hộ
3.BQLĐ NN /hộ NN
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thuận Thành
30
3.1.2.3 Giáo dục và y tế
• Giáo dục – đào tạo
Hiện nay huyện có 3 trường THPT công lập, 1 trung tâm giáo dục
thường xuyên, 1 trường dân lập và 1 trường tư thục, 1 trung tâm dạy nghề
công lập, 1 trường dạy nghề tư thục và 19 trường THCS cùng 24 trường tiểu
học. Cơ sở hạ tầng đã cơ bản được kiên cố hóa với 10/20 trường mầm non,
8/19 trường THCS đạt chuẩn quốc gia; 03 trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia
mức 2 và đa số các trường học có phòng học kiên cố. các trang thiết bị khá
đầy đủ, với 100% đội ngũ cán bộ giáo viên từ TNCS đến THPT đã được
chuẩn hóa về trình độ đáp ứng được nhu cầu dạy và học hiện nay.
Tuy nhiên cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị và trình độ cán bộ cán bộ giáo
càng cao. Tuy nhiên, việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật phải đảm bảo tính
hợp lý và đồng bộ phù hợp với trình độ quản lý và điều kiện kinh tế - xã hội
của từng vùng, từng địa phương.
Kể từ khi tách tỉnh, xuất phát từ điểm nghèo nàn và có phần lạc hậu,
nhưng với mục tiêu phát triển kinh tế đi theo hướng CNH – HĐH, kết hợp với
việc biết tận dụng, phát huy những điều kiện thuận lợi của địa bàn về vị trí địa
lý, điều kiện tự nhiên cũng như xã hội, huyện Thuận Thành đã có những bước
phát triển vượt bậc. Huyện đã đầu tư xây dựng hàng loạt hệ thống cơ sở hạ tầng
để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, được thể hiện cụ thể như sau:
• Đường giao thông
Có thể khẳng định rằng hệ thống giao thông là kiến trúc hạ tầng của
nền kinh tế - xã hội, hệ thống giao thông phát triển thì kinh tế xã hội phát
triển, ngược lại kinh tế xã hội phát triển đòi hỏi giao thông phải phát triển.
Hiện tại trên địa bàn huyện có 599,7 km đường giao thông, mật độ
đường giao thông khoảng 5,08km/km 2 (chưa kể giao thông nội đồng). Trong
đó có Quốc lộ 38 (đoạn đi qua huyện dài 11,1 km) nối liền thành phố Bắc
Ninh với Quốc lộ 5, chất lượng đường tốt, mặt đường được giải nhựa áp phan
rộng 7m; 4 tuyến đường tỉnh lộ dài 44,7 km gồm: Tỉnh lộ 280 tuyến Cẩm
Giàng – Hồ (5 km), tỉnh lộ 281 tuyến Cầu Hồ - Núi (6,7 km), tỉnh lộ 282
32