vai trò của hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 31 (2005 – 2009)

VAI TRÒ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN
TRONG VIỆC XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

GVHD:
Trương Thanh Hùng
Bộ môn: Tư Pháp

SVTH:
Châu Minh Tiếp
MSSV: 5054965
Lớp: Luật Hành Chính –K31

Cần Thơ, tháng 11 năm 2008


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………

6. Kết cấu của luận văn .................................................................................. ………………7
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HỘI THẨM

NHÂN DÂN………………………………………………………………. ……...8
1. Những vấn đề lý luận chung về Hội thẩm nhân dân ............................. ……………...8
1.1. Khái niệm về Hội thẩm nhân dân ............................................................ ……………...8
1.2. Sự hình thành và phát triển chế định Hội thẩm nhân dân ở nước ta........ ……………...9
2. Tìm hiểu sơ lược về chế định Bồi thẩm đoàn với việc tham gia tố tụng ở một số
nước trên thế giới..................................................................................…………….13
2.1. Bồi thẩm đoàn với việc tham gia tố tụng ở Hợp chủng quốc Hoa kỳ..... ……………..13
2.2. Bồi thẩm đoàn với việc tham gia tố tụng ở Cộng hòa Pháp ................... ……………..15
2.3. Bồi thẩm đoàn với việc tham gia tố tụng ở Cộng hòa Liên bang Đức ... ………….....17
3. Cơ sở pháp lý về chế định Hội thẩm nhân dân ở nước ta ..................... ………….....18
3.1. Những quy định chung về chế định Hội thẩm nhân dân.......................... …………….18
3.1.1. Vị trí pháp lý, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân ... …………….18
a. Vị trí pháp lý, vai trò của Hội thẩm nhân dân ............................................. …………….18
b. Nhiệm vụ, quyền hạn Hội thẩm nhân dân................................................... …………….20
3.1.2. Tiêu chuẩn, thủ tục bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân……......... ......23
a. Tiêu chuẩn Hội thẩm nhân dân ................................................................... …………….23
b. Thủ tục bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân ........................... …………….25
3.2. Hội thẩm nhân dân với pháp luật tố tụng................................................. …………….30
3.2.1. Những nguyên tắc Hiến định về hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân……… …..30
a. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa........................................................ …………….30
b. Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia ............ …………….31
c. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.................................... …………….31
d. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.... …………….31
đ. Tòa án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định ................................ …………….32
GVHD: Trương Thanh Hùng

3

d. Vào phòng xét xử............................................................................................................. 49
e. Cách ngồi tại phòng xét xử .............................................................................................. 49
1.3.2. Thủ tục bắt đầu phiên tòa........................................................................................... 50
1.3.3. Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa ...................................................................................... 50
a. Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung rút yêu cầu và thỏa thuận giải quyết vụ án .............. 50
b. Nghe đương sự trình bày về vụ án ................................................................................... 51
c. Tiến hành hỏi tại phiên tòa sơ thẩm ................................................................................. 52
d. Công bố các tài liệu vụ án dân sự .................................................................................... 53
1.3.4. Theo dõi phần tranh luận tại phiên tòa....................................................................... 54
1.3.5. Tham gia nghị án ....................................................................................................... 55
1.3.6. Khi tuyên án............................................................................................................... 56
GVHD: Trương Thanh Hùng

4

SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự
1.4. Giai đoạn sau khi phiên tòa kết thúc............................................................................. 56
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN VỀ ĐỘI NGŨ HỘI THẨM NHÂN DÂN CŨNG NHƯ
TRONG CÔNG TÁC XÉT XỬ - ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP............................................. 57
1. Thực trạng ...................................................................................................................... 57
1.1. Thực trạng về đội ngũ Hội thẩm nhân dân cũng như trong công tác xét xử................. 57
1.2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng .................................................................................. 61
1.2.1. Nguyên nhân chủ quan............................................................................................... 61
1.2.2. Nguyên nhân khách quan........................................................................................... 61
2. Một số đề xuất về đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội thẩm nhân dân................ 61
2.1. Cần xây dựng một quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm nhân dân .............. 61
2.2. Vấn đề về tổ chức và quản lý Hội thẩm nhân dân ........................................................ 62

thành công của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền vì tư pháp có vai trò bảo đảm
thực hiện tất cả các đặc trưng của Nhà nước ở mức độ này hay mức độ khác.
Theo Điều 2 Hiến pháp 1992 “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Quyền lực Nhà nước là
thống nhất có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Với bản chất là Nhà nước của dân,
do dân, vì dân “lấy dân làm gốc”. Điều 11 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 cũng quy
định “Việc xét xử các vụ án dân sự có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định
của bộ luật này. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán”. Việc quy
định như thế là rất cần thiết để đảm bảo tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, đúng với
bản chất thực sự của Nhà nước Việt Nam.
Hội thẩm nhân dân đại diện cho nhân dân tham gia xét xử ở Tòa án. Việc tham
gia của Hội thẩm và hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo đảm xét xử đúng pháp
luật, đúng thực tế khách quan của vụ án, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, đồng thời bảo đảm việc nhân dân tham gia giám sát hoạt động của
Nhà nước. Như vậy ta thấy rằng vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử
các vụ án nói chung và vụ án dân sự nói riêng là rất quan trọng và cần thiết. Chính
vì những lý lẽ trên mà tôi mạnh dạng chọn đề tài “Vai trò của Hội thẩm nhân dân
trong việc xét xử các vụ án dân sự” để làm đề tài luận văn của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Đề tài hướng đến mục đích làm sáng tỏ những quy định của pháp luật về vị trí,
tổ chức và hoạt động của Hội thẩm nhân dân cũng như những quy định của pháp
luật tố tụng có liên quan đến Hội thẩm trong quá trình xét xử các vụ án nói chung
và các vụ án dân sự nói riêng. Thông qua đó cho ta thấy được vai trò, nhiệm vụ
GVHD: Trương Thanh Hùng

6


Lời nói đầu
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp lý về Hội thẩm nhân dân
Chương 2: Vài nét về hoạt động của Hội thẩm nhân dân trong công tác xét xử các
vụ án dân sự
Chương 3: Thực tiễn về đội ngũ Hội thẩm nhân dân cũng như trong công tác xét
xử, đề xuất giải pháp
Kết luận
Tài liệu tham khảo

GVHD: Trương Thanh Hùng

7

SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HỘI
THẨM NHÂN DÂN
1. Những vấn đề lý luận chung về Hội thẩm nhân dân
1.1. Khái niệm về Hội thẩm nhân dân
Như chúng ta đều biết, một trong những biểu hiện dân chủ của nền tư pháp
kiểu mới là có đại diện nhân dân tham gia vào việc xét xử của Tòa án. Lê-nin đã
khẳng định sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền: “Chúng ta phải tự
mình xét xử, toàn thể công dân không trừ một ai đều phải tham gia xét xử và quản
lý đất nước”. Theo quy định của pháp luật, Tòa án nước ta thực hiện chức năng xét
xử thông qua các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Vậy Hội thẩm nhân dân là ai?
Theo Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngày 04/01/2002, thì

hiện từ rất sớm, ngay từ khi cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta dưới sự
lãnh đạo của Đảng bước vào giai đoạn quyết định trong những năm 40 của thế kỉ
XX. Trước cách mạng tháng Tám, trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) đã thành
lâp Hội đồng Tòa án nhân dân cách mạng. Trong các phiên tòa này, ngoài các vị
Thẩm phán xét xử còn có các đại biểu của quần chúng lên phát biểu luận tội bọn
phản động. Đó là những hình ảnh đầu tiên của chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân
tham gia. Sau cách mạng tháng Tám thắng lợi, sự tham gia của đại diện nhân dân
vào xét xử ( dưới hình thức Phụ thẩm, Hội thẩm) đã ghi nhận chính thức trong các
văn bản pháp luật đầu tiên của nước ta.
Ngày 02/9/1945, Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt
Nam dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công-nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đến ngày
13/9/1945 tức chỉ sau hơn 10 ngày thành lập nước, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký
Sắc lệnh số 33/CV thiết lập các Tòa án quân sự, tiếp đó là một số sắc lệnh khác về
tổ chức và hoạt động của Tòa án, điển hình là Sắc lệnh số 13/SL ngày 24 tháng
giêng năm 1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán. Như vậy, bộ máy tư
pháp cũ của chính quyền thực dân phong kiến, đã bị đập tan và bộ máy tư pháp
mới đã được thiết lập.
Đặc trưng của bộ máy tư pháp mới này là nó được tổ chức và hoạt động trên cơ
sở các nguyên tắc dân chủ mà cụ thể là có sự tham gia của nhân dân vào công việc
của Tòa án. Trong sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, tuy quy định mức độ tham
gia của phụ thẩm nhân dân ở các phiên tòa tiểu hình và đại hình có khác nhau
nhưng đều thể hiện tính nhân dân của nền tư pháp mới.
Khi Hiến pháp 1946 ban hành, nguyên tắc đại diện nhân dân tham gia xét xử đã
trở thành nguyên tắc Hiến định: “Trong khi xét xử các việc hình thì phải có phụ
thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định
với Thẩm phán nếu là việc đai hình” (Điều 65). Đến sắc lệnh số 85/SL ngày
22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã quy định đổi tên Phụ
thẩm nhân dân thành Hội thẩm nhân dân và cũng với Sắc lệnh này quyền hạn của
Hội thẩm nhân dân được mở rộng hơn Sắc lệnh số 13/SL năm 1946. Trước đó,
Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia xét xử trong vụ án hình sự, giờ đây tham gia xét

xử, ngày 31/12/1959 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa thông qua Hiến
pháp mới thay thế Hiến pháp 1946. Hiến pháp 1959 đã quy định: “Việc xét xử ở
các Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật”,
đăc biệt là: “Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán”. Thẩm
phán là người xét xử chuyên nghiệp, có kiến thức pháp lý, am hiểu pháp luật, còn
Hội thẩm nhân dân chỉ là công dân bình thường nhưng lại được pháp luật cho
quyền rất lớn “…ngang quyền với thẩm phán” khi thực hiện vai trò của mình.
Đây là quy định mới nhằm khẳng định hơn nữa vị trí của người dân khi tham gia
vào công tác xét xử ở Tòa án.
Để tiếp tục hoàn thiện chế định Hội thẩm nhân dân, Bộ Tư pháp ban hành thông
tư số 11/VTC ngày 11/01/1960 phổ biến một số kinh nghiệm về việc sử dụng Hội
thẩm nhân dân huyện; Chỉ thi số 200/VTC ngày 26/4 1960 về phát huy hơn nữa
vai trò của Hội thẩm nhân dân. Chỉ thị đã nêu rõ các biện pháp như đẩy mạnh
tuyên truyền cho chế định Hội thẩm nhân dân và huấn luyện Hội thẩm nhân dân,

GVHD: Trương Thanh Hùng

10

SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

chế độ công tác của chế định Hội thẩm nhân dân tỉnh, Hội thẩm nhân dân huyện.
Luật ngày 14/7/1960 của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa về tổ chức
Tòa án nhân dân quy định: “Tòa án nhân dân thực hành chế độ xét xử tập thể và
quyết định theo đa số”. Tập thể xét xử bao gồm: đối với tập thể xét xử sơ thẩm
gồm 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm nhân dân, trừ những vụ án nhỏ, đơn giản có thể
không có Hội thẩm nhân dân. Sau hơn 10 năm thực hiện chế độ xét xử có sự tham


SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

Đường lối đổi mới mọi mặt do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
cộng sản Việt Nam khởi xướng đòi hỏi đất nước phải có một hệ thống pháp luật,
một bộ máy Nhà nước được đổi mới để quản lý có hiệu quả nền kinh tế thị trường
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa và một xã hội dân chủ toàn diện. Chính vì vậy,
ngày 15/4/1992, Quốc hội khóa VII, kì họp thứ 11 đã nhất trí thông qua bản Hiến
pháp mới, kịp thời đổi mới đất nước trong giai đoạn mới.
Với sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Tòa án 1992, cuộc cải
cách tư pháp lần thứ 3 được thực hiện (lần thứ nhât 1946, lần thứ hai 1981). Chế
độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với Tòa án nhân dân địa phương và
chế độ cử Hội thẩm được thực hiện đối với Tòa án nhân dân tối cao. Ngoài ra,
Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992 còn quy định tiêu chuẩn cụ thể trở thành Hội
thẩm: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất, đạo đức tốt, có
kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa thì có
thể được tuyển chọn bổ nhiệm làm Thẩm phán, được bầu hoặc cử làm Hội thẩm”.
Qua đó, ta thấy rằng một người có thể làm Hội thẩm nếu được bầu hoặc được cử,
nhưng cũng có thể làm Thẩm phán nếu được bổ nhiệm bởi Thẩn phán và Hội thẩm
có cùng điều kiện về tiêu chuẩn chung.
Trong công tác xét xử tại Tòa án, giữ vai trò quan trọng nhất là Thẩm phán và
Hội thẩm nhân dân, để đáp ứng yêu cầu to lớn ấy, năm 1993 Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội đã ban hành pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Pháp lệnh này
đã quy định về tiêu chuẩn, chế độ, nhiệm vụ, quyền hạn, thủ tục bầu cử, miễn
nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm.
Sau hơn 10 năm đổi mới mục tiêu xây dựng Xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì
dân, đất nước ngày càng phát triển, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992 và Pháp

công dân: “Trong vụ truy tố hình sự, bị cáo sẽ có quyền xử nhanh chống và công
khai bởi một Bồi thẩm đoàn vô tư của tiểu bang và khu vực, mà tại đây tội trạng
đã xảy ra ở khu vực đã được pháp định chỉ định trước” (Tu chính án Điều 6). Đối
với vụ án dân sự, công dân được tôn trọng quyền được xử bằng Bồi thẩm viên nếu
giá trị vụ tranh chấp quá 20 USD. Hiến pháp đa số của các tiểu bang đều có quy
định giống Hiến pháp liên bang về quyền của công dân được xét xử bằng Bồi thẩm
đoàn.
Trước năm 1898, chỉ có nam giới tham gia Bồi thẩm đoàn. Sau năm 1898, một
số tiểu bang của Hoa kỳ đã ban hành các quyền của phụ nữ tham gia Bồi thẩm
đoàn ở mức độ khác nhau.
Điều kiện trở thành Bồi thẩm viên
Để thành Bồi thẩm viên trong đoàn Bồi thẩm trước hết phải là công dân Mỹ với
độ tuổi từ 20-70, đồng thời phải biết đọc và viết tiếng Anh. Ngoài ra tùy theo pháp
luật của từng bang, có bang loại trừ những người đã phạm một số tội nhất định.
Điều quan trọng là Bồi thẩm viên không được che giấu bất cứ một thông tin nào
về địa vị công dân, về tiền án tiền sự của mình.
Thủ tục tuyển chọn bồi thẩm viên
Số lượng Bồi thẩm viên ở các Tòa án phụ thuộc vào sự quy định của pháp luật
của từng bang. Từ danh sách cử tri đã đăng ký tại quận, Tòa án chọn lấy một danh
sách đủ điều kiện luật định. Một số bang ở Mỹ, những người có tên trong danh
sách sẽ được gọi đến để phỏng vấn sơ bộ, nếu một người nào đó có lý do để miễn

GVHD: Trương Thanh Hùng

13

SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

3/4 hoặc 2/3 nhất trí. Trong các vụ án dân sự, một số tiểu bang cho phép phán

GVHD: Trương Thanh Hùng

14

SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

quyết của Bồi thẩm đoàn về lỗi và mức độ bồi thường của các bên trên cơ sở 5/6
nhất trí1.
Chế độ Bồi thẩm đoàn ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có những ưu điểm sau
Hạn chế sự độc quyền của Thẩm phán khi xét xử, bởi vì các thẩm phán ở Hoa
Kỳ không có quyền quyết định bị cáo có tội hay không có tội (quyền này do Bồi
thẩm đoàn thực hiện) mà chỉ có quyền quyết định hình phạt.
Thể hiện tính độc lập, khách quan giữa Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn bởi vì các
Bồi thẩm viên tự thảo luận ở phòng riêng và ra phán quyết của mình theo niềm tin
nội tâm.
Bên cạnh những ưu điểm, chế độ Bồi thẩm đoàn vẫn còn có những hạn chế
Việc lựa chọn bồi thẩm đoàn cho phiên tòa gây mất nhiều thời gian cho phiên
tòa và cả những Bồi thẩm viên. Bởi vì, Bồi thẩm đoàn cho phiên tòa không được
thành lập trước mà chỉ lựa chọn những Bồi thẩm viên từ một số lượng lớn Bồi
thẩm viên được mời đến vào ngày mở phiên tòa. Sau đó, các Bồi thẩm viên chịu
sự thử thách của Công tố viên, Luật sư các bên và có thể sẽ bị thay đổi. Nếu Bồi
thẩm viên bị thay đổi thì thủ tục tương tự cũng áp dụng để chọn Bồi thẩm viên
khác thay thế và cứ thế tiếp tục cho đến khi lập xong Bồi thẩm đoàn cho phiên tòa.
Vai trò của Bồi thẩm đoàn rất quan trọng nhưng họ lại bị hạn chế nhiều về
quyền hạn khi tham gia xét xử (Thẩm phán chỉ hỏi những câu hỏi của Bồi thẩm

So với Hoa kỳ, điều kiện để trở thành Bồi thẩm viên ở Pháp có phần nghiêm
khắc hơn như phải hội đủ một số điều kiện nhất định: Là công dân pháp từ 23 tuổi
trở lên; được hưởng đầy đủ các quyền về chính trị, các quyền công dân Pháp; cư
trú trong quản hạt của Tòa phúc thẩm. Ngoài ra, Bồi thẩm viên còn phải đáp ứng
những điều kiện năng lực chuyên môn và không thuộc trường hợp bất khả kiêm
nhiệm.
Thủ tục tuyển chọn
Thành viên của Bồi thẩm đoàn được chỉ dịnh bằng hình thức rút thăm. Hàng
năm, mỗi tỉnh tổ chức rút thăm trong danh sách cử tri để thành lập Bồi thẩm đoàn
của tỉnh. Từ danh sách theo năm sẽ rút thăm đoàn Bồi thẩm cho từng phiên tòa đại
hình.
Sau Khi đã lập danh sách 9 thành viên của Bồi thẩm đoàn, Viện trưởng viện
Công tố, bên cạnh Tòa án phúc thẩm có quyền yêu cầu thay đổi 4 thành viên của
Bồi thẩm đoàn mà không cần nói lý do. Bị cáo hay Luật sư của bị cáo có quyền
thay đổi 5 thành viên Bồi thẩm đoàn theo cùng những điều kiện thay đổi Thẩm
phán.
Nhiệm vụ, quyền hạn
Bồi thẩm đoàn chỉ tham gia xét xử sơ chung thẩm những tội phạm hình sự
nghiêm trọng tại Tòa đại hình. Bồi thẩm đoàn không tham gia xét xử trong tòa án
hành chính cũng như trong việc xét xử phúc thẩm ở các Tòa án tư pháp.
Khi xét xử, Bồi thẩm đoàn bình dẳng và ngang quyền với thẩm phán chuyên
nghiệp. Bồi thẩm đoàn cùng nghị án với thẩm phán chuyên nghiệp cả về tính chất
tội phạm, hình phạt áp dụng đối với bị cáo.
Bồi thẩm không được hưởng lương chỉ được hưởng phụ cấp bao gồm phụ cấp đi
lại và phụ cấp lưu trú.
Chế độ Bồi thẩm đoàn ở Cộng hòa Pháp có những ưu điểm và hạn chế sau
Về ưu điểm
Bồi thẩm đoàn cùng nghị án với Thẩm phán sẽ tạo điều kiện cho Bồi thẩm đoàn
nâng cao vai trò của mình.
Về hạn chế

của bang quy định số công dân cùng bầu cũng như lập danh sách các Thẩm phán
không chuyên chính thức và những người dự bị.
Nhiệm vụ, quyền hạn
Các Thẩm phán không chuyên cũng có đầy đủ các quyền thẩm vấn, tranh luận,
biểu quyết, ra bản án như thẩm phán chuyên nghiệp.
Chế độ Bồi thẩm đoàn ở Cộng hòa Liên bang Đức có những ưu điểm và hạn
chế sau
Về ưu điểm
Quyền của thẩm phán không chuyên được mở rộng hơn (Quyền được thẩm vấn,
tranh luận, biểu quyết và ra bản án)
Mang tính đại diện cho nhân dân cao hơn (Danh sách ứng cử viên do Hội đồng
của cộng đồng đề cử)
Về hạn chế

GVHD: Trương Thanh Hùng

17

SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

Các Thẩm phán không chuyên không được chỉ định cho từng vụ án cụ thể nên
có khả năng một vài Thẩm phán không chuyên nào đó không thích hợp với việc
xét xử vụ án cụ thể nào đó.
3. Cơ sở pháp lý về chế định Hội thẩm nhân dân ở nước ta.
3.1. Những qui định chung về chế định Hội thẩm nhân dân.
3.1.1. Vị trí pháp lý, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân.
a. Vị trí pháp lý, vai trò của Hội thẩm nhân dân.

SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

động của mình trong khung tòa án. Phải gần dân, giúp dân, hiểu dân…”2. Muốn
đưa ra phán quyết đúng, giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật, hợp lý lẽ công
bằng, xử phạt đúng người, đúng tội, được quần chúng nhân dân ủng hộ, hiển nhiên
đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có đạo đức trong sáng, có bản lĩnh,
có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng. Ngoài ra, để Hội đồng xét xử có
phán quyết đúng đắn, đòi hỏi họ phải có kiến thức, vốn hiểu biết cuộc sống, có
kinh nghiệm hoạt động xã hội. Vì vậy, sự tham gia của Hội thẩm vào Hội đồng xét
xử là sự bổ sung cần thiết trong lĩnh vực đó.
Hội thẩm là những người có thể bổ sung cho Thẩm phán chuyên nghiệp
những vốn sống, kinh nghiệm xã hội, dư luận quần chúng để góp phần giải quyết
vụ án chính xác hơn, toàn diện và khách quan hơn vì họ là những người đại diện
cho sự hiểu biết pháp luật và đánh giá các hiện tượng ở mức trung bình của nhân
dân. Họ tiếp cận với vụ án theo cách những người không chuyên xét xử, họ mang
lại cho phiên tòa những ý niệm đạo đức xã hội, những nhận xét, ý kiến đánh giá
của nhiều thành phần xã hội về các hành vi phạm tội thông qua những phạm trù
đạo đức như công bằng, thiện ác, nghiêm minh, tốt xấu mà Thẩm phán chuyên
nghiệp cần quan tâm tham khảo.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy những người được bầu làm Hội thẩm là những
người có uy tín trong xã hội được quần chúng tín nhiệm và có ảnh hưởng nhất
định trong xã hội. Họ thường là những người có lối sống gương mẫu, có phẩm
chất tốt, là tấm gương trong lao động, công tác. Sự tham gia xét xử của Hội thẩm,
uy tín của cơ quan xét xử ngày càng được nâng cao và được nhân dân tín nhiệm,
ủng hộ.
Vai trò của Hội thẩm không chỉ dừng lại ở tham gia hoạt động xét xử và đưa
ra phán quyết đúng pháp luật mà còn có ý nghĩa to lớn trong công tác phổ biến,

sự đúng tên gọi Tòa án nhân dân.
b. Nhiệm vụ, quyền hạn Hội thẩm nhân dân
Hội thẩm nhân dân là những người kiêm nhiệm giữ nhiệm vụ xét xử không
chuyên, chịu sự quản lý của Chánh án Tòa án nhân dân địa phương theo Quy chế
về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm. Cũng như Thẩm phán “Hội thẩm nhân dân
làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án” (Điều 32 Pháp lệnh Thẩm phán và
Hội thẩm nhân dân 2002). Trước khi chuẩn bị tham gia xét xử Hội thẩm được thực
hiện tất cả các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định kể từ khi nhận được quyết
định phân công của Tòa án. Quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm lúc này là quan
hệ đồng nghiệp trong một đơn vị, gắn bó với nhau trong hoạt động, tác động qua
lại lẫn nhau để cùng nhằm hướng tới một mục đích là chuẩn bị cho việc xét xử thật
tự tin, vô tư, khách quan nhưng phải trên nguyên tắc Hiến định “Khi xét xử Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Điều 130 Hiến
pháp 1992 nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Để tạo sự vô tư, khách
quan, tránh ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài thì “Hội thẩm phải từ chối tham gia
xét xử hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do pháp luật tố tụng quy định” (Điều
35 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 2002). Thế nhưng nếu không có lý
do chính đáng, Hội thẩm bắt buộc phải tham gia, không được từ chối khi được
phân công làm nhiệm vụ xét xử.
Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 đã quy định có phần nghiêm khắc hơn
“Hôm phiên tòa 2 Phụ thẩm đã được chọn bắt buộc phải đến dự. Người nào vắng
mặt, nếu không có duyên cớ chính đáng, sẽ bị phạt lần đầu từ 20 đồng đến 50
đồng, lần thứ nhì từ 50 đồng đến 100 đồng, lần thứ ba từ 100 đến 200 đồng, ngoài

GVHD: Trương Thanh Hùng

20

SVTH: Châu Minh Tiếp


Hội thẩm rằng với tư cách là một trong những người tiến hành tố tụng, họ phải có
tinh thần trách nhiệm, thận trọng, cân nhắc, phán quyết sự việc vì lẽ công bằng
chứ không vì vị nể hay vì vụ lợi.
Ngày 03/5/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/CP về việc giải
quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm
quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra và văn bản hướng dẫn thi hành của các

GVHD: Trương Thanh Hùng

21

SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

bộ, ngành… Tuy nhiên, các quy định này chỉ là những nguyên tắc cơ bản nhất ghi
nhận quyền được bồi thường của người bị oan mà chưa xác định rõ cơ chế, trách
nhiệm, thủ tục bồi thường cụ thể.
Với yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì dân, ngày 13/3/2003 Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội ban hành nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại
cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra.
Nghị quyết thực sự là một bước đột phá quan trọng trong việc khắc phục những
hậu quả oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Nghị quyết 388 ngày
13/3/2003 quy định: “Người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây
oan do lỗi của mình trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
hình sự có nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật”. Thế nhưng, theo Nghị
quyết chỉ quy định người có nghĩa vụ phải bồi thường là Thẩm phán3.
Có nhiều ý kiến về vấn đề Hội thẩm nhân dân tham gia vào quá trình xét xử


và hai Thẩm phán chuyên môn quyết định lấy, các Phụ thẩm nhân dân không tham
dự” (Điều 33).
Để tạo sự thống nhất uy nghiêm cho phiên tòa cũng như tạo điều kiện cho
Hội thẩm khi làm nhiệm vụ. Điều 34 Pháp lệnh thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
2002 quy định: “Hội thẩm được cấp trang phục, giấy chứng minh Hội thẩm để làm
nhiệm vụ… Khi làm nhiệm vụ xét xử Hội thẩm được hưởng phụ cấp theo quy
định của pháp luật”. Hội thẩm sẽ được hưởng phụ cấp cho từng phiên tòa, riêng
đối với trang phục sẽ cấp phát vào đầu hoặc giữa nhiệm kỳ để sử dụng theo niên
hạn. Mặt khác, “Hội thẩm là cán bộ, công chức, quân nhân tại ngũ, công nhân
quốc phòng thì thời gian làm nhiệm vụ Hội thẩm được tính vào thời gian làm việc
ở cơ quan, đơn vị” (Điều 33). Nếu so sánh, có thể nói rằng những quy định ở sắc
lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng thì Hội
thẩm nhân dân mới được hưởng những đặc quyền nhiều nhất: “Hội thẩm nhân dân
được hưởng quyền tài phán như các Thẩm phán và lương bổng như các ủy viên
Uỷ ban kháng chiến hành chính cấp tương đương. Hội thẩm nhân dân dự khuyết
hưởng phụ cấp vãng phản và phụ cấp lưu trú như các hội viên Hội đồng nhân dân
tỉnh đi hợp Hội đồng nhân dân” (Điều 3).
3.1.2. Tiêu chuẩn, thủ tục bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân.
a. Tiêu chuẩn Hội thẩm nhân dân
Tiêu chuẩn chung của Hội thẩm nhân dân: Để nắm chắc tiêu chuẩn, tiêu
chuẩn chung của Hội thẩm Tòa án nhân dân cần nghiên cứu kỹ quy định tại khoản
2 Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002
Cần nắm chắc những đòi hỏi cụ thể trong các tiêu chuẩn chung quy định tại
khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, theo Thông tư liên
tịch số 01/2003/Thông tư liên tịch, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ
Nội vụ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 01/4/2003/TTLTTANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN hướng dẫn thi hành một số quy định của
Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân thì “Công dân Việt Nam trung
thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có
phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ

bản lĩnh, đấu tranh chống lại cái ác, có lối sống giản dị, có uy tín trong quần chúng
được mọi người tin yêu. Phẩm chất đạo đức tốt được biểu hiện tập trung nhất ở
Hội thẩm nhân dân là người trọng lẽ công bằng, liêm khiết và trung thực, với
phẩm chất đó sẽ giúp họ vượt qua mọi trở ngại khó khăn khi tham gia hoạt động
xét xử.
Tiêu chuẩn cụ thể của Hội thẩm nhân dân Điều 5 khoản 2 Pháp lệnh Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân năm 2002 quy định: “Công dân Việt Nam trung trành với
Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất
đạo đức, liêm khiết và trung thực, có kiên thức pháp lý có tinh thần kiên quyết bảo
vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm
vụ được giao thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm”. Tòa án nhân dân tối cao,
Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch số

GVHD: Trương Thanh Hùng

24

SVTH: Châu Minh Tiếp


Đề tài: Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc xét xử các vụ án dân sự

01/2004 hướng dẫn về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án
nhân dân.
Theo đó, thì khi xem xét lựa chọn giới thiệu nhân sự để bầu Hội thẩm TAND
phải căn cứ vào tiêu chuẩn Hội thẩm TAND và pháp lệnh Thẩm pán và Hội thẩm
Tòa án nhân dân. Chúng ta có thể phân tích điều 5 khoản 2 Pháp lệnh Thẩm phán
và Hội thẩm Tòa án nhân dân cụ thể:
Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã

25

SVTH: Châu Minh Tiếp


Trích đoạn Thủ tục bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status