MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
Từ xa xưa ngôi đình đã trở thành một biểu tượng về tín ngưỡng, văn hóa
của làng xã Việt Nam. Đình luôn gắn liền với làng, và có đôi khi đình trở thành một
cơ sở quan trọng để người ta có thể đánh giá về sự lâu đời, sự sung túc, giàu có của
một làng nào đó. Đình là một biểu tượng của tính cộng đồng, tự trị dân chủ của
làng xã Việt Nam và là trung tâm diễn ra các hoạt động chủ yếu của cộng đồng
làng xã. Chính vì thế khi nghiên cứu về làng xã Việt Nam nói chung, người ta không
thể nào bỏ qua “đình làng”, nó như một kho tàng quan trọng để hiểu hơn về văn
hóa, tín ngưỡng của cộng đồng trong suốt dòng chảy của lịch sử đã qua.
Nam Bộ là một vùng khá mới mẻ, được khai khẩn và sát nhập vào lãnh thổ
Việt Nam trong những năm từ thế kỉ XVII – XVIII. Chính vì thế, vùng đất này vẫn
còn chất chứa nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, làm rõ. Trong đó có những vấn đề
quan trọng liên quan trọng liên quan đến việc tổ chức sinh hoạt, đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội,…của cộng động làng xã tại khu vực này.
Khi tìm hiểu về quá trình khai khẩn vùng đất Nam Bộ của những lưu dân
người Việt xưa, chúng ta có thể thấy rằng đa phần những lưu dân đó đều xuất phát
từ vùng đất miền Trung của đất nước, một vùng đất khô cằn và luôn phải hứng
chịu sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Chính do những biến động của thời thế, họ đã
quyết tâm ra đi đến một vùng đất xa lạ và bắt đầu một cuộc sống mới. Họ đã rời bỏ
“quê cha đất tổ” để tiến xuống phía Nam mà không thể lường trước được những
khó khăn đang chờ đợi trước mắt. Họ là những vị quan, những binh lính, người
nông dân nghèo, những tù nhân,…, với một tinh thần gạn dạ, hiếu kì, cần cù chịu
khó đã góp một phần quan trọng trong việc mở mang lãnh thổ của đất nước. Khi ra
đi ngoài những hành trang về vật chất, họ cũng mang theo cả một truyền thống về
văn hóa của cha ông đã được hun đúc qua hàng ngàn năm. Đó là những tín ngưỡng
truyền thống của ông cha ta đã gầy dựng từ xa xưa.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu chính của mình là
ngôi đình trong làng xã Nam Bộ. Đình chính là nét đặc trưng nổi bật cho làng xã, nó
mang trong mình những giá trị về vật chất và tinh thần của người dân Nam Bộ từ
khi làng xã được thành lập cho đến này.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Chúng tôi sẽ chủ yếu tìm hiểu những đặc trưng nổi bật
của ngôi đình trong làng xã Nam Bộ như: kiến trúc và cách bài trí, đối tượng thờ
3
tự, lễ hội và nghi thức cúng tế của đình, bên cạnh đó chúng tôi cũng sẽ tìm hiểu về
bộ máy quản lý, tổ chức trong đình Nam Bộ và dẫn ra thông tin của một số ngôi
đình tiêu biểu trong vùng này.
Phạm vi thời gian: Sự xuất hiện của ngôi đình gắn liền với sự ra đời của làng
xã Nam Bộ, tức vào khoảng thế kỉ XVII, chính vì thế chúng tôi xác định phạm vi thời
gian nghiên cứu là từ thế kỉ XVII cho đến nay. Tuy nhiên chúng tôi cũng chỉ tập
trung chủ yếu vào những đặc điểm của đình Nam Bộ ở thời điểm hiện tại và có một
vài so sánh với ngôi đình trong quá khứ.
Phạm vi không gian: khu vực Nam Bộ, tức vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam
Bộ hiện nay.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là phương pháp lịch sử. Bên
cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng các phương pháp khác như phương pháp tổng
hợp, phân tích và so sánh, để từ đó có thể làm rõ phần nào những đặc trưng, giá trị
của ngôi đình trong không gian văn hóa làng xã Nam Bộ.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về Nam Bộ nói chung đang được đầu tư
và mở rộng đến nhiều khía cạnh hơn. Tuy nhiên, vấn đề về đình Nam Bộ vẫn chưa
Tác giả Trần Ngọc Khánh trong bài viết “Đình làng Nam Bộ và các giải pháp
tồn sinh trong quá trình đô thị hóa Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh” đăng trên
trang vanhoahoc.vn, cũng đã đưa ra thực trạng của những ngôi đình ở Nam Bộ nói
chung và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Trên những thực trạng đó tác giả đã
đưa ra một số biện pháp cụ thể để làm tăng giá trị cho những ngôi đình còn tồn tại
trên địa bàn thành phố hiện nay.
Những công trình nghiên cứu, những tác phẩm và bài viết về đình Nam Bộ
mà chúng tôi vừa dẫn trên đây, đã cung cấp một lượng thông tin cần thiết giúp
chúng tôi có nhiều thuận lợi hơn trong việc hoàn thành bài nghiên cứu của mình.
Từ việc kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, chúng tôi sẽ tổng hợp, phân tích và
đưa ra những nhận định riêng của bản thân về ngôi đình trong đời sống văn hóa
của động đồng làng xã Nam Bộ.
5
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG XÃ NAM BỘ1
1.1.
Lịch sử hình thành làng xã Nam Bộ
Nam Bộ là một vùng đất mới khai phá và được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam
khoảng hơn 300 trở lại đây chính vì thế làng xã Nam Bộ có độ tuổi ngắn hơn nhiều so
với làng xã tại Bắc Bộ và Trung Bộ. Hình thành trên cơ sở khai phá, sinh sống giữa
dân tộc Việt và các dân tộc anh em như: Khmer, Hoa, Mạ, Stiêng,...Chính điều đó đã
tạo nên nét riêng của làng Việt Nam Bộ, khiến nó khác làng Việt trên đồng bằng sông
Hồng. Nếu như làng Viêt ở miền Bắc xuất hiện từ sự tan rã dần của của công xã nông
thôn thì làng Việt trên đồng bằng sông Cửu Long ra đời do nhu cầu cấp tốc khai phá
đất mới, từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX.
mông thẳng cánh cò bay, ở rời rạc cách xa nhau, không quy tụ chen chúc, không có
những lũy tre xanh bao bọc xung quanh mà bờ tre chỉ là một biểu trưng để phân
biệt ranh giới giữa các thôn, ấp với nhau. Ở Nam Bộ đặc trưng là vùng sông nước,
còn gọi miệt sông, kênh rạch chằng chịt, hoạt động đi lại thường diễn ra trên sông
nước, do đó các thôn ấp đều trải dài theo các bờ kênh rạch. Quanh miệt sông, nhà
cửa san sát, ghe xuồng tấp nập ngang dọc. Mỗi bờ tre thường là địa đầu của một
thôn ấp trải dài theo triền kênh. Từ xa xưa về “tình làng nghĩa xóm”, thì cư dân ở
các thôn ấp Nam Bộ thường hay có sự biến động, người dân không bị gắn chặt với
quê hương, không bị bó hẹp trong thôn ấp của mình, do đó tính cách của người cư
dân Nam Bộ theo đó cũng trở nên phóng khoáng hơn, tự do hơn.
Thời gian định cư của các “kiến họ” (tức dòng họ, theo cách gọi Nam Bộ) trên
đất của các làng Việt ở đây diễn ra tính cho đến ngày nay mới chừng hơn 10 thế hệ.
Kiến họ Nguyễn ở xã Định Thủy, thuộc huyện Mỏ Cày (tỉnh Bến Tre), theo gia phả,
mới định cư ở đây chưa đây 9 đời. Phổ hệ của gia đình ông Nguyễn Văn Liền (69 tuổi
vào năm 1985) ở xã Phú Thuận thuộc huyện Bình Đại (tỉnh Bến Tre) cũng chỉ gồm có
6 đời. Năm 1983, khảo sát trên địa bàn cả tỉnh Bến Tre, các cán bộ làm địa chí đã thu
được 261 gia phả, trong số này có 25 bản ghi rằng người của kiến họ đến Bến Tre vào
thế kỉ XVII, 176 bản khác lại ghi mới đến từ thế kỉ XIX. Khảo sát 88 gia đình các
dòng họ ở Long An, người ta có kết quả: 4,5% số gia phả ghi rằng họ đã có người đến
đây từ thế kỉ XVII; 29,5% lại trong thế kỉ XVIII, 69,5% là thế kỉ XIX. Như vậy, làng
Việt Nam Bộ là làng khai phá. Đặc điểm ấy chi phối làng ở đây ít nhất vùng trên hai
mặt. Một là, trong lối sống của nông dân Nam Bộ, không có sự phân biệt giữa dân
chính cư và dân ngụ cư như làng Việt ở Bắc Bộ. Hại là, làng Việt Nam Bộ không có
cảnh “ba họ chín đời” như ở Bắc Bộ, do đó tính cố kết trong quan hệ dòng họ là
không chặt chẽ. Trong hoàn cảnh chung ấy, mối gắn bó giữa người và người trong
7
cùng một làng không phải là quan hệ dòng họ, thậm chí cũng không phải là quan hê
láng giềng lâu đời nữa. Cùng chung cảnh ngộ, cùng rời bỏ quê hương đến làm ăn nơi
ruộng đất và việc tổ chức các ngành nghề trong xã hội.
8
Sở hữu ruộng đất của làng xã Nam Bộ trong thời kỳ khẩn hoang đầu tiên khi
những người lưu dân liều mình vượt biển tự đi tìm đất sống ở mảnh đất hoang vu
mà chính quyền phong kiến chưa thật sự với tay tới kiểm soát thì đất khai phá
được thuộc quyền sở hữu của họ. Với lực lượng cư dân còn ít ỏi giữa vùng đất
hoang rộng lớn năng lượng và sức lực chủ yếu của ngư dân là để chiến đấu với
đầm lầy và thú dữ cỏ dại và sự cô đơn của bản thân mình để khai phá đất đai, nhóm
họp làng xã. Với trình độ sản xuất còn thấp kém, những mảnh đất khai khẩn lúc
ban đầu chỉ tạo ra dủ sản vật nuôi sống họ và gia đình . Đến năm 1698 tức là trước
khi có tổ chức chính quyền chúa Nguyễn thì đất đai khai phá được đều thuộc quyền
sở hữu của lưu dân khai hoang dưới hình thức sở hữu nhỏ tư nhân. Sự dễ dãi của
chính quyền chúa Nguyễn đối với việc sở hữu ruộng đất tại Nam Bộ đã góp phần
quan trọng vào việc mở rộng diện tích đất đai, những cư dân có thêm nguồn động
lực để tiến hành công cuộc khai hoang, lập làng, lập ấp. Sau đó, khi vương triều
Nguyễn được thiết lập, chế độ sở hữu ruộng đất ở khu vực này bắt đầu được siết
chặt quản lý hơn, đặc biệt là vào thời Minh Mạng. Nhưng nhìn chung, “Làng Nam
Bộ cho đến thế kỉ XIX đã phát triển mạnh chế độ ruộng đất tư, với sự hữu của tư
nhân ngày càng cao. Cho đến đầu thế kỉ XIX khi Gia Long lên ngôi cũng không thiết
lập chế độ công điền công thổ ở vùng đất Nam Bộ cho đến thời Minh Mạng không
muốn để Nam Bộ phát triển sở hữu ruộng đất tự do như trước nữa, muốn can
thiệp và áp đặt vào chế độ sở hữu ruộng đất ở Nam Bộ. Vào năm 1836 chế độ công
điền công thổ được thiết lập tại Nam Bộ”2.
Làng xã Nam Bộ không hình thành trên cơ sở công điền công thổ nhưng đã
quần tụ sống chung trên một địa bàn tất nhiên phải có công quỹ để chi tiêu vào
những việc lợi ích chung. Làng xã hoặc chung tiền mua một số tư điền, hoặc nhận
hiến điền của người hảo tâm, hoặc chung sức nhau khai hoang một thửa ruộng đất
nông thôn Việt Nam đa dạng, kết cấu chặt chẽ hơn. Làng Nam Bộ mang trong mình
những đặc trưng riêng về quá trình hình thành và phát triển, kết cấu kinh tế cũng
như kết cấu về xã hội.
Nam bộ kinh tế đến cuối thế kỉ XVIIII nền kinh tế nông nghiệp lúa nước đã
khá phát triển trên một địa bàn rộng lớn, không chỉ ở những nới giồng đất cao mà
còn tỏa ra các vùng đất trũng ven sông. Hầu hết những nơi lưu dân đến đều có
trồng lúa. Ngoài canh điền, ở Nam Bộ còn phổ biến hình thức canh viên trồng cây
3 Nguyễn Văn Khánh, Về quyền sở hữu đất đai ở Việt Nam, tạp chí khoa học ĐHQGHN, Khoa học
Xã hội và Nhân Văn, tập 29, số 1 (2013)
10
ăn quả và các loại nông sản khác, cau là loại được trồng nhiều và cau sớm trở
thành nông sản xuất khẩu sang trung quốc, Mã Lai, bên cạnh cau nông dân còn
trồng một số hoa màu như mè, đậu, bí, bắp.
Đối với làng xã Nam Bộ được hình thành trong quá trình Nam tiến, với sự
khai hoang lập ấp của những cư dân người Việt. Ban đầu việc lập làng ở Nam Bộ
dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất. Làng ở Nam Bộ được thành lập
không chặt chẽ, khép kín, và không mang tính tự trị cao. Cùng với đó là những điều
kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, kinh tế chủ yếu ở các làng Nam Bộ
vẫn chủ yếu là lúa nước, tuy nhiên ở làng Nam Bộ do có tính mở nhiều hơn nên ở
đây sớm phát triển nền kinh tế hàng hóa song song với việc phát triển kinh tế nông
nghiệp. Làng Nam Bộ tuy mới thành lập nhưng nền kinh tế hàng hóa sớm phát
triển sớm hình thành các trung tâm mua bán lớn ở vùng đất Gia Định, thương cảng
Sài Gòn, Bãi Xàu… Với hình thức sở hữu ruộng đất tư nhân phần nào đã thúc đẩy
nền kinh tế hàng hóa ở Nam Bộ phát triển, cùng với đó những xã thôn ở Nam Bộ
còn xuất hiện các nghề thủ công, các làng nghề sản xuất như gốm, chiếu, các làng
đan lát….
nền tảng ruộng công nên vai trò của làng có phần nào bị hạ thấp so với làng xã phía
Bắc. Bởi vì ở đây, làng không phải làm chức năng kiểm soát, phân chia việc khai thác
đất đai và đương nhiên cũng không có chức năng điều hòa sử dụng các nguồn
nước. Những công việc đó không theo thể chế của làng và thường do những tư nhân
trực tiếp canh tác giải quyết.
Ban đầu, tại Nam bộ, việc khai khẩn đất đai chưa nhiều, cư dân chưa đông, nên
số lượng hương chức trong Hội đồng kỳ mục của các làng xã rất đơn giản, vì vậy việc
quản lý còn lỏng lẻo, chưa bao quát được hết các việc của làng.
Việc cai quản làng xã do Hội đồng kỳ mục (còn gọi là Hội đồng hương chức,
Hương chức hội tề, …) đảm trách. Việc lựa chọn người vào Hội đồng dựa trên
những tiêu chuẩn chung về lý lịch, đạo đức, học lực, gia sản, độ tuổi … để công cử
cho phù hợp với mỗi chức danh. Tuy nhiên, dựa trên thực tế, số lượng người được
đề cử vào Hội đồng nhiều hay ít tùy theo cư dân của từng làng xã.
Trong Hội đồng hương chức, thôn trưởng (xã trưởng) là người chịu trách
nhiệm trước nhà nước về mọi việc thi hành trong làng. Thôn trưởng do dân trong
thôn bầu ra. Thôn trưởng là người trực tiếp đảm trách và thực thi việc lập ra các
loại sổ sách trong làng xã để quản lý về con người, tài sản, thuế khóa; báo cáo và
nộp lên cấp trên theo định kỳ hàng năm.
Dưới triều Nguyễn, bộ máy tổ chức hành chính cấp làng xã tại Nam bộ
được xây dựng thiết chế quản lý càng ngày càng hoàn chỉnh, có quy củ, tổ chức bộ
12
máy ở các làng xã như một xã hội mang tính chất tự trị và tự quản. Từ năm 1863
đến trước năm 1887, trong thời kỳ này thực dân Pháp chưa trực tiếp can thiệp vào
tổ chức hành chính cấp làng xã, do tổ chức làng xã nhà Nguyễn có nhiều điểm
thuận lợi hỗ trợ cho việc cai trị của chính quyền thực dân. Tuy nhiên, với mô hình tổ
chức Hội đồng Hương chức Hội tề năm 1904, thực dân Pháp đã trực tiếp đào tạo
được một lớp cường hào ở nông thôn. Những cường hào này vẫn do làng xã tự
công cử dựa theo tiêu chuẩn đã định, nhưng đặt dưới sự giám sát gắt gao của
làng cũng có một ngôi đình với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng. Hàng năm, người
dân nơi đây đều tụ hội ở những lễ hội.
Dù tính cách phóng khoáng, làm ăn dễ dãi, người nông dân Nam bộ vẫn giữ
nếp cần cù, chịu thương chịu khó “một nắng hai sương”, vẫn thể hiện phong cách
của “Anh hai Nam bộ” rõ nét. Dù kinh tế hàng hóa có phát triển, người nông dân
Nam bộ vẫn rất coi trọng tính cộng đồng, yếu tố hàng xóm vẫn được xếp vào hàng
thứ hai trong thang bậc ưu tiên khi chọn nơi cư trú.
1.4.
Văn hóa làng xã Nam Bộ
Trong quá trình phát triển về phương Nam những người lưu dân Việt vừa
mang theo một hành trang văn hóa truyền thống vốn có cội nguồn ngàn năm từ
thuở vua Hùng dựng nước hoặc các ảnh hưởng từ văn hóa Trung Quốc phía Bắc
tràn xuống, vừa tiếp tục mở cửa tiếp thu nhiều nền văn hóa khác từ phương Nam
lên hoặc từ phương Tây đưa lại thông qua con đường trực tiếp hay gián tiếp trong
đó gồm cả các mối quan hệ mới mẻ với các nền văn hóa, các tộc người bản địa hoặc
vừa nhập cư trên đất Nam Bộ. Bên cạnh những nhân tố truyền thống được bảo lưu
và kế thừa mang dấu ấn đặc trưng chung của nền văn hóa dân tộc còn có những
nhân tố mới phát sinh với những nét đặc thù riêng thể hiện bước phát triển mới
của chính nền văn hóa Nam Bộ.
Nam Bộ “là vùng tụ cư của dân “tứ chiếng” từ nhiều địa phương trên cả
nước (…) quá trình hòa hợp dân tộc, hỗn dung văn hóa tộc người đã sớm diễn ra,
tạo nên sự chung sống thuận hòa giữa các lớp cư dân tại đây (…) Xuất phát từ sự
đã dạng tộc người, từ đặc tính mở của vùng về cả tự nhiên và xã hội cộng với
những thách thức từ điều kiện tự nhiên và xã hội trong thời kỳ khai phá vùng đất
mơi, người dân Nam Bộ có truyền thống dung hòa tôn giáo, dễ tiếp nhận những
luồng tư tưởng, tôn giáo từ bên ngoài vào cũng như khả năng sáng tạo những tín
14
5 Trần Ngọc Thêm (2009), “Tính cách văn hóa Nam Bộ như một hệ thống”, Một số vấn đề lịch sử vùng đất
Nam Bộ thời kỳ cận đại, Kỷ yếu hội thảo khoa học Cần Thơ ngày 4 tháng 3 năm 2008, Nxb. Thể giới, Hà Nội,
Tr. 205.
15
như: Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Nhất Quán
đạo,…Chính sự đa dạng này đã góp phần vẽ nên một bức tranh nhiều màu sắc trong
sinh hoạt của các cư dân Nam Bộ, được thể hiện qua các dịp ma chay, cưới hỏi, các
lễ hội được tổ chức trong năm,…
Đặc biệt trong nghệ thuật âm nhạc ở Nam Bộ, người ta thấy ở đây từ lâu đã
có một diện mạo văn hóa hết sức phong phú đó là bên cạnh những làn điệu cải
lương hay những câu hò, điệu lý còn có điệu múa Roămvông bản sắc của người
Khmer, hát đối đáp Aday hay điệu nhảy theo nhịp trống Chay dăm. Nếu như người
Chăm có những hoạt động nghệ thuật sôi động trong những ngày kết thúc tháng
Ramadan, sinh nhật thánh Muhamed hoặc các nhịp hôn nhân, cưới hỏi, thì người
Hoa lại góp phần vào đời sống văn hóa làng xã Nam Bộ những câu hát Tiều, hát
Quảng. Những đặc điểm văn hóa riêng với nhiều sắc thái của mỗi dân tộc cùng sinh
sống trên mảnh đất Phương Nam đang ngày một đan xen, phát triển, đan xen hội
nhập vào nhau để hình thành nên nét đặc trưng không dễ bị trộn lẫn của văn hóa
làng xã vùng Nam Bộ.
Về văn hóa vật chất, có thể thấy rằng sự dung hòa trong văn hóa đã thúc đẩy
sự sáng tạo của những người dân Nam Bộ trong việc ăn mặc, xây dựng nhà ở, đặc
biệt là các công trình kiến trúc phục vụ cho nhu cầu về tín ngưỡng tôn giáo. Mỗi
dân tộc sinh sống ở Nam Bộ đều có những nét riêng trong việc xây dựng nhà cửa,
chùa chiền, đình miếu,…Nhưng đa phần chúng ta đều bắt gặp được sự trộn lẫn của
nhiều nét văn hóa khác nhau trong từng công trình đó.
Như đã đề cập ở trên, khi người dân Việt khai khẩn đất đai và hình thành
các làng xã, thì đồng thời với nó là sự xuất hiện của các ngôi đình. Việc xây dựng
– XVI làm thời gian xuất hiện của ngôi đình. Theo giáo sư Hà Văn Tấn, rất có thể từ
trước đó bóng dáng của ngôi đình đã xuất hiện rồi những vẫn chưa có đầy đủ tư
liệu để khẳng định một cách dứt khoát mà thôi6.
Đi sâu vào sự ra đời của ngôi đình, nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường đưa ra
nhận định: “Ngôi đình có lịch sử của nó, quả thực có sắc thái riêng biệt của một xã
hội bản xứ, nhưng không phải là khởi điểm – hay gắn liền với khởi điểm của làng
xã Việt Nam, mà chỉ là một khâu giữa chừng trong dòng tiến triển của xã hội Việt
Nam. Nó phải mang những dạng hình phức tạp của một cơ cấu thỏa hợp rồi từ tính
chất biểu tượng của một lề lối thờ cúng lại thành nơi thu hút quây quần sinh hoạt
trong một tập họp dân chúng và do đó phối hợp với những điều kiện lịch sử khác,
tạo nên bản sắc cho một tập họp để người đời sau có thể khẳng định về một sự tự
trị của làng xã, về một tính “dân chủ” mang ý thức tự tôn biện giải hơn là đúng với
thực tế Việt Nam”7. Và ông cũng cho rằng: “…đình trạm, đình quán là tình trạng
tiền thân của đình làng cho nên tiền sử, sơ sử của đình làng phải tìm trong sự tiến
triển công năng của đình quán, đình trạm 8”. Như vậy sự xuất hiện của ngôi đình
không phải là một sự kiện mang tính nhất thời mà là của một quá trình mang tính
chất riêng của nó. Dựa vào một số tư liệu trong tác phẩm Lục bộ tập kinh của
Khang Tăng Hội, nhiều người cho rằng đình trạm – tiền thân của ngôi đình – đã
xuất hiện từ khoảng thế kỉ thứ II và tiếp tục được duy trì trong các thời đại sau này.
Đặc biệt trong thời Lý – Trần, những ghi chép về đình trạm lại càng tăng lên, chứng
tỏ sự phát triển của loại hình “nhà dừng chân” này. Với nhiều chức năng khác nhau
6 Hà Văn Tấn – Nguyễn Văn Cự (2014). Đình Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, Tr.14.
7 Tạ Chí Đại Trường (2014), Những bài dã sử Việt, Nxb. Tri thức, Tr. 18-19.
8 Tạ Chí Đại Trường (2014), Những bài dã sử Việt, Nxb. Tri thức, Tr. 22.
18
được ghi nhận như: làm nơi dừng chân cho các đoàn sứ giả, những người đưa tin
của triều đình, nơi nghỉ chân của những người khách thập phương, hành cung của
19
điểm dân cư giống như các làng xã truyền thống ở miền Trung và miền Bắc. Và
theo quy chế của nhà Nguyễn, bấy giờ làng nhỏ (tiểu thôn) gọi là ấp, lân, trang,
trại,…(nếu ở đô thị thì gọi là phố hay phường); làng trung bình (trung thôn) thì gọi
là thôn, làng lớn (đại thôn) thì gọi là xã 11. Thay vì gọi là làng thì các tổ chức của
cộng đồng người Việt ở Nam Bộ được gọi thành ấp, thôn, xã tùy theo quy mô và số
lượng nhân khẩu trong vùng đó.
Đã số những lưu dân đến Đồng Nai, Gia Định xưa đều là dân Thuận – Quảng,
điều này chỉ ra rằng văn hóa Thuận – Quảng là những hạt giống đầu tiên được gieo
trồng tại vùng đất mới này. Mặt khác, “lưu dân Thuận Quảng (…) đa số là người
nghèo nên hành trang văn hóa được mang theo đến vùng đất mới chủ yếu là văn
hóa dân gian, bao gồm câu hò, điệu lý cũng như loại hình diễn xướng, tập tục sinh
hoạt cùng thế chế văn hóa tín ngưỡng từ làng xã của quê hương bản quán” 12, và
trong những hành trang đó hình ảnh của ngôi đình cũng được mang theo và được
xây dựng tại các làng xã Nam Bộ, nơi mà họ bắt đầu một cuộc sống mới với nhiều
yếu tố mới.
Khi đời sống cộng đồng được củng cổ hơn, tức khi đó làng xã đã được định
hình một cách rõ ràng thì “xây dựng đình làng là nhu cầu tinh thần, có đình thì mới
tạo được thế đứng, gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ, bằng không
thì chỉ là lục bình trôi sông, việc gạch rời rạc, một dạng “lưu dân tập thể”, mặc dầu
làng lắm gạo nhiều tiền” 13 . Đình trở thành một biểu tượng không thể thiếu đối với
làng xã, là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng, là chỗ dựa tinh thần vững chắc
cho những người dân tha phương, là nơi giải quyết những công việc chung của
cộng đồng. Và theo tác giả Trần Ngọc Thêm, làng ở Nam Bộ mang tính chất mở,
thoáng chứ không co cụm như ở Trung Bộ và Bắc Bộ, do vậy tính cộng đồng ở đây
thấp hơn hẳn so với tính cộng đồng làng xã ở Trung Bộ và Bắc Bộ. Chính vì tính
cộng đồng ở thông ấp ở Nam Bộ thấp cho nên người Việt ở đây lại càng có nhu cầu
trạng bất ổn như thế, nên các công trình kiến trúc đình làng ở các thế kỷ trước dần
dần bị hư hại do sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, chúng đã bị mai một gần
hết do thiếu người chăm sóc. Chúng ta chỉ ghi nhận được một vài ngôi đình được
xây dựng trong giai đoạn này như: đình Minh Hương Gia Thạnh (1789) và đình
Hiển Trung (1795) ở thành phố Hồ Chí Minh.
14 Trần Ngọc Thêm (chủ biên) (2013), Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, Nxb. Văn hóa – nghệ thuật,
TpHCM, Tr. 217
15 Phạm Anh Dũng (2013), Kiến trúc đình chùa Nam Bộ, Nxb. Xây dựng, Hà Nội, Tr. 27.
21
Giai đoạn từ năm 1802 đến năm 1858, trong giai đoạn này chính quyền nhà
Nguyễn bắt đầu củng cố tình hình trong nước, thực hiện một số chính sách nhằm
phát triển đời sống kinh tế, văn hóa ở các vùng trên cả nước. Tuy nhiên, nhà
Nguyễn cũng có nhiều chính sách khắt khe trong việc xây dựng đình, chính vì thế
“…ở Nam Bộ không có ngôi đình nào có quy mô. Đại khái chỉ có một ngôi chánh
điện, một võ ca, võ qui và một vài ngôi nhà phụ bán kiên cố. Thủa đó đình còn lợp
lá. Đặc biệt chỉ có một vài nơi lợp ngói âm dương” 16. Bên cạnh đó việc sắc phong
các thần cũng gặp nhiều khó khăn đòi hỏi nhiều thủ tục, đút lót như tác giả Sơn
Nam nhận xét: “lúc hưng thịnh, vua quan nhà Nguyễn thận trọng, đợi ba năm mới
ban sắc một loạt, lựa ngày lành, vận hội tốt…” 17. Nhưng đến năm Tự Đức thứ 5 tức
năm 1852, không rõ vì lý do gì, có người cho rằng vua Tự Đức dự đoán trước được
nguy cơ mất nước, nên vội vã cấp hàng loạt sắc thần cho hầu hết các đình ở Nam
Bộ, như để xác định chủ quyền về mặt tinh thần trên vùng đất mới, trong đợt này,
phần lớn các sắc phong cấp cho các xã, thôn còn sót lại đều là sắc Bổn Cảnh Thành
Hoàng. Chúng ra cũng ghi nhận được một số ngôi đình được xây dựng trong thời
gian này, chẳng hạn đình Bình Hòa (1818 – thành phố Hồ Chí Minh), đình Thắng
Tam (1820 – Bà Rịa - Vũng Tàu), đình Mỹ Phước (1832 – An Giang)…
Giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1945, đây là giai đoạn thực dân Pháp nổ
được xây dựng mới khá ít, nhưng mặt khác chất lượng lại được tăng lên, chẳng
hạn như đình Trần Hưng Đạo, đình Đông Phú ở thành phố Hồ Chí Minh, đình Tú Tề
ở An Giang,…
Sau ngày 02/09/1945, tình hình chiến sự ở Nam Bộ có phần bớt gay gắt hơn
trước, kiến trúc đình chùa trong giai đoạn này gần như không phát triển do sinh
hoạt thường kỳ của các hương chức làng không còn. Điều này cũng xuất phát từ
chính sách bài trừ các hoạt động “mê tín dị đoan” của của chính quyền mới do chưa
nhận thức được về các hoạt động tín ngưỡng truyền thống của dân cư trong các
địa phương ở Nam Bộ nói riêng và trên cả nước nói chung.
Từ năm 1946 – 1954, cuộc kháng chiến chống sự xâm lược trở lại của thực
dân Pháp diễn ra quyết liệt, tình hình đó làm cho đình trong các làng xã Nam Bộ
tiếp tục rơi vào tình trạng suy thóai và không có sự phát triển thêm nào.
Giai đoạn từ năm 1954 – 1975, Nam Bộ trở thành lãnh thổ của chính phủ
Việt Nam cộng hòa. Đời sống và sinh hoạt của các làng xã bị hạn chế do chính sách
khắc nghiệt của chính quyền Sài Gòn, do vậy vị thế của ngôi đình hầu như mất hẳn.
Thêm vào đó, các cuộc chiến tranh xảy ra liên miên cũng tác động mạnh mẽ đến sự
23
phát triển của đình làng. Sinh hoạt đình, nếu có, cũng chỉ được tổ chức sơ sài để noi
theo “mỹ tục” tiền nhân qua lễ Kỳ Yên hoặc giỗ Thành Hoàng mà thôi. Các ngôi đình
bị phế bỏ rất nhiều, một vùng chỉ còn duy trì vài ngôi đình có giá trị lịch sử và nổi
tiếng. Không có ngôi đình nào được xây mới, chỉ vài đình được sửa chữa lại mà
thôi.
Sau khi đất nước thống nhất, Nam – Bắc sum họp một nhà, và đặc biệt là sau
công cuộc đổi mới đất nước, các ngôi đình ở Nam Bộ được dần hồi phục và xây mới,
các sinh hoạt lễ hội cũng được tổ chức thường xuyên hơn với sự tham gia của nhiều
tầng lớp dân cư. Tuy nhiên việc xây dựng và sửa chữa những ngôi đình chỉ nhằm
đáp ứng nhu cầu hướng về văn hóa cội nguồn của nhân dân trong nước và Việt
kiều trong thời đại mới, phần lớn cũng chỉ dừng lại ở tính hình thức. Hiện nay, mặc
Theo giáo sư Hà Văn Tấn, “đình là ngôi nhà công cộng của cộng đồng làng xã
Việt Nam. Nơi đây ba chức năng được thực hiện hành chính, tôn giáo và văn hóa.
Về chức năng hành chính, đình là chỗ để họp bàn các “việc làng”, để xử kiện, phạt
vạ,…theo những quy ước của làng. Về chức năng tôn giáo, đình là nơi thờ thần của
làng, thường là một vị, những cũng có khi nhiều vị, được gọi là “Thành Hoàng”
làng. Về chức năng văn hóa, đình là nơi biểu diễn các kịch hát, như chèo, hay hát
cửa đình – tức ca trù, một hình thức đã phát triển trong các thế kỉ trước, nơi tiến
hành các lễ hội các trò chơi. Thực ra các chức năng trên không bao giờ được tách
bạch, mà đan xen, hòa quyện với nhau” 20, đó chính là ba đặc trưng chính và xuyên
suốt nhất của ngôi đình trong làng xã Việt Nam. Tuy nhiên, đối với làng xã Nam Bộ
nội dung cụ thể của từng chức năng trên có thể rất khác so với làng xã ở Bắc Bộ và
Trung Bộ. Chính vì vậy việc tìm hiểu các chức năng của đình Nam Bộ cần được đặt
cụ thể trong không gian làng xã Nam Bộ và xem xét nó trong cả một quá trình lịch
sử, để có thể đưa ra những kết luận khách quan nhất.
.2.1. Chức năng tín ngưỡng21
Khi nói đến vấn đề tín ngưỡng nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh có đưa ra
quan điểm sau: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó
thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái
thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có
nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái
19 Nguyễn Quốc Chính (2005), “Đình Nam Bộ một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc”, Nam Bộ
đất và người, tập III, Nxb. Trẻ, TpHCM, Tr. 404.
20 Hà Văn Tấn – Nguyễn Văn Kự (2014), sđd, Tr. 13.
21 Theo chúng tôi nói đình có chức năng tín ngưỡng phù hợp hơn chức năng tôn giáo.
25