SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THCS&THPT Bàu Hàm
Mã số:…….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC TRONG DẠY
HỌC VĂN BẢN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
Người thực hiện: Cao Thị Hoàng Hà
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục:
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học : 2012 - 2013
TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội luôn vận động và phát triển. Trong quy luật ấy, đòi hỏi mỗi hoạt động
phải được đổi mới không ngừng để thích ứng với cuộc sống mới. Giáo dục và Đào
tạo là quốc sách hàng đầu, do vậy cần phải được đổi mới đầu tiên cho phù hợp với xu
thế phát triển của thời đại hiện nay. Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những
năm học gần đây, Bộ GD&ĐT luôn quán triệt thúc đẩy tinh thần đổi mới phương
pháp trong dạy và học, hạn chế tình trạng dạy học một chiều, nhằm phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh.
Cũng cần nhận thức rằng, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học không thể chỉ
nói chung chung mà cần phải áp dụng vào từng môn học, từng bài dạy, tiết dạy cụ
thể. Mỗi một phân môn, một nội dung kiến thức có những điểm khác biệt mà giáo
viên cần phải linh động trong quá trình giảng dạy, từ đó để áp dụng một cách có hiệu
quả việc kết hợp các phương pháp mới vào trong quá trình dạy học.
Trong chương trình Ngữ văn 12, tập 2, tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của
nhà văn Nguyễn Minh Châu được xem là một trong những đơn vị kiến thức trọng
tâm, là một tác phẩm mới được đưa vào chương trình, thuộc về giai đoạn văn học
sau năm 1975, được viết theo hướng đổi mới, đi sâu khai thác số phận con người.
Đây cũng là một tác phẩm mà trong đó tác giả gửi gắm nhiều quan niệm về cuộc
sống, về nghệ thuật. Việc dạy học bài này nhằm để giúp cho học sinh cảm nhận được
số phận, vẻ đẹp con người trong cuộc sống; đồng thời hình thành, định hướng về cách
nhìn cuộc đời xung quanh mình là một yêu cầu quan trọng. Không chỉ vậy, để giảng
dạy tốt một tác phẩm được viết sau thời kì đổi mới, với quan niệm nghệ thuật khác
hẳn những tác phẩm văn học khác trong chương trình là một điều không dễ với rất
nhiều giáo viên. Làm thế nào để đưa ra những kiến thức nền cơ bản nhất để học sinh
có thể tiếp thu và cảm nhận tác phẩm một cách hiệu quả là điều mà mỗi giáo viên
đứng trên bục giảng luôn trăn trở và suy nghĩ. Chính vì những lí do đó, tôi đã chọn đề
tài này.
Trong quá trình giảng dạy tôi gặp phải một số thuận lợi và khó khăn như sau:
1.1. Thuận lợi:
trình giảng dạy của người thầy.
Học sinh trong trường đa phần là người Việt gốc Hoa, chất lượng đầu vào thấp,
trình độ chủ yếu là trung bình, yếu và kém; khả năng cảm thụ văn học còn hạn chế.
Đây là vấn đề khó khăn nhất đối với giáo viên của nhà trường trong việc hướng dẫn
các em cảm thụ và chiếm lĩnh tri thức tác phẩm, đoạn trích văn học.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận:
1.1. Phương pháp dạy học tích cực là gì?
Theo PGS.TS Vũ Hồng Tiến, phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ
rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy
học tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là
tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào
phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực
thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Luật Giáo dục, điều 24.2, cũng đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh".
Như vậy, có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học
tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Trong quá trình đó, giáo viên
không chỉ đơn giản là người truyền thụ tri thức nữa mà là người hướng dẫn, chỉ đạo,
tổ chức để học sinh tự chiếm lĩnh tri thức, học sinh tự đánh giá chính mình và đánh
giá lẫn nhau thông qua các hoạt động học tập sôi nổi.
4
1.2. Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực:
* Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Có rất nhiều phương pháp dạy học được sử dụng trong quá trình lên lớp như:
thuyết trình, giảng giải, phát vấn, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, giảng bình, phân tích,
sơ đồ hóa… Trong quá trình lên lớp, tùy thuộc vào từng bài dạy cụ thể, từng đối
tượng học sinh cụ thể mà người dạy cần phải linh hoạt phối hợp, sử dụng các phương
pháp một cách phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất. Trong các phương pháp được đề
cập ở trên, trong chuyên đề này, chúng tôi chỉ đề cập đến bốn phương pháp mà theo
chúng tôi có khả năng phát huy tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình
tiếp nhận văn bản, tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học văn đối với tác phẩm
Chiếc thuyền ngoài xa: phương pháp dạy học nêu vấn đề lấy học sinh làm trung tâm,
5
phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp giảng bình, phương pháp sử dụng sơ đồ
hóa.
2.1. Phương pháp dạy học nêu vấn đề
2.1.1 Lý thuyết về phương pháp dạy học nêu vấn đề
GS Phan Trọng Luận trong cuốn giáo trình Phương pháp dạy học văn (1998)
có nêu “Tác phẩm nào cũng có vấn đề cả nhưng không phải bất cứ vấn đề nào trong
tác phẩm cũng tự nhiên trở thành tình huống có vấn đề đối với chủ thể người học”.
Vậy vấn đề là gì? Tình huống có vấn đề là gì? Vấn đề được định nghĩa như là mâu
thuẫn giữa sự hiểu biết và không hiểu biết, nó chỉ được giải quyết bằng con đường
tìm kiếm lời giải đáp cho những câu hỏi đã nảy sinh ra. Còn tình huống có vấn đề là
tình huống trong đó chủ thể có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết,
đồng thời có mong muốn giải quyết mâu thuẫn bằng cách huy động những cái đã biết
tạo ra phương thức hành động mới để đạt được hiểu biết mới. Để tạo ra những tình
huống có vấn đề phải xây dựng hệ thống những câu hỏi nêu vấn đề. Câu hỏi nêu vấn
đề phải làm rõ được các vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm, gây hứng thú cho học sinh,
động viên khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề đã nêu. Câu hỏi nêu vấn đề phải
vừa sức với học sinh, nếu quá khó hoặc quá dễ thì việc sử dụng phương pháp sẽ
đứa… Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình
như trên đất được…”;…
* Tình huống bất ngờ
(1) Tại sao khi thuyền tiến vào gần bờ, người nghệ sĩ Phùng lại kinh ngạc đến
mức trong mấy phút cứ đứng há hốc mồm ra mà nhìn?
Điều bất ngờ với học sinh ở đây là hình ảnh chiếc thuyền lại chứa đựng trong
nó những nghịch lý mâu thuẫn mà nếu chỉ nhìn ở ngoài khơi xa thì không thể nào
nhận ra được. Nghịch lý đó chính là sự éo le, trớ trêu trong gia đình thuyền chài
(…).
(2) Tại sao trong bức ảnh được chọn, dù là tấm ảnh đen trắng nhưng khi nhìn
vào, Phùng lại thấy “màu hồng hồng của ánh sương mai” và hình ảnh “người đàn
bà” hòa lẫn vào đám đông? Phải chăng đây là một kết thúc có dụng ý của nhà văn?
Em hãy chỉ ra dụng ý đó?
Bức ảnh được chọn trong bộ lịch năm ấy trở thành một tác phẩm nghệ thuật,
nhưng trong bức ảnh ấy không chỉ là vẻ đẹp, là chất thơ của cuộc sống “màu hồng
hồng của ánh sương mai” mà còn chứa đựng sự thật, uẩn khúc của cuộc đời con
người. Bởi vậy, ẩn đằng sau cái kết thúc tưởng như bình thường ấy lại là một thông
điệp sâu sắc về mối quan hệ gắn bó giữa nghệ thuật và cuộc sống.
* Tình huống phản bác, tranh luận
(1) Có người cho rằng, người đàn bà hàng chài là một phụ nữ yếu đuối, nhu
nhược, không dám đấu tranh, không dám giải thoát chính mình. Suy nghĩ của em như
thế nào?
Học sinh trình bày lí do để phản bác: Người đàn bà cam chịu nhẫn nhục,
không chịu bỏ chồng không phải vì yếu đuối, nhu nhược mà xuất phát từ tấm lòng vị
tha cao thượng, từ đức hi sinh, giàu lòng thương con của người phụ nữ Việt Nam, từ
sự thấu hiểu và cảm thông cho người chồng của mình (…).
2.2. Phương pháp thảo luận nhóm
2.2.1.Lý thuyết về phương pháp thảo luận nhóm
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ:“Thảo luận nhóm là phương pháp trong đó
nhóm lớn (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong
+ Khi chiếc thuyền ở ngoài khơi xa, người nghệ sĩ phát hiện được điều gì?
+ Cảm giác của anh như thế nào trước phát hiện đó?
- Nhóm 2: Tìm hiểu phát hiện thứ hai của người nghệ sĩ.
+ Khi chiếc thuyền lại gần, anh phát hiện thêm điều gì? (Đặt trong sự tương
quan với phát hiện thứ nhất)
+ Thái độ của Phùng trước phát hiện thứ hai này như thế nào?
- Nhóm 3, 4: Nhận xét về hai phát hiện của người nghệ sĩ? Từ hai phát hiện
của người nghệ sĩ, em rút ra được cách nhìn nhận cuộc sống như thế nào?
Học sinh hoạt động nhóm, tranh luận, thu được kết quả:
- Phát hiện thứ nhất là một “cảnh đắt trời cho”, một vẻ đẹp “thực đơn giản và
toàn bích”: Đó là cảnh chiếc thuyền lưới vó ẩn hiện trong biển sớm mờ sương “có
pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”, vài cái bóng người “ngồi
im phăng phắc như tượng”…
Trước cảnh tượng ấy, người nghệ sĩ trở nên “bối rối”, “trái tim như có cái gì
đó bóp thắt vào”, cảm thấy mình như “khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện,
khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”…
- Phát hiện thứ hai là một cảnh tượng phi thẩm mỹ (một người đàn bà xấu xí,
mệt mỏi; gã đàn ông to lớn, dữ dằn) và một cảnh tượng phi nhân tính (người chồng
đánh vợ một cách thô bạo, đứa con thương mẹ đánh lại cha).
Trước cảnh tượng đó, Phùng ngơ ngác không tin nổi vào mắt mình, anh vứt
máy ảnh chạy xuống…
- Qua hai phát hiện của người nghệ sĩ, nhà văn chỉ ra: cuộc đời chứa đựng
nhiều nghịch lý, mâu thuẫn; không thể đánh giá con người, cuộc sống ở dáng vẻ bề
ngoài mà phải đi sâu tìm hiểu, phát hiện bản chất bên trong.
8
(2) Với đơn vị kiến thức hình tượng người đàn bà hàng chài, giáo viên có thể
giao vấn đề thảo luận cho các nhóm như sau: Ấn tượng, suy nghĩ, cảm nhận, đánh giá
thuật, giàu tính văn chương của người thầy. Phương pháp giảng bình có thể xem là
phương pháp “gây mê”. Khi đó người bình phải làm sao truyền cảm xúc của mình về
tác phẩm văn chương đến được người nghe, làm cho người nghe cùng suy nghĩ như
mình phù hợp với “ý định và nghệ thuật” của nhà văn . Muốn đạt hiệu quả như vậy
đòi hỏi người dạy phải hiểu sâu sắc, tinh tế về đơn vị kiến thức giảng bình, phải sử
dụng ngôn từ trong sáng, có sự chọn lọc cao, và đặc biệt là phải có một chất giọng
truyền cảm lôi cuốn. Giảng bình tốt sẽ giúp học sinh yêu thích học văn, cảm nhận
được cái hay cái đẹp của bộ môn nghệ thuật ngôn từ này.
Có nhiều cách thức giảng bình : bình bằng hồi ức, bình bằng một lời khen, bình
bằng một kỉ niệm riêng có liên quan đến một yếu tố được bình làm cho yếu tố sống
9
dậy, bình bằng cách so sánh với những kiến thức văn học khác, cũng có khi bình
bằng lời đọc diễn cảm đoạn thơ, câu thơ,…
2.3.2. Vận dụng phương pháp giảng bình trong tiết dạy Chiếc thuyền ngoài xa.
Văn bản Chiếc thuyền ngoài xa là một địa hạt phong phú để người dạy có thể
vận dụng phương pháp giảng bình một cách hiệu quả. Ở đây, chúng tôi đưa ra một số
chi tiết, nội dung có thể giảng bình sau:
* Với chi tiết phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ, sau khi cho học sinh phát
hiện những chi tiết miêu tả bức tranh chiếc thuyền lưới vó trong biển mờ sương, giáo
viên có thể dùng lời bình giảng để học sinh cảm nhận được sâu sắc hơn vẻ đẹp của
bức tranh đó:
Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa giữa biển sớm mù sương,
người nghệ sĩ đã bắt gặp cái tận thiện, tận mỹ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa,
thanh lọc trở nên trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hòa, lãng mạn của cuộc đời. Ở
đây chân lý nghệ thuật đã được khẳng định: nghệ thuật giúp thanh lọc tâm hồn, giúp
cho người nghệ sĩ được sống thực sự trong những giây phút thật nhất, trong sáng
nhất của lòng mình.
* Với chi tiết phát hiện thứ hai của người nghệ sĩ, sau khi người học chỉ ra
2.4. Phương pháp sơ đồ hóa
2.4.1. Lý thuyết về phương pháp sơ đồ hóa
Sơ đồ hóa là phương pháp diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ sơ đồ.
ngôn ngữ sơ đồ được thể hiện bằng các ký hiệu khác nhau như hình vẽ, lược đồ, đồ
thị, bảng biểu,…
Phương pháp sơ đồ hóa là phương pháp khoa học sử dụng sơ đồ để mô tả sự
vật, hoạt động, cho phép hình dung một cách trực quan các mối liên hệ giữa các yếu
tố trong cấu trúc của sự vật, cấu trúc logic của qui trình triển khai hoạt động (Tức là
con đường từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc hoạt động) giúp con người qui hoạch tối
ưu, điều khiển tối ưu các hoạt động.
Phương pháp sơ đồ hóa giúp phát triển năng lực nhận thức, tư duy của học sinh
(năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừ tượng hóa, hệ thống hóa…), đồng thời
thông qua sơ đồ, giúp học sinh có một cái nhìn trực quan về nội dung kiến thức bài
học, có khả năng khắc sâu kiến thức vào trí nhớ của người học.
Việc sử dụng phương pháp sơ đồ hóa có các mức độ khác nhau.
Ở mức độ thấp nhất sơ đồ xuất hiện đầy đủ chỉ được sử dụng như một phương
tiện truyền đạt thông tin của giáo viên: giáo viên xây dựng sơ đồ rồi giới thiệu cho
học sinh bằng phương pháp giải thích minh họa.
Ở mức độ cao hơn sơ đồ được sử dụng như một phương tiện tổ chức hoạt động
tự học của học sinh. Giáo viên tổ chức cho học sinh tự lực nghiên cứu đơn vị kiến
thức rồi yêu cầu học sinh:
- Sử dụng sơ đồ để diễn đạt nội dung đọc được
- Điền tiếp sơ đồ khuyết thiếu, sơ đồ câm
- Tìm những bất hợp lý trong sơ đồ, sửa lại những bất hợp lý đó.
Ở mức độ cao nhất, sơ đồ hóa là sản phẩm quá trình hoạt động của học sinh,
tiến hành sơ đồ hóa chính là tiến hành nhận thức sự vật hiện tượng theo phương pháp
tổng - phân - hợp, thông qua việc sơ đồ hóa nội dung tri thức, học sinh sẽ tự hình
thành cho mình phương pháp nhận thức sự vật.
2.4.2. Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa vào tiết dạy Chiếc thuyền ngoài xa
Ứng dụng vào văn bản Chiếc thuyền ngoài xa, chúng tôi giới thiệu một số đơn
câu hỏi nhỏ:
(1) Người đàn ông thuyền chài được nhìn nhận như thế nào trong suy nghĩ của
các nhân vật Đẩu, Phùng và Phác?
(Giáo viên đưa dẫn chứng để minh họa: “Cả nước không có một người chồng nào
như hắn… Chị không sống nổi với cái lão chồng vũ phu ấy đâu!”
(2)Thái độ của ba nhân vật này trước “người đàn ông vũ phu”, “thủ phạm gây
đau khổ” cho người đàn bà, cho gia đình thuyền chài?
(Giáo viên đưa dẫn chứng để minh họa: Đẩu ngăn cản người đàn ông đánh vợ, Phác
đánh lại bố mình, Phùng đại diện cho công lý khuyên người đàn bà bỏ chồng)
* Ở mức độ cao hơn, chúng tôi giới thiệu hai đơn vị kiến thức với hai dạng sơ
đồ: Sơ đồ khuyết thiếu và sơ đồ câm.
Sơ đồ khuyết thiếu: Chúng tôi lựa chọn đơn vị kiến thức cách nhìn nhận, thái
độ của người đàn bà hàng chài đối với chồng mình.
Người đàn
ông vũ phu
Người
đàn bà
?
(2)
?
(1)
Ở dạng sơ đồ này, giáo viên bằng năng lực sư phạm của mình, nêu vấn đề để
học sinh tìm hiểu, phát hiện ra nội dung trong phần thiếu của sơ đồ. Với đơn vị kiến
thức và dạng sơ đồ như trên, chúng tôi giả thiết một số câu hỏi phát vấn như sau:
(1) Tại sao khi bị chồng đánh đập một cách dã man “ba ngày một trận nhẹ,
năm ngày một trận nặng”, người đàn bà lại không hề chống trả, không hề kêu van
hay chạy trốn? Trong cách nhìn của người đàn bà đáng thương đó, chồng mình trở
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
Ở dạng sơ đồ này, dưới sự phát vấn của giáo viên và thông qua việc tìm hiểu
sâu tác phẩm, học sinh phải tự tìm ra nội dung cho mỗi vị trí của sơ đồ. Chúng tôi giả
thiết một số câu hỏi như sau:
13
(1) Hình ảnh sự vật xuất hiện trong ống kính của người nghệ sĩ Phùng sau
nhiều ngày phục kích là gì? (Chiếc thuyền lưới vó)
(2) (3) Chiếc thuyền được Phùng phát hiện, nhìn nhận ở những vị trí nào?
(Chiếc thuyền lúc ở ngoài khơi xa và chiếc thuyền khi tiến vào gần bờ “đâm thẳng
vào chỗ tôi đứng”).
(4) Chiếc thuyền khi ở ngoài khơi xa hiện lên trong ống kính máy ảnh của
Phùng như thế nào? (Chiếc thuyền với cảnh tượng buổi bình minh hiện lên như một
“cảnh đắt trời cho”, “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, một vẻ đẹp
toàn bích…)
(5) Khi chiếc thuyền tiến vào gần bờ, chuyện gì đã xảy ra? (Một cảnh tượng
phi thẩm mỹ (người đàn bà xấu xí, mệt mỏi, người đàn ông dữ dằn) và một cảnh
* Ở mức độ cao nhất, sơ đồ hóa là sản phẩm của quá trình hoạt động của học
sinh. Chúng tôi chọn đơn vị kiến thức kết thúc tác phẩm: Tấm ảnh được chọn trong
bộ lịch năm ấy. Để có thể thực hiện việc xây dựng sơ đồ, đòi hỏi học sinh phải đọc kĩ
văn bản, hiểu sâu và phải có năng lực phân tích, tổng hợp, khái quát hóa vấn đề. Học
sinh hoạt động lập sơ đồ dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Ở đơn vị kiến thức này,
chúng tôi đưa ra hệ thống câu hỏi như sau:
(1) Trong đoạn kết thúc tác phẩm, hình ảnh, sự vật nào được nhắc đến? (Tấm
ảnh đen trắng)
(2) Mỗi lần nhìn vào tấm ảnh đó, người nghệ sĩ Phùng lại trông thấy điều gì?
(màu hồng hồng của ánh sương mai) Và nếu nhìn lâu hơn, hình ảnh nào xuất hiện
trong tấm ảnh? (người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch…)
(3) Theo em, “màu hồng hồng của ánh sương mai” là biểu tượng cho điều gì?
(nghệ thuật). Hình ảnh “người đàn bà” bước ra từ bức tranh là biểu tượng cho điều
gì? (Cuộc sống).
(4) Từ đó, em hãy phát biểu thông điệp của Nguyễn Minh Châu về mối quan
hệ giữa nghệ thuật và đời sống? (Nghệ thuật chân chính không thể tách rời, thoát ly
cuộc sống, nghệ thuật chính là cuộc đời và phải vì cuộc đời).
Học sinh sắp xếp các nội dung kiến thức vừa tìm được theo một hệ thống logic
hợp lý để tạo thành sơ đồ, giáo viên chỉnh sửa, hoàn thiện sẽ cho ta mô hình sau:
Ảnh đen trắng
Màu hồng
của ánh
sương mai
Người đàn
bà rách rưới
Nghệ thuật
%
+
%
+
%
+
%
12A2
40
0
0.0
2
5.0
15
37.5
23
57.5
- Lớp 12A3: Có áp dụng SKKN:
Lớp Số lượng
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
HS
+
%
+
%
+
%
3. Tập san đổi mới giáo dục trung học, Sở GD-ĐT Đồng Nai, 2007.
4. Dạy học giảng văn ở trường PTTH, Nguyễn Đức Ân, 1997.
16
Thiết kế giáo án tham khảo:
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
Nguyễn Minh Châu
A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT.
- Hiểu được quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật, về cách
nhìn đời và nhìn người trong cuộc sống.
- Thấy được những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm và bước đầu nhận diện được một số
đặc trưng cơ bản của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975.
B TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG.
1. Kiến thức:
- Những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật: phải nhìn nhận con
người và cuộc sống một cách đa diện; nghệ thuật chân chính luôn gắn bó với cuộc đời, vì cuộc đời.
- Tình huống truyện độc đáo mang, mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống. Điểm
nhìn nghệ thuật đa chiều. Lời văn giản dị và sâu sắc, dư ba.
2. Kỹ năng:
- Đọc – hiểu truyện ngắn hiện đại.
- Phân tích tâm lí nhân vật.
C. NỘI DUNG LÊN LỚP
1. Ổn định lớp, kiểm tra sĩ số:
2. Kiểm tra bài cũ:
- Em hãy nhắc lại đặc điểm của văn học Việt Nam giai đoạn 1975 đến hết thế kỉ XX?
3. Bài mới:
Lời vào bài:
2. Tác phẩm:
- Chiếc thuyền ngoài xa tiêu biểu cho xu hướng
17
Giáo viên cung cấp thêm:
- Sáng tác tháng 8/ 1983, lúc đầu in trong tập Bến
quê, sau đó lấy làm tên chung cho một tập truyện
ngắn.
HĐ 3: Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản.
- Học sinh tóm tắt những nét chính của tác phẩm
Chiếc thuyền ngoài xa?
- Giáo viên nhận xét và chốt lại những ý chính.
- Theo em có thể chia văn bản thành mấy đoạn, nội
dung của mỗi đoạn là gì?
Truyện chia làm 3 đoạn:
+ Đoạn 1: (Từ đầu đến “chiếc thuyền lới vó đã
biến mất"). Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp
ảnh.
+ Đoạn 2: (Từ “Ngay lúc ấy … với sóng gió giữa
phá”): Câu chuyện của người đàn bà làng chài.
+ Đoạn 3: Còn lại: Tấm ảnh trong bộ lịch năm ấy.
- Em hãy xác định tình huống truyện trong tác phẩm?
Em có nhận xét gì về cách xây dựng tình huống
truyện của Nguyễn Minh Châu?
Học sinh thảo luận theo bàn và trả lời.
- Giáo viên nhận xét chốt ý.
Dường như Nguyễn Minh Châu muốn kéo hiện
thực cuộc sống từ xa lại thật gần để nhìn nhận cuộc
của người đàn bà hàng chài. Từ đó, Đẩu và
Phùng “vỡ ra thêm nhiều điều mới mẻ”.
→ Đây là tình huống truyện độc đáo, hấp
dẫn, mang ý nghĩa phát hiện, khám phá về sự
thật đời sống, một tình huống nhận thức.
a) Hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh.
* Phát hiện thứ nhất:
- Một cảnh đắt trời cho, một vẻ đẹp thực đơn
18
được điều gì?
- Đại diện các nhóm trình bày, bổ sung.
- GV gợi thêm: cảnh được miêu tả thế nào?
+“Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu
sương mù màu trắng sữa có pha đôi chút màu hồng
do ánh mặt trời chiếu vào”
+“Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng
phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang
hướng mặt vào bờ”.
+“toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng
đều hài hoà và đẹp”, “một vẻ đẹp thực đơn giản và
toàn bích”.
- Vì sao Phùng gọi đây là một “cảnh đắt trời cho”?
- GV gợi: vì sao trong lúc cảm nhận vẻ đẹp của bức
tranh, anh lại nghĩ đến câu nói: “bản thân cái đẹp
chính là đạo đức”?
Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa
đánh đập vợ một cách thô bạo… Đứa con vì thương
mẹ đã đánh lại cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của
bố ngã dúi xuống cát… Chứng kiến những cảnh
tượng đó, nghệ sĩ Phùng “kinh ngạc đến mức, trong
mấy phút đầu , cứ há hốc mồm ra mà nhìn”. Sở dĩ
nghệ sĩ Phùng trở nên như vậy là vì anh không thể
ngờ rằng đằng sau cái vẻ đẹp diệu kì của tạo hóa lại
là bi kịch của cuộc đời, là biểu hiện của cái ác, cái
xấu. Vừa mới lúc trước, anh còn cảm thấy “bản thân => Qua hai phát hiện của người nghệ sĩ, nhà
cái đẹp chính là đạo đức”, thấy “chân lí của sự toàn văn chỉ ra: cuộc đời chứa đựng nhiều nghịch lí,
thiện”, thế mà chỉ ngay sau đó chẳng còn cái gì là mâu thuẫn; không thể đánh giá con người, cuộc
sống ở dáng vẻ bên ngoài mà phải đi sâu tìm
“đạo đức”, là cái Chân, cái Thiện của cuộc đời.
hiểu, phát hiện bản chất bên trong.
b) Câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở
tòa án huyện:
19
* Nội dung câu chuyện.
- Hoàn cảnh của người đàn bà hàng chài?
(Bị chồng đánh đập một cách vũ phu, tàn ác: ba ngày
một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng nhưng vẫn cam
chịu “không hề kêu một tiếng, không chống trả,
không tìm cách chạy trốn”).
- Trước hoàn cảnh của người đàn bà hàng chài, Đẩu –
chánh án tòa án huyện đã đưa ra giải pháp gì?
(Đẩu khuyên người đàn bà bỏ chồng vì anh tin giải
pháp của mình là đúng.)
- Giải pháp mà Đẩu đưa ra có được người đàn bà chấp
hứng của một con người bảo vệ công lý “chủ trương
nguyên tắc của chúng tôi là kêu gọi hòa thuận”.
+ Sau: “Không thể nào hiểu được!” “Phải, bây giờ
thì tôi đã hiểu” rồi “Một cái gì vừa mới vỡ ra trong
đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”.
- Từ câu chuyện của người đàn bà hàng chài và thái
độ của Phùng và Đẩu, nhà văn Nguyễn Minh Châu
muốn gửi đến người đọc thông điệp gì?
* Thông điệp nghệ thuật.
Đừng nhìn cuộc đời, con người một cách đơn
giản, phiến diện; phải đánh giá sự việc, hiện
tượng trong các mối quan hệ đa diện, nhiều
chiều.
20
* Nhân vật người đàn bà hàng chài.
- Học sinh thảo luận nhóm (3 phút):
Ấn tượng, suy nghĩ, cảm nhận, đánh giá về người đàn
bà hàng chài?
Người đàn bà
Vẻ bề ngoài
Phẩm chất bên trong
Xấu xí
Vị tha, giàu đức hi sinh
→ Cuộc đời, con người đầy những nghịch lí,
không xuôi chiều.
→ Cần phải nhìn nhận con người trong từng
hoàn cảnh cụ thể.
c) Tấm ảnh được chọn trong “bộ lịch năm
ấy”:
Ảnh đen trắng
Màu hồng
hồng của ánh
sương mai
Nghệ thuật
Người
đàn bà
Cuộc đời
Ý nghĩa: Nghệ thuật chân chính không thể
tách rời, thoát li cuộc sống. Nghệ thuật chính là
cuộc đời và phải vì cuộc đời.
2. Nghệ thuật:
- Tình huống truyện độc đáo, có ý nghĩa khám
phá, phát hiện về đời sống.
- Tác giả lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn thích hợp,
làm cho câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực
và có sức thuyết phục.
…………………………………………………………………………………………………………
22
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Trường THCS&THPT Bàu Hàm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bàu Hàm, ngày tháng năm 2012
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012 – 2013
VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
Họ và tên tác giả: Cao Thị Hoàng Hà
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THCS&THPT Bàu Hàm
Lĩnh vực:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Phương pháp giáo dục
- Lĩnh vực khác
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong ngành
1. Tính mới:
- Có giải pháp hoàn toàn mới
23