Hội quán của người hoa ở sài gòn chợ lớn (cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XX) luận văn thạc sĩ lịch sử - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----O0O-----

LÊ THỤY HỒNG YẾN

HỘI QUÁN CỦA NGƯỜI HOA
Ở SÀI GÒN – CHỢ LỚN
(CUỐI THẾ KỶ XVIII – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM THỊ THU NGA

TP. HỒ CHÍ MINH - 2012


MỤC LỤC
TRANG
DẪN LUẬN ......................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu ......................................................................................................2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ..............................................................................8
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ..............................................................9
5. Đóng góp của luận văn ................................................................................................9
6. Bố cục của luận văn...................................................................................................10
CHƢƠNG 1. QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
HỘI QUÁN NGƢỜI HOA Ở SÀI SÒN – CHỢ LỚN ...............................................11
1.1. Thuật ngữ và khái niệm .........................................................................................11

2.5. Hoạt động văn hóa – xã hội ...................................................................................84
2.5.1. Hoạt động văn hóa ........................................................................................84
2.5.2. Hoạt động xã hội ...........................................................................................88
CHƢƠNG 3. MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ HỘI QUÁN CỦA NGƢỜI HOA
Ở SÀI GÒN – CHỢ LỚN ............................................................................................94
3.1. Đặc điểm và tính chất ............................................................................................94
3.2. Hội quán ngƣời Hoa trong tiến trình hội nhập văn hóa lịch sử vùng đất
Sài Gòn – Chợ Lớn ......................................................................................................103
KẾT LUẬN ..................................................................................................................114
CHÚ THÍCH................................................................................................................120
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................................121
PHỤ LỤC .....................................................................................................................131


Phụ lục 1. Dân số Sài Gòn qua các năm ......................................................................132
Phụ lục 2. Biên Bản cuộc họp năm 1874 của thương nhân người Âu và người Hoa
ở Sài Gòn và Chợ Lớn...................................................................................................138
Phụ lục 3. Nhà máy xay và nhà xuất khẩu (1939) .......................................................141
Phụ lục 4. Bổ nhiệm ông Quách Mậu Cang thay thế ông Châu Ky làm Bang
Trưởng Triều Châu ở Sài Gòn năm 1942......................................................................144
Phụ lục 5. Bầu cử các Phó Ban Trưởng Hoa kiều cho những năm 1940-1943. ..........145
Phụ lục 6. Ban trưởng Huê kiều và kiểm tra Huê kiều tại Chợ Lớn. ...........................147
Phụ lục 7. Thuế các ban trưởng Hoa kiều được phép thu để trang trải cho các tổng
phí, năm 1942. ...............................................................................................................149
Phụ lục 8. Hồ sơ về bang Hoa kiều tỉnh Gia Định, 1946. ............................................151
Phụ lục 9. Sơ đồ Sự đầu tư của người Hoa ở Việt Nam. .............................................154
Phụ lục 10. Sơ đồ Quan hệ bạn hàng giữa các công ty thương mại của phương
Tây, các nhà buôn người Hoa và cư dân bản địa ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc....155
Phụ lục 11. Sơ đồ Hệ thống buôn bán lúa gạo của người Hoa ở Việt Nam dưới thời
Pháp thuộc. ....................................................................................................................156

của cộng đồng ngƣời Hoa ở vùng đất này. Vì vậy, nghiên cứu Hội quán của
ngƣời Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn là việc làm có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm
sáng tỏ đặc trƣng của Hội quán ngƣời Hoa nói chung và Hội quán của ngƣời
Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn nói riêng, là cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc
bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống và yêu cầu của tiến bộ xã hội.


2

Với những lý do đó, chúng tôi chọn “Hội quán của người Hoa ở Sài Gòn
– Chợ Lớn (cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XX)” để nghiên cứu và làm luận
văn Thạc sĩ.
2.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trƣớc đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngƣời Hoa ở Việt
Nam, Nam Bộ của các tác giả trong và ngoài nƣớc. Nhìn chung, các tác phẩm
đề cập đến nhiều vấn đề: lịch sử di cƣ; các lĩnh vực kinh tế, thƣơng mại; chính
sách của các triều đại phong kiến Việt Nam; đời sống sinh hoạt văn hóa, tôn
giáo - tín ngƣỡng, lễ hội… của ngƣời Hoa. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về Hội
quán của ngƣời Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn bao gồm cách thức tổ chức, quản lý,
kiến trúc, nghệ thuật và các hoạt động kinh tế, tôn giáo – tín ngƣỡng, văn hóa –
xã hội thì chƣa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào. Ở đây, chúng tôi
không thể nêu tất cả những tƣ liệu về ngƣời Hoa chúng tôi đã tiếp cận đƣợc
trong quá trình nghiên cứu làm luận văn mà chỉ điểm lại những công trình có
nội dung liên quan đến đề tài của mình.
Trước năm 1975 đã có một số công trình nghiên cứu chuyên về ngƣời
Hoa ở Việt Nam. Trong thời Pháp thuộc, đáng chú ý là “Thế lực khách trú và
vấn đề di dân vào Nam Kỳ” của Đào Trinh Nhất, xuất bản năm 1924 bằng tiếng

quan trọng, một số sự kiện đó có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến cộng
đồng ngƣời Hoa ở Việt Nam. Một số công trình quan trọng đã nhanh chóng đáp
ứng việc quan tâm tìm hiểu về ngƣời Hoa ở Việt Nam về các vấn đề kinh tế,
chính trị, xã hội… Khi Việt Nam bƣớc vào thời kỳ đổi mới, vấn đề ngƣời Hoa
càng đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Vào năm 1981, Trƣơng Thị Yến đã
có một bài viết chuyên đề “Nhà Nguyễn với các thương nhân người Hoa”. Do
chỉ tập trung vào một khía cạnh hẹp là chính sách đối với thƣơng nhân ngƣời
Hoa nên tác giả có điều kiện đi sâu, tập hợp đƣợc nhiều tƣ liệu, trình bày đƣợc
nhiều nội dung quan trọng trong nội dung sách. Tuy nhiên, thời điểm tác giả
công bố công trình nghiên cứu này là lúc quan hệ Việt – Trung rất căng thẳng,
đầy phức tạp cho nên không khí chính trị ít nhiều ảnh hƣởng đến các nhận định
của tác giả. Nhiều cuộc hội thảo quốc gia và những công trình cấp Nhà nƣớc đã


4

đƣợc tiến hành, đặt nền tảng cho việc nghiên cứu về ngƣời Hoa một cách hệ
thống và toàn diện. Đáng lƣu ý là đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc “Luận cứ khoa
học cho việc xác định chính sách đối với cộng đồng người Khơme và người Hoa
ở Việt Nam” (do Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, Phan
Xuân Biên chủ nhiệm đề tài từ năm 1991 đến năm 1995). Trong đó, các luận cứ
khoa học quan trọng cho việc hình thành chính sách đối với ngƣời Hoa đã đƣợc
xây dựng một cách hệ thống với cơ sở lý luận và thực tiễn phong phú. Ngoài ra,
chúng ta phải kể đến những báo cáo khoa học và các công trình nghiên cứu của
Châu Thị Hải và Trần Khánh. Châu Thị Hải có các công trình nghiên cứu nhƣ:
“Tìm hiểu sự hình thành các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trong bối
cảnh lịch sử Đông Nam Á”, Luận án Phó Tiến sĩ (1989), “Người Hoa ở Việt
Nam trong âm mưu bành trướng của các Hoàng đế Trung Hoa (từ thế kỷ XI –
XIX) (1997), “Triều Nguyễn với các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam
thế kỷ XIX” (1997), “Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam” (1997),

Hoa ở miền Nam Việt Nam; đặc biệt, Mạc Đƣờng dành sự quan tâm nghiên đối
với khu vực Chợ Lớn – nơi ngƣời Hoa chủ yếu sống tập trung. Bên cạnh mảng
kinh tế, Mạc Đƣờng còn trình bày những tiềm năng văn hóa phát triển, nhân
cách ứng xử và tâm lý cộng đồng của ngƣời Hoa. Tác giả Nghị Đoàn – Chủ tịch
Hội văn hóa các dân tộc thành phố Hồ Chí Minh – đã biên soạn cuốn sách
“Người Hoa ở Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh” (1999). Tác phẩm đã cung
cấp cho tác giả viết luận văn nhiều thông tin về các chính sách của Đảng, Nhà
nƣớc hiện nay đối với ngƣời Hoa ở Việt Nam nói chung và ngƣời Hoa ở thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng. Nhóm tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại
Phúc, Trƣơng Ngọc Tƣờng, Lý Lƣợc Tam, Lê Hải Đăng, Phạm Hoàng Quân
với “Văn hóa và nghệ thuật người Hoa thành phố Hồ Chí Minh” (2006), Viện
Khoa học xã hội vùng Đông Nam Bộ - Trung tâm nghiên cứu dân tộc và tôn
giáo đã tổ chức biên soạn công trình nghiên cứu “Góp phần tìm hiểu văn hóa
người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh” (2007) và Bộ văn hóa thông tin - Ủy ban
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh với tác phẩm “Người Hoa tại thành phố Hồ
Chí Minh” (2007) đã thu thập đƣợc nhiều tƣ liệu về ngƣời Hoa, nhất là lĩnh vực


6

văn hóa, trên cơ sở đó các công trình này góp phần cung cấp cứ liệu vào việc đề
ra chính sách phù hợp cho cộng đồng ngƣời Hoa, nhằm nâng cao đời sống vật
chất tinh thần cho ngƣời Hoa trong giai đoạn cách mạng mới của đất nƣớc.
Những công trình nghiên cứu của Trần Khánh “Hoạt động kinh tế của người
Hoa ở Đông Nam Á” (1984), “Vai trò của người Hoa trong nền kinh tế các
nước Đông Nam Á” (1992), “Người Hoa trong xã hội Việt Nam thời Pháp
thuộc và dưới chế độ Sài Gòn” (2002) cùng nhiều bài báo đƣợc đăng khác đã đi
sâu vào hoạt động kinh doanh của cộng đồng ngƣời Hoa… Tổng hợp các bài
viết của nhiều tác giả trong cuốn sách “Góp phần tìm hiểu lịch sử - văn hóa 300
năm Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh” đã cung cấp nhiều mảng khác nhau về

Trịnh Thị Lệ Hà, luận văn “Hội quán của người Hoa ở Hội An” (2011) của Võ
Thị Ánh Tuyết… Đó là nguồn tƣ liệu hữu ích đối với chúng tôi khi thực hiện đề
tài này.
Các bài viết trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Xƣa và nay, Sài Gòn
giải phóng, Dân tộc học, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Trung Quốc,
Việt Nam khảo cổ tập san… cũng là nguồn tƣ liệu không thể thiếu cho công
trình nghiên cứu của chúng tôi.
Nguyễn Cẩm Thúy với “Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ từ thế
kỷ XVII đến năm 1945” (2000), Li Tana với “Xứ Đàng Trong – lịch sử kinh tế,
xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18” (1999) và đặc biệt là tác phẩm “Bia chữ Hán
trong Hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh” (1999) của Litina Nguyễn Cẩm Thúy là nguồn tƣ liệu quý giá giúp chúng tôi xây dựng nên những
ý tƣởng và cách kiến giải, trích dẫn để làm sáng tỏ những vấn đề mà luận văn đề
ra… Các tác giả đã tập trung nghiên cứu lịch sử di dân và tình hình kinh tế, xã
hội của ngƣời Hoa, tiến hành khảo sát các văn bia chữ Hán còn lƣu giữ ở các
Hội quán ngƣời Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua nội dung của các văn bia
đã cung cấp nhiều tƣ liệu đáng tin cậy về ngƣời Hoa.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp tƣ liệu khá phong
phú để chúng tôi thực hiện công trình nghiên cứu “Hội quán của người Hoa ở
Sài Gòn – Chợ Lớn (cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XX)”.


8

3.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở xác định mục đích khoa học và thực tiễn của đề tài, luận văn
xác định đối tƣợng nghiên cứu của mình: các Hội quán của ngƣời Hoa ở Sài
Gòn – Chợ Lớn trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XX.

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi dựa trên quan điểm lý luận
của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Đề tài chủ yếu sử dụng phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logic.
Phương pháp lịch sử: khái quát quá trình di dân và định cƣ của ngƣời
Hoa ở vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn; đồng thời cho thấy quá trình hình thành và
phát triển của Hội quán từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XX.
Phương pháp logic: trước hết, cho thấy sự “gặp gỡ” giữa những tiềm
năng của vùng đất phƣơng Nam nói chung và vùng Sài Gòn nói riêng với sự lựa
chọn định cƣ của ngƣời Hoa trong hành trình “tha phƣơng cầu thực” của họ.
Hội quán đƣợc nghiên cứu gồm nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế, tôn giáo – tín
ngƣỡng, văn hóa – xã hội… để qua đó góp phần làm nổi bật các hoạt động và
đặc điểm tính chất của Hội quán ngƣời Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn.
Ngoài ra, chúng tôi cũng đồng thời sử dụng phƣơng pháp liên ngành, so
sánh, điền dã, các biện pháp kĩ thuật chụp ảnh, vẽ, phỏng vấn… để giải quyết
những mục tiêu, nhiệm vụ luận văn đặt ra.
Để hoàn thành luận văn ở mức độ tốt nhất, chúng tôi khai thác tối đa các
nguồn tƣ liệu, các công trình nghiên cứu đi trƣớc có liên quan đến đề tài. Nguồn
tài liệu này bao gồm: sách, báo, tạp chí có trong Thƣ viện trƣờng Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Thƣ viện Khoa học xã hội,
Thƣ viện Khoa học Tổng Hợp và các văn bản lƣu trữ bằng tiếng Pháp tại Trung
tâm lƣu trữ Quốc gia 2 cùng các luận văn, luận án nghiên cứu về ngƣời Hoa đã
đƣợc công bố.
5.

Đóng góp của luận văn

Việc tìm hiểu về “Hội quán của người Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn (cuối
thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XX)” sẽ góp phần hệ thống hóa tƣ liệu về ngƣời
Hoa nói chung và tái hiện bức tranh tổng thể, toàn diện, cũng nhƣ góp phần bổ


Nội dung chính là rút ra những đặc điểm và tính chất, nét đặc trƣng của
Hội quán ngƣời Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn cũng nhƣ tiến trình hội nhập của Hội
quán với văn hóa lịch sử của vùng đất này.


11

CHƢƠNG 1.
QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA HỘI QUÁN NGƢỜI HOA Ở SÀI SÒN – CHỢ LỚN
1.1. Thuật ngữ và khái niệm
1.1.1.

Ngƣời Hoa

“Trong các ngôn ngữ phương Tây chỉ có một từ duy nhất chỉ các dòng dõi
Trung Hoa đó là từ “Chinese” trong tiếng Anh, từ “Chinois” trong tiếng Pháp
và từ “Kitai” trong tiếng Nga” [97; 115]. Về sau, để chỉ những đối tƣợng cụ thể
hơn, ngƣời ta dùng các thuật ngữ “Trung Hoa lục địa”, “ngƣời Trung Hoa Đài
Loan”, “ngƣời Trung Hoa Hồng Kông”, “ngƣời Trung Hoa sinh ra ở nƣớc
ngoài”, “ngƣời Trung Hoa Đông Nam Á”,…
Trong tiếng Hán và tiếng Việt có rất nhiều từ để chỉ những ngƣời có nguồn
gốc Trung Hoa, nhƣ: “Zhongguo ren” (Ngƣời Trung Quốc), “Zhoghua ren”
(Ngƣời Trung Hoa), “Han ren” (Ngƣời Hán), “Tang ren” (Ngƣời Đƣờng),
“Song ren” (Ngƣời Tống), “Minh ren” (Ngƣời Minh), “Qing ren” (Ngƣời
Thanh), “Hua ren” (Ngƣời Hoa)… [97; 116]
Cho đến nửa sau thế kỷ XIX, thuật ngữ “ngƣời Trung Hoa” (Zhonhhua) và
“Hoa kiều” (Hua Chiáo) mới bắt đầu đƣợc sử dụng tại Trung Quốc. Những
ngƣời dân sống bên trong lãnh thổ Trung Quốc gọi là thần dân của Vƣơng quốc
Trung tâm hay thần dân của Vƣơng triều nhà Thanh. Những ngƣời sống bên

những người chưa bị Hán hóa. Thế nhưng đại bộ phận người di cư từ Trung
Quốc và định cư ở nước ngoài là những người thuộc dòng dõi Hán tộc hay bị
Hán hóa hầu như hoàn toàn, nên thuật ngữ “Người Hoa hải ngoại” hay “Hoa
kiều” nhằm để chỉ tất cả những người Trung Quốc sống ở nước ngoài, được sử
dụng rộng rãi tại Trung Quốc lục địa, ít nhất là cho đến cuối những năm 50 của
thế kỷ XX” [97; 117].
Trong dân gian cũng nhƣ trong một số truyện ký của Việt Nam cũng sử
dụng các thuật ngữ “Tàu”, “ngƣời Tàu”, “Tàu ô”, “Ba Tàu”,… Chữ “Tàu” rất
khó giải nghĩa, có thể là chỉ những con tàu vƣợt biển, “Tàu ô” là chỉ những con


13

tàu căng buồm đen, ngƣời trên tàu mặc áo đen... Dù đƣợc giải thích nhƣ thế nào
đi chăng nữa thì thuật ngữ “Tàu” đối với ngƣời Việt Nam là chỉ những gì có
nguồn gốc từ Trung Hoa hay thuộc sở hữu Trung Hoa (ví dụ: ngƣời Tàu, chữ
Tàu (chữ Hán), hàng Tàu, cơm Tàu...)
Dƣới thời phong kiến, ngƣời Việt thƣờng gọi ngƣời Trung Hoa di trú theo
tên các triều đại Trung Hoa hay tên các địa phƣơng mà họ ra đi nhƣ: ngƣời
Đƣờng, ngƣời Tống, ngƣời Minh, ngƣời Thanh, ngƣời Triều Châu, ngƣời Phúc
Kiến, ngƣời Quảng Đông, ngƣời Hải Nam,…
Thời Lý – Trần (1009 – 1400), ngƣời Việt thƣờng gọi ngƣời di trú từ
Vƣơng quốc trung tâm là “ngƣời Mãn” (ngƣời Phúc Kiến), “ngƣời Hán” hay
“ngƣời Tống”.
Thời Hậu Lê (1428 – 1590), ngƣời Việt sử dụng danh từ “ngoại kiều” để
chỉ các thƣơng nhân ngƣời Hoa đến Việt Nam buôn bán, không có ý định cƣ lâu
dài tại Việt Nam.
Thời Chúa Trịnh (Đàng Ngoài) và Chúa Nguyễn (Đàng Trong) và sau đó
là triều Nguyễn, các thuật ngữ “ngƣời Minh”, “ngƣời Thanh”, “ngƣời Đƣờng
cũ”, “ngƣời Đƣờng mới”, “khách ngoại quốc”, “khách trú” đƣợc sử dụng khá

cộng đồng ngƣời Hoa đã lấy vợ gả chồng với ngƣời bản địa, trở thành lớp ngƣời
Hoa lai. Những ngƣời này có xu hƣớng hội nhập nhanh vào xã hội ngƣời địa
phƣơng. Nhƣ vậy, thuật ngữ “ngƣời Hoa” đƣợc sử dụng nhằm chỉ những ngƣời
Hoa hải ngoại cƣ trú ổn định tại nƣớc ngoài và đã nhập quốc tịch nƣớc sở tại.
“Có thể đưa ra khái niệm sơ bộ về họ bằng những phạm trù sau đây:
Người Hoa là những người:
1. Có nguồn gốc Hán hay bị Hán hóa
2. Sống ổn định và thường xuyên ở nước ngoài
3. Đã nhập quốc tịch nước sở tại
4. Ít hoặc nhiều chưa bị đồng hóa
5. Tự nhận mình là Hoa.” [97; 118]


15

Nhƣ vậy, để thống nhất về thuật ngữ, trong đề tài nghiên cứu này, chúng
tôi sử dụng thuật ngữ “ngƣời Hoa”, xem ngƣời Hoa là một thành phần trong
đại gia đình các dân tộc Việt Nam - “tộc ngƣời Hoa”.
1.1.2. Hội quán
Ở Trung Quốc, thuật ngữ “Hội quán” xuất hiện từ thời nhà Minh. Lúc
bấy giờ, cứ đến mùa thi, sĩ tử từ khắp mọi miền của đất nƣớc Trung Hoa đổ về
kinh đô dự thi, đồng thời cũng có một bộ phận không ít thƣơng nhân tập trung
về kinh thành làm ăn, thử thời vận. Sự tăng cao dân lƣu trú vào một thời điểm
nhƣ vậy làm cho nhu cầu về nơi trú ngụ tăng đột biến, các chủ phòng trọ nhân
cơ hội này đẩy giá thu phòng lên mức cao nhất có thể để kiếm lời. Không chỉ
những ngƣời học trò khả năng tài chính có hạn, mà ngay cả nhiều thƣơng nhân
đi làm ăn cũng khó kham nổi giá phòng trọ đắc đỏ của “mùa cao điểm”. Tuy chỉ
thuê phòng có một chiếc giƣờng cũng phải trả không dƣới mấy chục đồng [81;
94]. Trƣớc thực tế đó, ý tƣởng về việc xây dựng một nơi để giúp những ngƣời
đồng hƣơng trú ngụ khi có việc cần phải đến địa phƣơng mình đang sinh sống

Hội đồng hƣơng, vừa là trụ sở Hội liên lạc công thƣơng gia trong Bang. Do đó,
chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “Hội quán” trong công trình nghiên cứu
của mình.
1.2.

Quá trình ngƣời Hoa di cƣ đến Sài Gòn – Chợ Lớn

1.2.1.

Vài nét về vùng đất Sài Gòn- Chợ Lớn

“Sài Gòn xưa là tên thành phố Chợ Lớn bây giờ” [40; 7]. Theo Trịnh Hoài
Đức, “Sài” là tiếng mượn từ chữ Hán… có nghĩa là “củi gỗ”, “Gòn” là tiếng
Nam chỉ “bông gòn” hay “cây gòn”. Về sau, người Pháp gọi tên thành phố Sài
Gòn vì họ thấy tên đó trong các bản đồ địa lý do người Âu Tây vẽ để gọi toàn
thể địa phận tỉnh Gia Định” [40; 8].
Đất Sài Gòn - Chợ Lớn nằm trên vùng chuyển tiếp giữa hai vùng địa chất,
hai khu vực địa hình - địa mạo khác nhau. Nơi đây trong lịch sử đầu Công
nguyên cho đến trƣớc thế kỷ XVI là vùng tiếp giáp giữa nhiều quốc gia cổ, nơi
gặp gỡ của nhiều cộng đồng dân cƣ, nơi chứa đựng nhiều ảnh hƣởng của nhiều
nền văn minh cổ ở khu vực Nam Đông Dƣơng và Nam Á. Những cuộc tranh


17

chấp, đặc biệt là từ thế kỷ XIII - XVII, đã biến vùng đất Sài Gòn - Chợ Lớn, cho
tới trƣớc khi những cƣ dân Việt hiện diện, vẫn là miền đất hoang vu. Trịnh Hoài
Đức trong Gia Định thành thông chí cho rằng “nơi đây không có nội dung
huyền bí về phong thủy mà chỉ có nhiều thuận lợi để làm lúa nước, được tiêu
tưới điều hòa với sông rạch thiên nhiên chằng chịt, hãy còn hoang nhàn với

trung tâm quân sự và trung tâm kinh tế vào bậc nhất ở miền Nam Việt Nam. Cù
lao phố không cạnh tranh nổi, dần trở nên điêu tàn. Chợ Lớn vốn là một chợ
xƣa ở Sài Gòn đƣợc lập vào năm 1778, do ngƣời Hoa sau khi chạy tránh chiến
tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh từ Biên Hòa, Mỹ Tho, Hà Tiên... tập trung về đây.
Chợ Lớn ngày càng thêm mở mang, phồn thịnh.
Theo Trịnh Hoài Đức (Gia Định thành thông chí) thì “Phố này cách trấn lỵ
12 dặm về phía Nam. Hai phố chính ở hai bên đường quan lộ, chạy thẳng suốt
qua ba phố ra bến sông. Ở giữa có mặt phố nằm ngay và ở cuối có một phố dọc
ăn thông với nhau, hình chữ “điền”. Nhà cửa liền mái sát vách. Phố dài gần ba
dặm, bán các thứ gấm góc, đồ sứ, giấy bút, hạt châu, sách vở, thuốc men, chè
miếng và các hóa vật ở miền Nam, miền Bắc, trong sông ngoài biển không thiếu
thứ gì… Những buổi hôm mai trời đẹp cùng những ngày tam nguyên (thượng
nguyên, trung nguyên, hạ nguyên) dân chúng treo đèn, đua khéo thi lạ, trông
như cây lụa cầu sao, hội trên thành gấm. Chuông trống om sòm, đàn sáo ríu rít,
gái trai chen chúc, thực là một cái phố lớn đông đúc và náo nhiệt” [24; 21].
Phong cảnh Sài Gòn – Chợ Lớn đã đi vào thơ xƣa:
“Khen bấy Sài Gòn định giới cương,
Lăng xăng ngã ngách dọc ngang đường.
Cột cờ Thủ - ngữ xây trăm trượng,


19

Trại lính Hội - đồng trấn một phương.
Dinh dãy cửa nhà chen thứ lớp,
Bạc vàng su lúi đỗi cang thường.
Phiền ba xiết kể nay thanh lịch,
Lễ nghĩa ngày xưa chạnh nỗi thương.” [56; 29]
“Dời đổi nguồi thương cảnh nước non,
Phiền hoa Chợ Lớn giáp Sài Gòn.

khi nào, nhưng tối thiểu là từ hai ngàn năm nay rồi. Vào thế kỷ II trước Công
nguyên, một nhà cai trị người Hoa đã thiết lập vương quốc Nam Việt, Khi
vương quốc này sụp đổ vào năm 111 trước Công nguyên, vùng đất này trở
thành một tỉnh của đế quốc Trung Hoa. Tình trạng này kéo dài một ngàn năm”.
Cũng theo Raymon J.de Jeagher, “Người Hoa tiếp tục di dân xuống phía Nam
ngay cả sau khi Việt Nam giành được độc lập vào năm 939 (1), một nền độc lập
được kéo dài liên tục, ngoại trừ một giai đoạn ngắn dưới quyền cai trị của
người Trung Hoa trong những thập niên 1400, cho tới khi Pháp chiếm nước này
vào thập niên 1860” [72; 3]. Tác giả Nguyễn Văn Huy trong Người Hoa tại Việt
Nam cũng viết: “Vào thế kỷ thứ II trước Công nguyên (năm 111) người Hoa
(nhà Hán) đã sáp nhập Việt Nam (thời đó là Nam Việt) vào miền Nam Trung
Hoa, đặt tên là Giao Chỉ Bộ và đã cai trị hơn một ngàn năm” [37; 19]. Những
thƣ tịch cổ của Trung Quốc và Việt Nam nhƣ: Sử ký Tƣ Mã Thiên, Hậu Hán
thƣ, Hoài Nam Tử, Tam quốc chí, Ngô Việt xuân thu, Minh thực lục, Ức trai thi


21

tập, Đại Việt sử ký toàn thƣ, Lịch triều hiến chƣơng loại chí, An Nam chí lƣợc,
Đại Nam thực lục tiền biên, Phủ biên tạp lục… cũng ghi lại các đợt di dân của
ngƣời Hoa sang Việt Nam [72; 4].
Cuộc di dân lớn đầu tiên của ngƣời Hoa xuống phƣơng Nam đƣợc bắt đầu
từ chính sách Nam tiến của các triều đại phong kiến Trung Hoa. “Năm thứ 33
(214 trước Công nguyên) Tần Thủy Hoàng sai tất cả bọn lang thang, vô thừa
nhận, bọn ăn không ngồi rồi, bọn con buôn đi chiếm đất Lục Lương. Ông lập ra
các quận Quế Lâm (Quảng Tây), Nam Hải (Quảng Đông) và Quận Tượng (An
Nam) và đẩy những kẻ có tội đến ở đó để giữ”, “Khi Tần Thủy Hoàng đã thôn
tính thiên hạ và dẹp yên Dương Việt thì lập ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và
Quận Tượng. Trong mười ba năm, ông bắt bọn côn đồ tù tội đem đến các nơi ở
với dân Việt”. Hai đoạn trích dẫn trên (của Sử ký Tƣ Mã Thiên) cho thấy đoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status