TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
-ár s?«=^”ìỹ»
LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 31
(KHÓA 2005-2009)
Đề tài:
VAI TRÒ CỦA CÁC Cơ QUAN TRỰC THUỘC
QUỐC HỘI TRONG VIỆC BẢO ĐẢM TÍNH THỐNG
NHẤT CỦA PHÁP LUẢT
Giáo viên hướne dẫn:
Sinh viên thưc hiên:
TIẾN Sĩ. PHAN TRUNG HIỀN
BÙI QUỐC THÀNH
Bộ MÔN: LUẬT HÀNH CHÍNH
MSSV: 5054924
Lớp:Luật thương mại 2-k.31
_Q
XI
Cần Thơ 04/2009
2.1 Tính thống nhất của pháp luật.........................................................................15
2.2 Yêu cầu của tính thống nhất của pháp luật.................................................... 17
2.2.1 Quan niệm về quyền lực nhà nước là thống nhất.....................................18
2.2.2 Quan niệm về phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp..................................................................................................................20
2.3 Các cơ quan tham gia vào tính thống nhất của pháp luật......................22
2.4 Vai trò chung của các Ctf quan trực thuộc Quốc hội trong việc bảo đảm
tính
thống nhất của pháp luật........................................................................................ 23
về tổ chức của Quốc hội............................................................................24
2.4.2.......................................................................................................................... v
ề quyền lập pháp...................................................................................................25
2.4.3 về quy mô các đạo luật.............................................................................25
2.3.4 về vấn đề kiểm soát của Quốc hội đối vói các quan hệ quyền lực và việc
2.4.1
thực hiện quyền lực nhà nước................................................................................26
2.5 Vai trò của từng Ctf quan trực thuộc Quốc hội trong việc bảo đảm tính
thống
nhất của pháp luật...................................................................................................27
2.6 Vai trò của ủy ban thường vụ Quốc hội...................................................27
2.6.1 Chức năng của ủy ban thường vụ Quốc hội............................................. 27
2.6.2 Các ban của ủy ban thường vụ Quốc hội..................................................29
2.6.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban thường vụ Quốc hội........................... 32
2.6.4 Nhiệm vụ, quyền hạn trong từng lĩnh vực của ủy ban thường vụ Quốc
hội...............................................................................................................................33
2.7 Vai trò của Hội đồng dân tộc.....................................................................38
3.3.1 Bảo đảm dân chủ trong hoạt động của Quốc hội vói yêu cầu hoàn
thiện nhà nước pháp quyền.....................................................................................57
3.3.2 Các yếu tố bảo đảm để đổi mói và nâng cao hiệu quả hoạt động của
Quốc hội theo yêu cầu nhà nước pháp quyền.......................................................58
3.3.3 Nhà nước pháp quyền và những yêu cầu Ctf bản đối vói hệ thống pháp
luật.............................................................................................................................62
3.3.4 Những yêu Cầu Ctf bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam.......................................................................................................65
3.3.4.I. Những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành......................65
3.3.4.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhìn từ yêu cầu xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN.........................................................................................67
PHẦN KẾT LUẬN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI NÓI ĐẦU
.. ..eíCQ
6. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại hiện nay, hội nhập khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống, đặc biệt về kinh tế là một xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia nhằm
thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển của đất nước. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu
thế nói trên. Quá trình hội nhập khu vực và thế giới tạo ra tiền đề cho sự ra đời một
khung pháp lý chung của cộng đồng trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, thương mại,
đầu tư, sở hữu,...Quá trình này đòi hỏi mỗi quốc gia phải đạt được những vấn đề sau:
tham gia đày đủ và toàn diện các công ước và hiệp ước đa phương, thể chế hoá nội
dung các công ước, hiệp định quốc tế vào nội luật, xây dựng và hoàn thiện các luật và
chế định tương đương với nước khác, xây dựng và tăng cường hệ thống thực thi pháp
luật. Như vậy, việc tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực có ảnh hưởng nhất
vốn đàu tư nước ngoài, mở rộng quyền tự chủ trong tổ chức, quản lý, kinh doanh của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...
Với những yêu cầu mang tính cấp thiết phải thay đổi và phát huy hom nữa về
mọi mặt của đất nước. Nhưng điều quan trọng hàng đầu, mang tính quyết định đó là
phải có bộ máy nhà nước chặt chẽ với những chính sách phù hợp. Việt Nam có được
vị thế hiện nay trên trường quốc tế là do quá trinh phát triển không ngừng về tất cả các
lĩnh vực. Trong đó điểm quan trọng nhất đó là sự thay đổi đường lối lãnh đạo của
Đảng, bộ máy quản lý nhà nước, đặc biệt là những hoạt động của Quốc hội đã có nhiều
thay đổi về chất lẫn về lượng, từ tổ chức hoạt động cho đến bình thức hoạt động góp
phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
“Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Muốn tìm hiểu về
pháp luật của một đất nước nhất là những nước theo chế độ chủ nghĩa xã hội như nước
ta thì trước tiên phải am hiểu được cách thức tổ chức cũng như hoạt động của Quốc
hội (chủ thể quan trọng nhất có quyền điều hành mọi hoạt động của đất nước).
Trong quá trình vận động đất nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì
đất nước ta đã thông qua bốn bản Hiến pháp và cũng đồng nghĩa với bốn cách thức tổ
chức và hoạt động khác nhau của Quốc hội. Nghiên cứu về tính thống nhất pháp luật
của các cơ quan trực thuộc Quốc hội là nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tính
thống nhất giữa các cơ quan của Quốc hội về lĩnh vực pháp luật.
Việc nghiên cứu để thấy rõ vấn đề đảm bảo tính thống nhất pháp luật giữa các
cơ quan trực thuộc Quốc hội là một điều cần thiết và giúp cho chúng ta có cách nhìn
đúng đắn hơn nữa nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước ta trong giai đoạn
hội nhập và phát triển, phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
7. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính ở đây là Quốc hội_với tư cách là cơ quan quyền
lực cao nhất của bộ máy nhà nước, bao gồm các cơ quan chuyên môn trong Quốc hội
như: ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, đại
bảo tính thống nhất pháp luật của các cơ quan trực thuộc Quốc hội.
Xin chân thành cảm ơn!
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIÊN
-3 -
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG1
GIỚI THIỆU CHUNG VÈ CÁC cơ QUAN TRựC THUỘC QUÓC HỘI
1.3 Stf lược về lịch sử của Quốc hội
Việt Nam là một nước văn hiến từ ngàn xa. Nhân dân Việt Nam vốn có truyền
thống đấu tranh anh hùng bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc. Từ giữa thế kỷ XIX
trở đi, nhân dân Việt Nam đã không ngừng đứng dậy đấu tranh chống lại ách thống trị
của thực dân Pháp. Trong cao trào giải phóng dân tộc, ngày 16/8/1945 Đại hội đại biểu
quốc dân họp tại Tân Trào. Đại hội là hình ảnh tiêu biểu của khối đoàn kết dân tộc, đã
hiệu triệu toàn dân nổi dậy giành chính quyền dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng
Tháng Tám 1945. Ngày 2-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc
bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Ngày 3-9, trong
phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với Chính
phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.
Ngày 06/01/1946, tất cả công dân Việt Nam không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân
tộc, tôn giáo, chính kiến, v.v..., từ 18 tuổi trở lên đã tham gia cuộc Tổng tuyển cử, tự
do lựa chọn người đại diện cho mình vào Quốc hội, cơ quan "quyền lực tối cao" để ấn
mới - kỷ nguyên cả nước thống nhất tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Đã thể hiện đầy đủ bản
chất là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng
cốt là liên minh công nông. Trong điều kiện đất nước thống nhất, sự kiện lịch sử có ý
nghĩa trọng đại là tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả
nước - Quốc hội khóa VI (1976 - 1981) là Quốc hội của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Sự ra đời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở đầu cho
bước phát triển mới trong quá trình đi lên của đất nước. Quốc hội đã có những đóng
góp tích cực vào việc xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất bảo vệ chính quyền
trong điều kiện hòa bình, xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc. Tại kỳ
họp thứ 7, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1980.
Được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp 1980, Quốc hội khóa VII
(1981 - 1987), Quốc hội khóa VIII (1987 - 1992) là Quốc hội của thời kỳ bắt đầu
công cuộc đổi mới và hoạt động trong giai đoạn bước ngoặt của đất nước đã đẩy mạnh
công tác lập pháp, tăng cường công tác giám sát và việc quyết định các vấn đề quan
trọng khác để đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước. Tại kỳ họp lần thứ 11
(tháng 4/1992), Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ
đổi mới, phù họp với thực tế của đất nước và xu thế tiến bộ của thời đại trên cơ sở điều
kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của Việt Nam.
Hiến pháp năm 1992 và đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001, là cơ sở tổ chức và
hoạt động của các khóa Quốc hội khóa IX (1992 - 1997), khóa X (1992 - 2002), khóa
XI (2002 - 2007) và khóa XII. Quốc hội vừa qua đã đạt được những thành tựu rất đáng
kể, tạo mọi điều kiện pháp lý thuận lợi cho quá trình đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu
hội nhập kinh tế quốc tế. Với vai trò là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp được củng
cố qua việc giảm dần ban hành pháp lệnh, tăng cường ban hành luật. Cộng thêm việc
các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội có thể đề xuất, thực hiện việc soạn
thảo và trình dự án luật. Thành công trong việc áp dụng kỹ thuật lập pháp mới, là ban
hành một luật để sửa đổi, bổ sung đồng thời các quy định trong các đạo luật khác có
liên quan. Trong hoạt động giám sát có bước tiến triển mới, với những kết quả thiết
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIÊN
quan nhà nước.
Điều 83, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao
nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có
quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ
kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu của tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công
dân.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ
máy nhà nước”.
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, bởi vì Quốc hội là cơ quan
duy nhất được nhân dân trực tiếp bầu ra. Trong hệ thống các cơ quan nhà nước, nhân
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIÊN
-6-
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
dân còn trực tiếp bầu ra các đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Nhưng, Hội đồng
nhân dân chỉ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân từng địa
phương bầu ra. Chính việc Quốc hội do khối đại cử tri toàn quốc bầu ra từ những đại
diện của mọi thành phần trong xã hội, từ mọi địa phương trên đất nước tạo ra cho
Quốc hội ưu thế đặc biệt, hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước.
Vị trí pháp lý của Quốc hội còn thể hiện rõ trong các mối quan hệ được pháp
luật quy định giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước khác. Trước hết phải kể đến
mối quan hệ giữa Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất với Chính phủ - cơ quan
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Quốc hội nước ta có vị trí và vai trò rất quan trọng trong Nhà nước pháp quyền
XHCN. Quốc hội đã trải qua một chặng đường dài phát triển, đã khẳng định vai trò, vị
trí của mình là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất. Hoạt động của Quốc hội về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước ngày càng được tăng cường. Bước đường trưởng thành của
Quốc hội là bằng chứng của việc thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng không
ngừng củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta, Nhà nước pháp quyền XHCN của
dân, do dân và vì dân.
> Vai trò của Quốc hội trong hoạt động lập pháp
Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của nhân dân, Quốc hội đóng một vai trò quan trọng trong việc hoạch
định đường lối chính sách, xây dựng pháp luật, quyết định về những vấn đề quan trọng
của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ các cơ quan nhà
nước. Trong số các thẩm quyền được Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy Nhà
nước quy định thì thẩm quyền ban hành luật của Quốc hội là quan trọng nhất. Thông
qua hoạt động này mà các đại biểu Quốc hội biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân
thành các quy định của pháp luật, tạo ra cơ sở để mọi chủ thể (cơ quan, tổ chức, cá
nhân...) hoạt động theo.
Đe hoạt động của các chủ thể trong xã hội theo đúng ý định của các nhà làm
luật thì trước hết chất lượng của các luật được Quốc hội ban hành phải được đặc biệt
trú trọng về nội dung và sự thực thi. Các luật được thông qua phải thể hiện được các
quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, phải chứa đựng trong đó những giá trị mà
dân tộc, nhân loại thừa nhận như sự công bằng, bình đẳng,...
Một đạo luật được đánh giá là có chất lượng thì trước hết ngôn ngữ của nó phải
dễ hiểu, trong sáng để ai đọc lên cũng có thể hiểu và áp dụng được. Một quy định của
luật mà có thể hiểu theo nghĩa này trong ngữ cảnh này, trong ngữ cảnh khác thì hành
xử khác thì không thể nói đó là một luật có chất lượng. Hơn nữa, yêu cầu đối với chất
của
Quốc
hội
trong
nhà
nước
pháp
quyền
Vói chức năng của mình là lập hiến, lập pháp, thành lập nên các cơ quan nhà
nước, giám sát đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước, Quốc hội có vai
trò quan trọng trong việc thực hiện các yêu cầu của nhà nước pháp quyền. Nhà nước
pháp quyền có những yêu càu riêng khác với một Nhà nước không phải là Nhà nước
pháp quyền. Khi chúng ta đã khẳng định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt
Nam thì Nhà nước của chúng ta phải đứng trước những yêu cầu mới.
Do vậy, nếu như pháp luật của Nhà nước pháp quyền có những tiêu chí riêng thì
cơ quan lập pháp là Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền cũng phải có những yêu cầu
đổi mới. Khi chúng ta đã khẳng định trong Hiến pháp việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam thì cũng có nghĩa là Quốc hội của chúng ta cũng phải được đổi mới
để đáp ứng các yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Pháp luật trong Nhà
nước pháp quyền phải có những tiêu chí riêng như tính công bằng, nhân đạo, vì quyền
con người, tính công khai, minh bạch, khả năng thực thi cao...Những tiêu chí đó đòi
hỏi pháp luật của Quốc hội cũng phải thích ứng trước những yêu cầu mới trong điều
hiến
pháp
phải
do
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
một Quốc hội
quyền lập pháp.
đặc
biệt
thông
qua
gọi
là
Quốc
hội
lập
hành chính kinh tế đặc biệt.
Thể hiện quyền lực tối cao của mình, không những chỉ tập trung quyết định
những vấn đề cơ bản thuộc về chức năng đối nội của nhà nước, Quốc hội còn phải
quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại, bằng cách quy định những nguyên tắc cơ
bản của chính sách đối ngoại, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các Điều ước quốc tế đã ký kết
hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước.
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIÊN
- 10-
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH
Các
Quốc
3
Xem Điều 83, Hiến pháp năm 1992.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.3.5 Quyền giám sát tối cao
Xét cho cùng hiến pháp, luật và các nghị quyết khác của Quốc hội đều là những
quyết định của Quốc hội. Tính quyền lực nhà nước tối cao của Quốc hội còn được thể
hiện ở chỗ Quốc hội thể hiện giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, của
các tổ chức xã hội và mọi công dân có liên quan. Quyền giám sát này được hiến pháp
gọi là quyền giám sát tối cao3. Khác với quyền giám sát của Nghị viện các nước phát
- 11 -
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.4 Tổng thể về các Ctf quan trực thuộc của Quốc hội
1.4.1 Vị trí và vai trò của ủy ban thường yụ Quốc hội
1.4.1.1 Vị trí của ủy ban thường vụ Quốc hội
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội. Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội bao gồm một Chủ tịch, các Phó Chủ tịch (hiện tại có 5 Phó Chủ
tịch) và các uỷ viên do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội
làm các Phó Chủ tịch, số Phó Chủ tịch Quốc hội và số ủy viên ủy ban thường vụ
Quốc hội do Quốc hội quyết định. Tổng số các uỷ viên thường vụ Quốc hội trong
nhiệm kỳ hiện tại là 15 người. Các uỷ viên thường vụ Quốc hội là các đại biểu chuyên
trách và không tham gia vào Chính phủ.
1.4.1.2 Vai trò của ủy ban thường vụ Quốc hội
Theo Hiến pháp năm 1992 quy định, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có 12 quyền
và nghĩa vụ, trong đó có quyền thông báo, triệu tập và chủ toạ các kỳ họp của Quốc
hội, giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh, và ban hành pháp lệnh về những vấn đề
được Quốc hội phân công. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giám sát và chỉ đạo hoạt động
của Hội đồng nhân dân, chỉ đạo, điều chỉnh và phối họp hoạt động của Hội đồng dân
tộc và các Uỷ ban của Quốc hội.
Thành viên ủy ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên
Chính phủ, làm việc theo chế độ chuyên trách.
ủy ban thường vụ Quốc hội mỗi khóa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra ủy ban thường vụ Quốc hội mới.
1.4.2 Vị trí của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội
> Điều hành công việc của Hội đồng dân tộc;
> Triệu tập và chủ trì các phiên họp của Hội đồng dân tộc;
> Giữ mối liên hệ thường xuyên với các thành viên của Hội đồng dân tộc;
> Được tham dự các phiên họp của ủy ban thường vụ Quốc hội; được mời tham
dự các phiên họp của Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc;
> Thay mặt Hội đồng dân tộc giữ mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức hữu quan;
> Thực hiện một số nhiệm vụ khác do ủy ban thường vụ Quốc hội giao.
Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc giúp Chủ tịch Hội đồng dân tộc thực hiện nhiệm
vụ theo sự phân công của Chủ tịch Hội đồng dân tộc. Khi Chủ tịch Hội đồng dân tộc
vắng mặt thì một Phó Chủ tịch được Chủ tịch ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của Chủ tịch.
Tất cả các thành viên trong Hội đồng dân tộc đều là người dân tộc thiểu số. Hội
đồng dân tộc nghiên cứu và đề xuất các hoạt động của Quốc hội về vấn đề dân tộc,
giám sát việc thực thi các chính sách dân tộc, đề xuất các chương trình phát triển kinh
tế xã hội ở các vùng miền núi và những vùng có đồng bào dân tộc sinh sống.
1.4.4 Vai trò của các ủy ban của Quốc hội
ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các ủy viên.
Số Phó Chủ nhiệm và số ủy viên ủy ban do Quốc hội quyết định.
Thành viên ủy ban của Quốc hội do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc
hội. Số thành viên hoạt động chuyên trách do ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định.
Chủ nhiệm ủy ban của Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
> Điều hành công việc của ủy ban;
> Triệu tập và chủ trì các phiên họp của ủy ban;
> Giữ mối liên hệ thường xuyên với các thành viên của ủy ban;
> Thay mặt ủy ban giữ mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức hữu quan;
> Thực hiện một số nhiệm vụ khác do ủy ban thường vụ Quốc hội giao.
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIỀN - 13 -
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH
•
Uỷ ban Quốc phòng và An ninh;
•
Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh thiếu niên và nhi đồng;
•
Uỷ ban các vấn đề xã hội;
•
Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi trường;
•
Uỷ ban đối ngoại.
Tóm lại, việc nghiên cứu vị trí, vai trò của Quốc hội và các cơ quan trực thuộc
Quốc hội giúp ta hiểu rõ và hoàn thiện hơn nữa việc thống nhất pháp luật giữa các cơ
quan đó với nhau, từ khi hình thành trong lịch sử đến giai đoạn hiện nay Quốc hội vẫn
luôn giữ vai trò chủ đạo của mình về thực hiện các chức năng, quyền hạn đảm bảo cho
nhà nước có một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và góp phần cho đất nước ta
ngày càng phát triển hơn trong thời kỳ hội nhập.
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIÊN
- 14-
mặt này, pháp luật xã hội chủ
nghĩa có sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính xã hội.
Pháp luật còn là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng xã hội. Nó do
cơ sở hạ tầng quyết định, nhưng có tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng. Nếu pháp
luật phản ánh đúng đắn các quy luật vận động và phát triển của xã hội, nhất là các quy
luật kinh tế thì pháp luật sẽ có tác động tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Ngược lại, pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển đó.
Theo Lênin, “một đạo luật là một biện pháp chính trị”. Trong lịch sử, bất cứ
giai cấp cầm quyền nào cũng dựa vào pháp luật để thể hiện và thực hiện chính trị của
giai cấp mình. Pháp luật trở thành hình thức thể hiện tập trung, trực tiếp chính trị của
giai cấp cầm quyền, là một công cụ sắc bén thể hiện quyền lực của Nhà nước thực hiện
những yêu cầu, mục đích, nội dung chính trị của nó. Do đó, Nhà nước nào, pháp luật
ấy. Những thuộc tính cơ bản của pháp luật là tính quy phạm, tính cưỡng chế, tính
khách quan, tính Nhà nước, tính hệ thống và tương đối ổn định.
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIÊN
15
-
-
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan Nhà
nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật
có phạm vi tác động rộng lớn đến đông đảo các tầng lớp nhân dân. Vì vậy khi xây
dựng các văn bản dưới luật phải dựa trên cơ sở các quy định thể hiện trong các văn
bản Bộ luật và luật, không được trái với các quy định đó. Các Bộ luật và luật thường
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIỀN - 16 -
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH
4
5
Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mói (ĐH VI, vn, VIII, IX). NXB Chính trị QG. H.2005, tr.328.
Vãn kiện Đại hội
Đảng thòi kỳ đổi mói (ĐH VI, vn, VIII, IX). NXB Chính trị QG. H.2005, tr.510.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
được ban hành theo một trình tự hết sức chặt chẽ, gồm 4 giai đoạn : soạn thảo dự án
luật, thảo luận dự án luật, thông qua luật, và công bố luật.
Tuy nhiên cần phân biệt giữa Bộ luật và luật. Bộ luật là một văn bản quy phạm
pháp luật do Quốc hội ban hành nhằm điều chỉnh và tác động rộng rãi đến các quan hệ
xã hội trong một lĩnh vục hoạt động nào đó của xã hội (ví dụ : Bộ luật hình sự, Bộ luật
tố tụng hình sự, Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự...). Còn luật cũng là một văn bản quy
phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, trình tự ban hành và hiệu lực giống Bộ luật,
song phạm vi các quan hệ xã hội cần điều chỉnh hẹp hom, chỉ trong một lĩnh vực hoạt
động, một ngành hoặc một giới (ví dụ : Luật Cty, Luật đất đai, Luật thuế, Luật đầu tư
nước ngoài, Luật xây dựng, Luật nhà ở).
2.2 Yêu cầu của tính thống nhất của pháp luật
Trong mục rv Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng, khi đề cập đến
vấn đề nhà nước, Cưomg lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (năm 1991) viết:
về vấn đề này, cho đến nay, trong nhận thức lý luận ở nước ta mới chỉ dừng lại
ở quan niệm rằng, quyền lực nhà nước thuộc về một giai cấp hoặc liên minh giai cấp.
Xét về bản chất giai cấp thì quyền lực nhà nước bao giờ cũng thống nhất trong tay giai
cấp cầm quyền, ở nước ta, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân
dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, về cơ bản lợi ích giữa các giai cấp là phù họp
với nhau. Vì vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia. Nhấn manh tính
thống nhất của quyền lực nhà nước là để khẳng định trong nhà nước ta không có sự
phân chia quyền lực nhà nước; là để phủ nhận và đối lập với nguyên tắc phân quyền
trong các nhà nước tư sản.
Tuy nhiên, đây là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần phải đi sâu tìm
hiểu và vận dụng nó một cách đầy đủ và nhất quán trong thực tiễn tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước. Các khía cạnh của vấn đề về quyền lực nhà nước là thống
nhất như: Thế nào là thống nhất quyền lực nhà nước? Quyền lực nhà nước thống nhất
ở đâu? ý nghĩa của quyền lực nhà nước là thống nhất trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước như thế nào? Các khía cạnh này đều cần được làm sáng tỏ về
phương diện lý luận và nhận thức. Hiện nay, đang có các nhận thức khác nhau trên các
khía cạnh này.
- Có một số người cho rằng, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng sự thống
nhất đó tập trung vào Quốc hội. Bởi vì nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước,
nhưng lại không thực hiện được quyền lực nhà nước một cách trực tiếp, nên đã trao
quyền cho cơ quan đại diện cao nhất do mình bầu ra là Quốc hội. Do vậy, Quốc hội
được Hiến pháp xác nhận là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Và, với vị trí pháp
lý đỏ, những người này đã ngộ nhận rằng Quốc hội là cơ quan có toàn quyền, là cơ
quan cấp trên của các quyền hành pháp và tư pháp. Thật ra, đây là quan điểm tập
quyền đã trở thành nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung quan liêu bao cấp, mà thể hiện rõ nét nhất trong các quy định của Hiến
pháp năm 1980. Nguyên tắc này có ưu điểm là bảo đảm cho quyền lực nhà nước tập
trung, quyết định và thực thi quyền lực nhanh chóng, thống nhất. Tuy nhiên, nguyên
tắc này cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Đó là thiếu sự phân đỊnh phạm vi quyền lực nhà
nước giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thiếu sự kiểm soát quyền lực nhà
phủ và cho các cơ quan tư pháp. Chứ không phải nhân dân trao hết thảy quyền lực nhà
nước của mình cho Quốc hội, rồi đến lượt mình, Quốc hội lại trao quyền cho Chính
phủ và các cơ quan tư pháp. Theo Điều 84 của Hiến pháp năm 1992, nhân dân chỉ trao
cho Quốc hội ba nhóm quyền hạn và nhiệm vụ: quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến,
lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao; quyền hạn và nhiệm vụ về quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước. Quan niệm đó hoàn toàn phù họp với dân
chủ XHCN. Bởi vì, dân chủ XHCN đòi hỏi nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước
không chỉ bằng hình thức dân chủ đại diện mà còn bằng cả dân chủ trực tiếp, trong đó
có trưng cầu ý dân, có như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân mới đúng, mới bảo đảm thực hiện đầy đủ, không hình thức. Như vậy, thống nhất
quyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tập
trung thống nhất ở nhân dân chứ không phải thuộc về Quốc hội. Quan niệm đó có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực. Trước hết, điều đó chỉ ra rằng, quyền lực nhà
nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc
thống nhất là nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền. Do vậy, nói quyền lực
nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính
trị của nhà nước. Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung
là xây dựng một nhà nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh” như Đảng ta đã chỉ ra.
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIÊN
- 19-
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH
6
7
nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước, suy cho cùng, là giao cho
những con người cụ thể thực thi. Mà con người thì “luôn luôn chịu sự ảnh hưởng của
các loại tình cảm và dục vọng đối với các hành động của con người. Điều cũng khiến
cho lý tính đôi khi bị chìm khuất”6. Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi các dục
vọng, thói quen hay tình cảm thì khả năng sai lầm ừọng việc thực thi quyền lực nhà
nước càng lớn. Hơn nữa, với bản tính vị kỷ, con người thường “bị điều khiển bởi khát
vọng, trong đó khát vọng về quyền lực vừa là mục tiêu, vừa là công cụ để đạt các khát
vọng khác”7. Với đặc điểm đó của con người, không thể khẳng định người được ủy
quyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân đã ủy quyền. Vì vậy, kiểm
GVHD: TS. PHAN TRUNG HIÊN
-
20
-
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
soát quyền lực nhà nước là một nhu cầu khách quan từ phía người ủy quyền đối với
người được ủy quyền. Hom thế nữa, quyền lực nhà nước không phải là một đại lượng
có thể cân, đong, đo, đếm được một cách rạch ròi, vì nó là một thể thống nhất, như nói
ở phần trên. Điều đó lại càng đòi hỏi phải kiểm soát quyền lực nhà nước để hạn chế sự
lộng quyền, lạm quyền, mâu thuẫn chồng chéo hoặc trùng lắp trong quá trình thực thi
quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước, hạn chế hiệu lực và hiệu quả thực thi
quyền lực nhà nước được nhân dân ủy quyền.
SVTH: BÙI QUỐC THÀNH