SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC THIẾU SÓT, SAI LẦM
TRONG GIẢI CÁC BÀI TOÁN VỀ CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU CHO HỌC SINH
LỚP 5.
- Họ và tên: Đỗ Thị Bích
- Đơn vị công tác: Trường TH Phú Mỹ 2.
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
1.1/Xuất phát từ vai trò môn Toán ở bậc Tiểu học:
Như chúng ta đã biết môn Toán là một trong những môn học có vị trí đặc biệt
quan trọng ở bậc Tiểu học. Môn Toán cung cấp những kiến thức cơ bản về số, phép
tính, giải toán và khái niệm cơ bản về hình học.
Các kiến thức kỹ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời
sống trong sinh hoạt và lao động của học sinh. Đó cũng là công cụ rất cần thiết để
học sinh học các môn học khác.
Môn Toán giúp học sinh nhận biết được mối liên hệ về thế giới xung quanh.
Ngoài ra môn Toán còn góp phần rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghỉ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có căn cứ có khoa học
và chính xác… Môn Toán có nhiều tác dụng trong việc rèn luyện trí thông minh, tư
duy độc lập và sáng tạo của học sinh.
1.2/Xuất phát về vai trò của phần kiến thức các loại bài toán chuyển động
đều:
Trong quá trình trực tiếp giảng dạy trên lớp, chính vì thấy được vai trò của môn
Toán nên khi truyền thụ kiến thức cho học sinh tôi luôn có ý thức tìm hiểu xem học
sinh của mình còn yếu về phần kiến thức nào để có biện pháp giúp đỡ học sinh
khắc phục.
1
Qua nhiều năm học được phân công dạy lớp 5. Tôi nhận thấy đa số học sinh còn
yếu và lúng túng khi giải các bài toán về chuyển động đều. Mản kiến thức ở các bài
toán về chuyển động đều, đồng thời giúp học sinh phát huy được tính tích cực và
sáng tạo trong học toán để đạt được kết quả cao, cho nên tôi đã tìm hiểu và chọn
sáng kiến kinh nghiệm“Một số biện pháp khắc phục thiếu sót, sai lầm trong
giải các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”. Để góp phần thành
công trong mỗi tiết dạy, giúp học sinh có hứng thú khi học các dạng bài toán này.
2. Phạm vi triển khai thực hiện :
- Năm học: 2010 -2011 đã thực hiện thí điểm tại lớp 5A trường Tiểu học Phú Mỹ
2.
- Năm học: 2011 - 2012 triển khai đồng loạt trong toàn giáo viên khối 5 trường
Tiểu học Phú Mỹ 2.
3. Mô tả sáng kiến :
3.1/ Mục tiêu dạy học các bài toán chuyển động đều.
Giáo dục chuyển động đều là bộ phận của giáo dục toán học. Do đó chuyển động
có nhiệm vụ góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu chung của môn
toán nói chung ở cấp học này, theo đặc điểm và khả năng giáo dục của mình,đồng
thời tính toán đến đặc điểm phát triển tâm lý của lứa tuổi học sinh. Nhiệm vụ đó là
trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức toán về chuyển động và kỹ năng cơ
bản cần cho việc học tập tiếp tục và đi vào cuộc sống lao động thông qua việc làm
trên bước đầu phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích tổng
hợp, từng bước hình thành và rèn luyện phương pháp và tác phong rèn luyện khoa
học phát triển phù hợp với tâm sinh lý của từng lứa tuổi, các khả năng suy luận.
Việc thực hiện các nhiệm vụ trên phải nhằm vào các mục tiêu cụ thể sau:
*Kiến thức mở đầu:
- Về chuyển động đều.
Có những hiểu biết ban đầu đúng đắn về một vài loại toán chuyển động đều
thường gặp và có khả năng nhận dạng như: chuyển động ngược chiều gặp nhau,
cùng chiều đổi nhau, ngược chiều xa nhau, động tử có chiều dài đáng kể, chuyển
động theo vòng tròn, chuyển động xuôi dòng, ngược dòng tìm vận tốc trung bình
chạy đi chạy lại nhiều lần.
3
Chuyển động ngược chiều gặp nhau.
4
Chuyển động cùng chiều đối nhau.
Chuyển động xuôi dòng ngược dòng.
Tìm vận tốc trung bình.
Để phát huy khả năng tư duy, óc sáng tạo, tìm tòi của học sinh, đặc biệt là
những học sinh giỏi có năng khiếu học toán ngoài những kiến thức cơ bản về các
bài toán chuyển động đều đã được nêu trên, Khi giảng dạy tôi còn mở rộng kiến
thức nhằm đáp ứng khả năng của học sinh một các phù hợp như đưa thêm một số
dạng toán sau:
Chuyển động ngược chiều rồi xa nhau.
Chuyển động theo đường vòng.
Chạy đi, chạy lại nhiều lần.
Ngoài việc giúp học sinh nắm vững nội dung của từng dạng bài tôi cần khắc sâu
kiến thức bằng cách cho học sinh vận dụng các công thức khi giải bài một các linh
hoạt.
+ Các đơn vị đo lường.
Các đơn vị đo độ dài và quan hệ giữa các đơn vị đo.
Các đơn vị đo thời gian và quan hệ giữa các đơn vị đo.
+ Các bài toán đơn về chuyển động đều.
* Khi học mản kiến thức này học sinh cần nắm:
Muốn tìm vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian:
V=S:T
Muốn tìm quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian:
S=VxT
Muốn tìm thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc:
T=S:V
Về mối quan hệ giữa các đại lượng vận tốc, quãng đường, thời gian.
Tổng vận tốc
Khoảng cách
Tổng vận tốc =
Thời gian
6
Vận tốc xuôi dòng ngược dòng:
- Vận tốc đi xuôi dòng bằng vận tốc thực cộng vận tốc dòng nước.
- Vận tốc đi ngược dòng bằng vận tốc thực trừ vận tốc dòng chảy.
Khi giảng dạy tôi còn phân tích từng nội dung các bài toán cho học sinh nắm
cũng như:
* Kiến thức về đo đại lượng (độ dài, thời gian ) học sinh đã học ở lớp dưới và các
tiết học trước của chương trình toán 5. Tuy nhiên độ dài và thời gian chuyển động
có liên quan chặt chẽ đến vận tốc chuyển động của vật trong chuyển động đều.
Vì vậy khi dạy các bài toán chuyển động đều, nếu thấy học sinh còn lúng túng về
các chuyển đổi các phép đo về các đại lượng. Cần giúp học sinh nắm lại bản hệ
thống đơn vị đo, xem lại mối quan hệ các đơn vị kế cận, thực hiện các phép tính
trên số tự nhiên và số đo đại lượng. Khi chuyển đổi nhớ phải thực hiện các phép
tính, sử dụng bản hệ thống đơn vị đo và khi chuyển đổi đơn vị đo ta có thể viết
thêm hoặc xóa bỏ số 0, dịch dấu phẩy sang trái hoặc sang phải 1,2,3 chữ số.
Ví dụ:
Đổi số đo có tên đơn vị này sang số đo có tên đơn vị khác.
12000 m = 12 km
1 giờ = 60 phút
Đổi số đo là số tự nhiên sang số đo là số thập phân khác về đơn vị.
4 giờ 30 phút = 4,5 giờ.
* Các bài toán đơn về chuyển động đều:
+ Tìm vận tốc.
Xác định vận tốc và thời gian chuyển động của vật.
+ Hai động tử chuyển động ngược chiều trên cùng và khởi hành cùng một lúc để
gặp nhau.
Cần tính khoảng cách giữa hai vật ở cùng một thời điểm(thường là thời điểm
của vật khởi hành sau).
Tính xem mỗi đơn vị thời gian khoảng cách đó ngắn lại bao nhiêu(chính là tổng
vận tốc).
Tính thời gian mà hai vật phải đi để gặp nhau .
8
Ví dụ: Hai người đi xe đạp cùng một lúc từ hai xã A và B cách nhau 21 km đi
ngược chiều nhau để gặp nhau.Vận tốc của người đi xe đạp từ xã A là 3 km/giờ,
của người đi xe đạp từ xã B là 4 km/giờ. Hỏi sau mấy giờ hai người đó gặp nhau.
Giáo viên phải gợi ý cho học sinh: Đây là toán chuyển động “ngược chiều’’có
thể vẽ hình minh họa chuyển động đó:
Gặp nhau
3km/giờ
A
4km/giờ
C
B
- Cứ sau một giờ hai người gần nhau được.
3 + 4 = 7 km
(đó cũng là tổng của hai vận tốc )
Để gặp nhau cả hai người phải cùng đi được 21km và phải mất thời gian là:
21 : 7 = 3 giờ
Hướng dẫn học sinh nhận xét: Trong chuyển động ngược chiều muốn tìm thời
AB = ((36 – 12 ) x T
Hay 48 km = 24 km/giờ x T
Suy ra: T = 48 : 24 = 2 giờ
Trong chuyển động cùng chiều muốn tìm thời gian đi gặp nhau ta lấy quãng
đường chia cho hiệu hai vận tốc.
+ Chuyển động xuôi dòng,ngược dòng.
Xác định vận tốc thực (Vt ) của vật và vận tốc của dòng chảy (Vd)
Vận tốc xuôi dọng Vx = Vt + Vd
Vận tốc ngược dòng Vn = Vt – Vd
Ví dụ: Một tàu thủy khi đi xuôi dòng có vận tốc 26,5km/giờ, khi đi ngược dòng
có vận tốc 16,5km/giờ. Tính vận tốc của dòng sông và vận tốc thực của tàu thủy.
Gợi ý: Khi xuôi dòng có vận tốc 26,5km/giờ là tổng của vận tốc thực của tàu và
vận tốc dòng sông.
Khi ngược dòng có vận tốc 16,5 km/giờ là hiệu của vận tốc thực của tàu và
vận tốc của dòng sông.
Bài toán này có dạng tìm hai số (vận tốc của dòng sông và vận tốc thực của tàu
)khi biết tổng và hiệu của chúng.
Giải
Vận tốc của dòng sông là:
( 26,5 – 16,5) : 2 = 5(km/giờ)
10
Vận tốc thực của tàu thủy là:
26,5 – 5 = 21,5 (km/giờ)
Hoặc có thể tính vận tốc thực tàu thủy:
16,5 + 5 =21,5 (km/giờ )
Đáp số: 5km/giờ
21,5km/giờ
Qua hệ thống phần kiến thức để giải các bài toán chuyển động đều cho thấy: Tuy
Như vậy rõ ràng phương pháp gợi mở-vấn đáp có một tác dụng rất lớn đối với
việc dạy và học các bài toán chuyển động đều. Sử dụng phương pháp này như thế
nào mới đem lại hiệu quả cao đều này khuyến tôi suy nghĩ rất nhiều và khi giảng
dạy tôi thực hiện một số yêu cầu sau:
+ Xây dựng một hệ thống câu hỏi phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp.
+ Mỗi câu hỏi phải có nội dung chính xác phù hợp với mục tiêu yêu cầu của bài
học. Câu hỏi phải rõ ràng không mập mờ khó hiểu hoặc hiểu theo nhiều cách.
+ Cùng một nội dung có thể đặt câu hỏi với những hình thức khác nhau để học
sinh nắm vững kiến thức và linh hoạt trong suy nghĩ.
+ Câu hỏi ngắn gọn gợi ra vấn đề để học sinh suy nghĩ giải quyết vấn đề. Nên
hạn chế những câu hỏi mà học sinh có thể trả lời không hoặc có.
+ Khi dạy học tập trung cả lớp nêu câu hỏi để tất cả học sinh cùng suy nghĩ sau
đó gọi học sinh trả lời. Khi học sinh trả lời tôi cùng học sinh khác theo dõi rồi nhận
xét, bổ sung.
+ Phải sử dụng đúng lúc đúng mức độ phương pháp. Trong một số trường hợp
nên khuyến khích học sinh tự đặt câu hỏi để học sinh khác trả lời.
Phương pháp dạy học đã được xem là cách thức tổ chức giúp học sinh chiếm lĩnh
tri thức, rèn luyện kỹ năng của giáo viên trong quá trình dạy học. Vậy khi sử dụng
phương pháp “gợi mở-vấn đáp” giáo viên phải là người tổ chức hoạt động học tập
của học sinh thông qua vấn đáp, học sinh là người vấn đáp, giáo viên là người trọng
tài, chuyển dần vai trò chủ động cho học sinh bằng cách tổ chức cho học sinh tham
gia đặt câu hỏi trong giờ học.
Lâu nay do thói quen “thầy hỏi” “trò đáp” nên học sinh rất ít khi dám đặt câu hỏi
nhờ giải thích những điều chưa hiểu trong giờ học.Trong thực tế nhiều bài do
12
khuôn khổ sách giáo khoa, một số chi tiết không thể nói kết như trí tò mò, lòng
ham muốn hiểu biết thôi thúc các em muốn hỏi mà ít có cơ hội.
Nếu tạo được cơ hội cho học sinh tham gia nêu các câu hỏi, việc dạy sẽ có tác
Trừ những bài toán quá phức tạp thì nói chung chúng ta phải tập cho học sinh
thói quen tự tìm hiểu đề toán. Hết sức tránh tình trạng học sinh vừa đọc xong đề đã
bắt tay vào giải ngay, ở đây cần lưu ý mấy điểm sau:
+ Mỗi đề toán gồm hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất là những điều đã cho, bộ
phận thứ hai là cái phải tìm. Muốn giải được bất cứ bài toán nào học sinh cũng phải
xác định cho đúng hai bộ phận ấy.
+ Chúng ta cần hướng sự tập trung suy nghĩ của học sinh vào những từ quan
trọng của đề toán, từ nào chưa hiểu hết ý nghĩa thì phải tìm hiểu ý nghĩa của nó.
+ Học sinh cần phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán, những gì
không thuộc về bản chất của đề toán. Để hướng sự chú ý của mình vào những chỗ
cần thiết.
Bước 2: Tóm tắt đề toán
Những bài toán về chuyển động ta nên hướng dẫn học sinh dùng sơ đồ đoạn
thẳng để thiết lập mối quan hệ với những cái đã cho và cái phải tìm.
* Lưu ý học sinh: Khi tóm tắt đề toán cần gạt đi tất cả những gì là thứ yếu, lặt
vặt trong đề toán và hướng dẫn sự tập trung suy nghĩ của mình vào những điểm
chính của đề toán.
Bước 3: Phân tích bài toán để tìm cách giải.
Ở đây cần suy nghĩ xem: Muốn trả lời câu hỏi của đề toán thì cần biết những
gì, cần phải làm những phép tính gì? Trong những điều ấy cái gì đã biết? Cái gì
chưa biết? Muốn tìm cái chưa biết ấy thì lại phải biết những gì? Phải làm tính
gì?...Cứ như thế ta dần tới những gì đã cho trong đề toán.
Từ những suy nghĩ trên học sinh sẽ tìm ra con đường tính toán (hoặc suy luận )
đi từ những điều đã cho có thể tới đáp số của bài toán.
Bước 4: Giải bài toán và thử lại các kết quả.
Dựa vào kết quả phân tích bài toán ở bước 3 xuất phát từ những điều đã cho
trong đề toán, ta lần lượt thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số. Cần chú ý thử lại
sau khi làm xong từng phép tính, cũng như thử lại đáp số xem có phù hợp với đề
14
- Bài toán hỏi gì? (Vận tốc của ca nô)
15
- Muốn biết vận tốc của ca nô,ta làm thế nào? Lấy quãng đường của ca nô
từ A đến B chia cho thời gian đi quãng đường đó).
- Quãng đường của ca nô đi từ A đến B biết chưa? (Biết rồi )
- Thời gian ca nô đi từ A đến B biết chưa? ( Chưa biết )
- Muốn tìm thời gian ca nô đi từ A đến B ta làm thế nào? (Lấy thời gian
điểm xuất phát trừ thời gian điểm về đích ).
Bước 4: Dựa vào bước 3, ta đi ngược từ (5) lên (1) để thực hiện các phép tính và
viết lời giải.
Giải
Thời gian ca nô đi từ A đến B là:
11 giờ 20 phút – 6 giờ 20 phút = 5 (giờ)
Vận tốc của ca nô là:
120 : 5 = 24 (km/giờ )
Đáp số: 24 km/giờ.
Khi làm xong mỗi phép tínhta có thể thử lại xem đã đúng chưa? ( Muốn thử lại
ta lấy 11 giờ 20 phút – 6 giờ 20 phút = 5 giờ, ta tính 5 giờ + 6 giờ 20 phút xem có
bằng 11 giờ 20 phút không. Lấy 120 : 5 =24 ta tính 24 x 5 xem có phải bằng 120
không hoặc tính 120 : 24 xem có bằng 5 không ).
Bước 5: Khai thác bài toán (dành cho học sinh khá, giỏi )
Hướng dẫn học sinh suy nghĩa:
* Có thể giải theo cách khác không?
- Áp dụng công thức V = S : T
- Ta có thể gộp hai bước của bài toán trên thành bài toán giải bằng 1
bước( bằng cách kết hợp các phép tính) nhờ vào công thức: V = S : (tb - tb )
Vậy ta có cách giải như sau ngắn gọn hơn.
Giải
V=S:T
- Lưu ý cho học sinh cách độc và ghi kí hiệu .
+ Kilômét trên giờ viết tắt là km/giờ( tức là quãng đường của động tử đi được
tính bằng mét trong 1 đơn vị thời gian là phút). Không cho học sinh đọc là kilômét
giờ và không viết là km giờ.
+ Mét trên phút viết tắc là m/phút. Đọc là mét trên phút (tức là quãng đường của
động tử đi được tính bằng mét trong một đơn vị thời gian là phút).
Với những bài toán mà thời gian là hai đơn vị đo tôi hướng dẫn học sinh phải
đổi về thành phần một đơn vị đo rồi mới tính vận tốc được theo công thức.
17
1
Ví dụ: Đổi 2 giờ 20 phút = 2
giờ
3
Sau khi giảng xong mỗi bài toán tôi đều cho học sinh nhắc lại cách giải để khắc
sâu cách tính vận tốc.
Dạy về“quãng đường ” Khi dạy bài này tôi cho học sinh nắm được tính
quãng đường (lấy vận tốc nhân thời gian). Trên cơ sở học sinh đã hiểu được khái
niệm bước đầu và cách tính vận tốc, sẽ hình thành kiến thức mới tính quãng đường.
Với bài này cũng tiến hành cho học sinh giải theo quy trình giải bài toán có lời văn.
Khi hướng dẫn học sinh tìm cách giải cần liên hệ đến bài “vận tốc” và nhấn mạnh
- Học sinh đã nắm được kí hiệu của vận tốc(v), quãng đường(s), thời gian(t).Yêu
cầu học sinh dựa vào bảng số liệu tự đặt ra đề toán.
Ví dụ :
S
170 km
V
42,5 km/giờ
T
?
- Sau khi học sinh tự đặt đề toán dựa trên số liệu có sẵn thì tôi gợi ý học sinh như
sau:
+ Nếu biết V và T ta có thể tìm S theo công thức nào? ( S= V x T ).Vậy nếu biết
S và V thì ta có thể tính T như thế nào? (T = S/V ).
+ Yêu cầu học sinh tự giải vì muốn tìm thừa số chưa biết ta lấy tích chia cho
thừa số đã biết .
+ Cho học sinh cách tính thời gian dựa vào công thức đã tự rút ra T= S : V ở
trên.
Trên đây là một quy trình giải một bài toán có lời văn, các bài toán về chuyển
động đều, phải chú ý dẫn dắt học sinh giải toán theo quy trình trên nhằm làm giảm
bớt lúng túng cho học sinh khi học toán này đồng thời cũng là dẫn dắt học sinh từ
cái đơn giản đến cái phức tạp có trong đề toán sau cho phù hợp với đặc điểm tư duy
của học sinh .
3.5/ Một số lưu ý đối với việc dạy học các bài toán chuyển động đều.
a.Việc nghiên cứu kỹ chương trình sách giáo khoa toán 5 là việc làm cần thiết
đối với mỗi giáo viên.
19
- Để giảng dạy tốt toán 5 nói chung và phần kiến thức về các bài toán chuyển
động đều nói riêng, giáo viên phải có cái nhìn tổng quát nghiên cứu chương trình
SL
TL
29
11 37,93 10 34,48
7
24,13
1
3,44
* Kết quả đạt được của toàn 5A trong năm học 2010 - 2011 như sau:
TSHS
XL Giỏi
XL Khá
XL Trung bình
SL
TL
SL
TL
SL
TL
79
25 31,64 31 39,24
21
26,58
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:
XL Yếu
SL
TL
2
Phú Tân, ngày 25 tháng 04 năm 2013.
Người viết sáng kiến
Đỗ Thị Bích
21