Nếu như Vũ Trọng Phụng đưa ta đến nơi đô thị phồn hoa tấp nập
đầy lọc lừa dối trá với tác phẩm “Số Đỏ”, Thạch Lam đưa ta đến nơi phố
Huyện nửa quê nửa tỉnh với tác phẩm “Hai Đứa trẻ”. Thì riêng Nam
Cao, ông lại đưa ta trở về miền quê lam lũ, với những số phận thấp cổ bé
họng bị chà đạp, bị tha hóa vào bước đường cùng, bị cự tuyệt quyền làm
người mà tiêu biểu là nhân vật Chí phèo trong tác phẩm cùng tên được
Nam Cao sáng tác năm 1941.
Là một trong những cây bút hàng đầu của văn học Việt Nam thế kỷ
XX, Nam Cao đã nhìn và cảm nhận sâu sắc số kiếp khốn khổ của người
nông dân trong xã hội cũ và lột tả nó một cách chân thực qua nhân vật
Chí Phèo. Trước khi ở tù, Chí phèo cũng là một con người lương thiện.
Mặc dù xuất thân của Chí chỉ là một “số không” tròn trĩnh, không cha,
không mẹ, không nhà cửa, không một tấc đất cắm dùi. Vừa ra đời đã bị
bỏ rơi ở một lò gạch cũ, bị đem nuôi truyền tay từ người này sang người
khác, khi lớn hơn thì phải đi cày thuê quốc mướn kiếm sống qua ngày.
Thế nhưng Chí vẫn giữ được tâm hồn trong sạch, Chí từng mơ ước : Có
một ngôi nhà nho nhỏ, chồng cày thuê quốc mướn, vợ dệt vải nương tựa
nhau sống qua ngày. Một ước mơ thật giản dị. Năm Chí 20 tuổi, Chí trở
thành một chàng trai khỏe mạnh và đi làm thuê cho nhà Bá Kiến, Chí
thường bị Bà Ba nhà Bá Kiến sai đám lưng, bóp chân, Chí không thấy
vui vì điều đó mà chỉ cảm thấy thật nhục nhã. Có thể thấy được Chí là
một con người khỏe mạnh, lương thiện và có một phẩm chất tốt đẹp.
Một người như thế, lẽ ra phải được sống một cuộc sống an ổn, bình yên.
Nhưng số phận không chiều lòng người.
Vì sự ghen tuông vô lý của Bá kiến và cũng vì sự bất công lạc hậu
của xã hội phong kiến mà Chí bị ép đi ở tù. Từ đây, một chàng thanh
niên hiền lành khỏe mạnh đã bị nhà tù không có chút ánh sáng tình
người ấy biến thành “Con quỷ của làng Vũ Đại”. Nam Cao rất hiếm khi
miêu tả ngoại hình nhân vật, nhưng riêng nhân vật Chí Phèo, ông đã
đẩy lên cao trào khi Chí nhận được bát cháo hành do chính tay Thị nấu.
Hình ảnh “bát cháo hành” là một chi tiết đắt giá góp phần làm nên thành
công cho tác phẩm, đó là một hình ảnh độc đáo, chân thật mà giàu ý
nghĩa. Với Chí, đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng chí được ăn
trong tình thương và sự hạnh phúc. Nó có ý nghĩa đặc biệt với chí bởi nó
được nấu bằng bàn tay yêu thương săn sóc mà không phải do Chí đập
phá, do Chí rạch mặt ăn vạ mà có được. Nhờ bát cháo hành mà Chí hoàn
toàn thức tỉnh, Chí muốn được quay về với cuộc sống của một con người
chân chính.
Thế nhưng không phải mong muốn nào cũng trở thành hiện thực,
Chí muốn được làm người lương thiện nhưng xã hội phong kiến ấy lại
tàn nhẫn phá vỡ mọi hy vọng của Chí. Những ngày Thị chăm sóc Chí đã
khiến Chí thấy được sự tốt đẹp của tình yêu, thấy được ánh sáng của
cuộc đời, Chí muốn được nên duyên với Thị, cùng xây đắp một gia đình
nhỏ như giấc mơ giản dị mà ngày trước Chí vẫn thường ao ước. Nhưng
bà cô của Thị đã ngăn cản Chí và Thị. Hình ảnh bà cô là đại diện cho
những định kiến của xã hội phong kiến, không chấp nhận những con
người tha hóa quay đầu, không cho người ta một cơ hội làm lại cuộc đời.
Vì bà cô mà Thị từ chối Chí, bóp chết hy vọng làm người lương thiện
của Chí.
Bị Thị Nở từ chối khiến con đường quay đầu của Chí đi vào ngõ
cụt, Chí tuyệt vọng trong men rượu, khóc lên “rưng rứt”, xách dao đến
nhà Bá Kiến. Cuối cùng, Chí đã đam chết Bá Kiến và đồng thời cũng kết
liễu cuộc đời mình. Đó là hành động quyết liệt lấy máu rửa thù của
người nông dân thức tỉnh về quyền sống và cũng là sự chấm dứt cuộc
sống của con người trong đau đớn bi kịch giữa ngưỡng của trở và cuộc
sống làm người chân chính.
Bằng nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật chân thực, sâu
sắc, nhà văn Nam Cao đã thành công diễn tả cả một thế hệ kiếp người