BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_______________________________________
NGUYỄN VĂN NHẠC
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
HÓA HỌC 11 PHẦN PHI KIM TIẾP CẬN PISA
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
[
NGHỆ AN - 2015
i
ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_______________________________________
NGUYỄN VĂN NHẠC
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
HÓA HỌC 11 PHẦN PHI KIM TIẾP CẬN PISA
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
luận văn này.
- Ban giám hiệu, thầy, cô giáo và các em học sinh trường THPT Lê Hồng
Phong, trường THPT Lê Lợi - tỉnh Quảng Bình đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi
giúp đỡ tôi trong thời gian làm nghiên cứu, hoàn thiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã
tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt luận văn.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Vinh, tháng 08 - 2015
Học viên
Nguyễn Văn Nhạc
i
MỤC LỤC
Trang
- Không dạy Mục VI.2,đc nitơ trong PPN. (31)........................................................24
- GV hướng dẫn HS tự đọc thêm................................................................................24
- Không dạy Hình 2.2 sơ đồ cấu tạo... (32)................................................................24
- Mục II.Tc vật lí Không dạy cấu trúc của 2 loại P và các hình 2.10; 2.11 (46, 47).24
- Không dạy Mục IV.1 Trong PTN. (52)...................................................................24
-GV hướng dẫn HS tự đọc thêm.................................................................................24
- Không dạy phản ứng nhận biết muối nitrat (60).....................................................24
- BT 3 bỏ PTHH 1 và 2 (61).......................................................................................24
- Không dạy thí nghiệm 3.b (64)................................................................................24
Cacbon........................................................................................................................25
- Không dạy Mục II.3 Fuleren (67) và Mục VI. Điều chế (69).................................25
-GV hướng dẫn HS tự đọc thêm................................................................................25
[37]. http://hocthenao.vn/2013/12/05/ve-pisa-2012-cua-viet-nam-bo-gd-va-dt/....122
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Bài tập hóa học
Đánh giá
Đổi mới phương pháp dạy học
Giáo dục
Giáo dục và đào tạo
Giáo viên
Học sinh
Kiểm tra đánh giá
Lớp đối chứng
Lớp thực nghiệm
Programme for International Student Assessment
Phương pháp
Phương pháp dạy học
Phương trình hóa học
Sách bài tập
Sách giáo khoa
Trung cấp chuyên nghiệp
Trung học phổ thông
- GV hướng dẫn HS tự đọc thêm................................................................................24
- Không dạy Hình 2.2 sơ đồ cấu tạo... (32)................................................................24
- Mục II.Tc vật lí Không dạy cấu trúc của 2 loại P và các hình 2.10; 2.11 (46, 47).24
- Không dạy Mục IV.1 Trong PTN. (52)...................................................................24
-GV hướng dẫn HS tự đọc thêm.................................................................................24
- Không dạy phản ứng nhận biết muối nitrat (60).....................................................24
- BT 3 bỏ PTHH 1 và 2 (61).......................................................................................24
- Không dạy thí nghiệm 3.b (64)................................................................................24
Cacbon........................................................................................................................25
- Không dạy Mục II.3 Fuleren (67) và Mục VI. Điều chế (69).................................25
-GV hướng dẫn HS tự đọc thêm................................................................................25
[37]. http://hocthenao.vn/2013/12/05/ve-pisa-2012-cua-viet-nam-bo-gd-va-dt/....122
v
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, trong sự phát
triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh
quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia trên thế giới. Thực chất sự cạnh
tranh đó là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học - công nghệ. Xu thế chung
của thế giới khi bước vào thế kỉ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ và cải
cách giáo dục.
Giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây đang tập trung đổi mới, hướng
tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại, bắt kịp xu hướng của các nước trong khu vực
và trên thế giới. Một trong những định hướng lớn hiện nay của giáo dục nước ta đó
là chuyển trọng tâm từ truyền thụ nội dung sang phát triển năng lực người học. Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng ta đã khẳng định: “Đổi mới căn bản
toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa,
vai trò của hóa học trong đời sống. Và cũng một phần vì đó, các em chưa có
nhiều niềm đam mê, say sưa trong học tập. Vì vậy, để tạo dựng niềm đam mê học
tập, giúp Hóa học gần hơn với thực tiễn thì việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy
học có vai trò rất quan trọng. Cần thay đổi thực trạng các câu hỏi và BTHH còn
nặng kiến thức hàn lâm mà chưa chú trọng đến việc học sinh ứng dụng các kiến
thức, kĩ năng trong hóa học, khả năng phân tích, lí giải và truyền đạt một cách hiệu
quả khi xem xét, diễn giải hay giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn.[11]
Tháng 4 - 2012, lần đầu tiên Việt Nam tham gia vào một trong những
chương trình đánh giá quốc tế có uy tín và phổ biến nhất hiện nay, đó là PISA với
mục tiêu: Tích cực hội nhập quốc tế về giáo dục; So sánh “mặt bằng” giáo dục quốc
gia với giáo dục quốc tế; Góp phần đổi mới về nội dung giáo dục, phương pháp
giáo dục và đánh giá giáo dục; Chuẩn bị tích cực cho lộ trình đổi mới giáo dục sau
năm 2015. PISA là viết tắt của cụm từ “Programme for International Student
Assessment - Chương trình đánh giá học sinh quốc tế” do Tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế “Organization for Economic Cooperation and Development” (viết tắt là
OECD) khởi xướng và chỉ đạo. Mục tiêu tổng quát của PISA nhằm kiểm tra xem ở
độ tuổi 15- độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia, học sinh đã
được chuẩn bị để đáp ứng những thách thức của cuộc sống sau này đến mức độ nào.
Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ
năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình
giáo dục quốc gia. Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo dục cụ
thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kỹ năng trong lĩnh
vực chuyên môn cơ bản, khả năng phân tích, lý giải và truyền đạt một cách có hiệu
quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề [2]. Đây chính là điều mà
PISA gọi là “năng lực phổ thông”, bao gồm: Năng lực làm toán phổ thông; Năng
lực đọc hiểu phổ thông; Năng lực khoa học phổ thông; Kĩ năng giải quyết vấn đề.
Những kiến thức và kĩ năng mà PISA đánh giá là tối cần thiết cho một học sinh khi
bước vào cuộc sống trưởng thành. Đó cũng là những kĩ năng và kiến thức nền tảng
dụng hệ thống bài tập Hóa học 11 phần phi kim tiếp cận PISA theo định hướng
phát triển năng lực cho học sinh”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu, sách, giáo trình, tài liệu, bài
viết liên quan đến việc việc sử dụng bài tập trong dạy học nói chung và môn Hóa
học nói riêng và các tài liệu nghiên cứu liên quan đến PISA như:
- PGS.TS. Cao Cự Giác: Đưa ra cách thiết kế và sử dụng bài tập thực nghiệm
trong dạy học Hóa học [13], [14].
- Luận văn thạc sĩ: “Tiếp cận đánh giá PISA bằng phương pháp giải quyết
vấn đề qua dạy học các bài toán thực tiễn phần khối đa diện và khối tròn xoay (hình
học không gian lớp 12 - Ban cơ bản” của Tăng Hồng Dương - lớp Cao học lý luận
và phương pháp dạy học môn Toán K5 - Trường đại học Giáo dục, đại học Quốc
gia Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ: “Dạy học phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ
thông với các bài toán tiếp cận chương trình học sinh quốc tế (PISA)” của Nguyễn
Quốc Trịnh - lớp Cao học lý luận và phương pháp dạy học môn Toán K5 - Trường
đại học Giáo dục, đại học Quốc gia Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo cách tiếp cận
của PISA trong dạy học hóa học vô cơ lớp 9” của Trần Thị Nguyệt Minh - lớp cao
học lý luận và dạy học môn Hóa học -K6 - Trường đại học giáo dục, đại học Quốc
gia Hà Nội, 2012 [20].
- Luận văn thạc sĩ: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập hóa học 10 phần
phi kim tiếp cận PISA theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT” của
Hoàng Thị Phương - chuyên nghành lý luận và phương pháp dạy học môn Hóa học
K21 - Trường đại học Sư phạm Hà Nội, 2013 [22].
- “PISA và các dạng câu hỏi” - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
- “Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)” của Nguyễn Thị Phương Hoa
trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 25/2010 [18].
* Đề xuất một số hướng sử dụng hệ thống bài tập tiếp cận PISA trong dạy
học hóa học phần phi kim lớp 11 nhằm làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực
tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập…, từ đó nâng cao hiệu quả dạy
học hóa học ở trường THPT.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông Việt Nam.
5.2. Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình sử dụng câu hỏi và bài tập tiếp cận PISA trong dạy và học môn
hóa học phần phi kim lớp 11 đã và đang tiến hành ở trường THPT.
- Thiết kế đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA
trong dạy học hóa học phần phi kim lớp 11.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các vấn đề về cơ sở lí luận liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc sử dụng bài tập
trong dạy học Hóa học ở trường THPT.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc thiết kế bài tập
mới trong dạy học Hóa học ở trường THPT.
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc, chương trình hóa học phần phi kim lớp 11.
- Nghiên cứu các tài liệu về chương trình đánh giá HS quốc tế PISA.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các hoạt động dạy và học
có sử dụng bài tập hóa học tiếp cận PISA tại trường THPT nhằm phát hiện
vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với GV và HS để tìm hiểu ý kiến, quan
niệm, thái độ... của họ về việc sử dụng câu hỏi và bài tập hóa học tiếp cận PISA
trong dạy và học ở trường THPT, cũng như những thuận lợi và khó khăn mà GV và
PHẦN PHI KIM HÓA HỌC LỚP 11
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới
Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Trước sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế, khoa học và công nghệ đã tạo nên những thay đổi sâu sắc
trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học
đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục. Các Quốc gia, từ những nước đang
phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu
của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn,
hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước. Giáo dục
được xem là chiếc đòn bẩy, là “công cụ chủ yếu tạo ra sự phát triển”. “Giáo dục
chính là chiếc chìa khóa mở vào cánh cửa tương lai”, một xã hội được xây dựng
trên nền tảng tri thức. Khẩu hiệu “hãy cứu lấy nền kinh tế bằng giáo dục” đã được
nhiều Quốc gia nêu cao [31], [34].
Trong giáo dục, chương trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao
gồm các yêu tố: mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy
học và kiểm tra đánh giá. Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ
phương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương
pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người
học. Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới phương pháp dạy học.
Vấn đề PPDH và đổi mới PPDH được các nhà giáo dục trên thế giới quan
tâm và đề cập rất nhiều trong các bài báo, hội thảo khoa học… Đáng chú ý nhất là
khuyến nghị của UNESCO về phát triển giáo dục vào các năm 1971; 1980; 1990
đều nhất trí rằng phải thường xuyên “phát triển các phương pháp giáo dục mới,
thích hợp hơn có thể đánh giá đúng mức khả năng học tập tích cực của HS và cũng
để thay thế các hệ thống đánh giá cũ, đặt căn bản trên trí nhớ về các kiến thức, kỹ
năng… ” [34], [36]. Từ đó cho thấy, đổi mới PPDH là một nhu cầu cấp bách của
thời đại ngày nay. Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhân loại đang
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [5].
Xác định tầm quan trọng của phương pháp dạy học đối với việc nâng cao
chất lượng giáo dục, rất nhiều dự án giáo dục đã coi việc đầu tư cho bồi dưỡng tập
huấn ĐMPPDH, đầu tư trang thiết bị dạy học hiện đại là một thành phần hoạt động
ưu tiên. Tập trung nhất là trong khoảng 5 năm trở lại đây. Các dự án như Phát triển
giáo dục trung học, Phát triển giáo viên THPT và TCCN, Việt - Bỉ, Oxfam… đều
có những hoạt động phục vụ cho ĐMPPDH của GV. Nhiều hội thảo, đợt bồi dưỡng,
tập huấn đã được tổ chức, rút ra nhiều kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn cho
vấn đề này. Đặc biệt, dự án Việt - Bỉ có phạm vi hoạt động là 15 tỉnh miền núi phía
Bắc nhưng sản phẩm về ĐMPPDH do dự án xây dựng đã được phổ biến toàn quốc
trước khi Dự án kết thúc vào năm 2010; ĐMPPDH đã được đưa lên tầm chỉ đạo,
quản lý, cho thấy tầm quan trọng, cấp bách của việc ĐMPPDH. Việc ĐMPPDH
không chỉ còn là việc của riêng giáo viên, mà phải trở thành nhiệm vụ trọng tâm của
tất cả các cấp quản lý từ Trung ương tới địa phương.
Nền giáo dục mới đòi hỏi không chỉ trang bị cho HS kiến thức mà nhân loại
đã tìm ra mà còn phải bồi dưỡng cho HS tính năng động, óc tư duy sáng tạo và thực
hành các yêu cầu đó. Đề án đổi mới căn bản và toàn diện GD - ĐT Việt Nam đã và
đang được bổ sung, hoàn thiện và từng bước được triển khai thực hiện theo đúng tinh
thần của Đại hội Đảng lần thứ 11 và kết luận của Hội nghị TW 8 [6].
Theo TS. Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên TW Đảng, Phó trưởng Ban thường trực
Ban Tuyên giáo TW: Các quan điểm chỉ đạo đổi mới tập trung vào các nội dung
trọng điểm như: “Tiếp tục thực hiện tốt các quan điểm phát triển giáo dục đã được đề
ra trong các Nghị quyết của Đảng; Chuyển từ một nền giáo dục chủ yếu là truyền thụ
kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học…” [5].
Theo TS. Hoàng Thị Tuyết, giảng viên Khoa Giáo dục tiểu học (ĐHSP TP
HCM): “Bộ GD - ĐT xác định tiếp cận theo hướng năng lực làm sao phát triển cho
học sinh có được những năng lực cơ bản, những năng lực chuyên biệt để có thể vào
đời, đây là hướng quốc tế đang theo xây dựng chuẩn. Chúng tôi sẽ xác lập những
Chính vì vậy, việc xây dựng nên những BTHH mới phù hợp với định hướng
đổi mới của môn Hóa học nói riêng và định hướng đổi mới giáo dục nói chung là
rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực.
1.2.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập Hóa học mới [20] [22]
- BTHH phải đa dạng, phải có nội dung hóa học thiết thực trên cơ sở của
định hướng xây dựng chương trình Hóa học phổ thông.
- Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà
cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy Hóa
học và hành động cho học sinh.
- BTHH cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức Hóa học và các ứng dụng
của Hóa học trong thực tiễn. Thông qua các dạng bài tập này làm cho học sinh
thấy được việc học Hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức Hóa học rất gần
gũi, thiết thực với cuộc sống. Đồng thời, các BTHH cần khai thác các nội dung
về vai trò của Hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội môi trường và các hiện
tượng tự nhiên, kích thích được sự đam mê, hứng thú học tập của học sinh đối
với môn Hóa học.
- BTHH định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi
các thuật toán mà cần chú trọng đến nội dung Hóa học và các phép tính được sử
dụng nhiều trong tính toán Hóa học.
- Đa dạng hóa các hình thức câu hỏi, bài tập, như: Sử dụng bảng biểu, sơ
đồ, văn bản, hình ảnh, câu hỏi trắc nghiệm khách quan, câu hỏi tự luận ngắn,
câu hỏi mở...
Như vậy, xu hướng phát triển của BTHH hiện nay hướng đến rèn luyện khả
năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học cho học sinh ở các
mặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng. Những bài tập có tính chất học thuộc trong
các bài tập lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy,
tìm tòi.
1.2.3. Vai trò của bài tập thực tiễn [20], [32],[33]
Mục tiêu tổng quát của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem khi đến độ
tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc, học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các
thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào. Ngoài ra, chương trình đánh giá
PISA còn hướng vào các mục đích cụ thể [3]:
- Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu,
lĩnh vực Toán và Khoa học của HS.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của HS.
- Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy - học tập có ảnh hưởng đến
kết quả học tập của HS.
PISA thu thập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh được
trên bình diện quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về năng lực Đọc
hiểu, năng lực Toán học và Khoa học của HS độ tuổi 15, từ đó giúp chính phủ các
nước tham gia PISA rút ra những bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.
PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính: Năng lực Toán học phổ
thông; Năng lực Đọc hiểu phổ thông (Reading literacy); Năng lực Khoa học phổ
thông (Science literacy) - Đó là những kiến thức và kỹ năng tối cần thiết cho một
học sinh bước vào cuộc sống trưởng thành. Và đó cũng là những kỹ năng và kiến
thức nền tảng, không thể thiếu cho quá trình học tập suốt đời của mỗi người.
Quy mô của PISA là rất lớn và có tính toàn cầu. Mỗi chu kì đánh giá tập
trung vào một lĩnh vực chính. Thời gian đánh giá dành cho lĩnh vực chính chiếm
khoảng 2/3 tổng thời gian của cả đề thi.
Các lĩnh vực năng lực được đánh giá trong các kỳ PISA (mỗi kì có 1 lĩnh
vực được chọn là trọng tâm đánh giá)
Năm 2000
Năm 2003
Năm 2006
Năm 2009
Khoa học
Khoa học
Khoa học
Khoa học
Khoa học
Ghi chú: Phần in đậm là nội dung trọng tâm của mỗi kì đánh giá
1.3.1. Năng lực Khoa học của PISA
Là năng lực của một cá nhân biết sử dụng kiến thức khoa học để xác định
các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ để hiểu và đưa ra quyết định về thế
giới tự nhiên thông qua hoạt động của con người thực hiện việc thay đổi thế giới tự
nhiên. Cụ thể là [3]:
- Có kiến thức khoa học và sử dụng kiến thức để xác định các câu hỏi, chiếm
lĩnh kiến thức mới, giải thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luận trên cơ sở
chứng cứ về các vấn đề liên quan đến khoa học.
- Hiểu những đặc tính của khoa học như một dạng tri thức của loài người và
một hoạt động tìm tòi khám phá của con người.
- Nhận thức được vai trò của khoa học và công nghệ đối với việc hình thành
môi trường văn hóa, tinh thần, vật chất.
- Sẵn sàng tham gia như một công dân tích cực, vận dụng hiểu biết khoa học
vào giải quyết các vấn đề liên quan tới khoa học.
* Các câu hỏi ở 3 cấp độ/nhóm sau:
+ Xác định các câu hỏi khoa học: HS nhận biết các vấn đề mà có thể được
khám phá một cách khoa học, nhận ra những nét đặc trưng chủ yếu của việc nghiên
cứu khoa học.
+ Giải thích hiện tượng một cách khoa học: HS có thể áp dụng kiến thức về
khoa học vào tình huống đã cho, mô tả, giải thích hiện tượng một cách khoa học và
dự đoán sự thay đổi.
+ Sử dụng các căn cứ khoa học, lí giải các căn cứ để rút ra kết luận.
Rủi ro (thay đổi khí hậu, tác động của chiến tranh hiện đại,…).
Các lĩnh vực khác (sự tuyệt chủng của các loài, thám hiểm không gian,
nguồn gốc và cấu trúc của vũ trụ).
1.3.2. Bài tập của PISA
Bộ đề thi PISA bao gồm nhiều bài tập (Unit), mỗi bài tập gồm một hoặc một
số câu hỏi (Items). Trung bình mỗi bộ đề thi có khoảng 60 bài (nếu một HS làm tất
cả bộ đề thi sẽ mất khoảng 420 phút - khoảng 7 giờ). Tổng số bài tập trong bộ đề thi
sẽ được chia ra thành các đề thi khác nhau để đảm bảo các HS ngồi gần nhau không
làm cùng một đề và không thể trao đổi hoặc nhìn bài nhau trong quá trình thi. Mỗi
đề thi sẽ đánh giá một số nhóm năng lực nào đó của một lĩnh vực nào đó và được
đóng thành quyển “Đề thi PISA” để phát cho học sinh. Thời gian để HS làm một đề
thi là 120 phút. HS phải dùng bút chì để làm trực tiếp vào quyển “Đề thi PISA” (HS
được phép sử dụng các đồ dùng khác như giấy nháp, máy tính bỏ túi, thước kẻ, com
- pa, thước đo độ,… theo sự cho phép của người coi thi).
Sự hiểu biết phổ thông của PISA được đánh giá qua các Unit (bài thi) bao
gồm phần dẫn “stimulus material” (có thể trình bày dưới dạng chữ, bảng, biểu đồ,
…) và theo sau đó là một số câu hỏi (item).
Các câu hỏi của PISA đều là các câu hỏi dựa trên các tình huống của đời
sống thực và không chỉ giới hạn bởi cuộc sống thường ngày của các em trong nhà
trường, nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ để học sinh thực hiện các
thao tác về tư duy, mà còn để học sinh ý thức về các vấn đề xã hội (như là sự nóng
lên của Trái đất, phân biệt giàu nghèo,…). Dạng thức của câu hỏi phong phú, không
chỉ bao gồm các câu hỏi lựa chọn đáp án mà còn yêu cầu học sinh tự xây dựng nên
đáp án của mình. Chất liệu được sử dụng để xây dựng các câu hỏi này cũng đa
dạng, ví dụ như: bài tập đọc hiểu của PISA có thể xây dựng trên bảng biểu, đồ thị,
tranh, ảnh quảng cáo, văn bản, bài báo... [3].
* Các kiểu câu hỏi được sử dụng:
- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn (short response question).
- VN chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục.
- Tham gia cùng các nước phát triển nhất, cơ hội để Việt Nam học tập trao
đổi về giáo dục, về kinh nghiệm đánh giá quốc tế.
- Xác định vị trí giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế.
- Tham gia ĐGN quốc tế nhằm xem xét độ tin cậy của ĐGT; góp phần điều
chỉnh ĐGT.
- Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ đánh giá.
- Điều kiện để đổi mới PPDH, KTĐG góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
- Là bước chuẩn bị cho việc đổi mới chương trình - sách giáo khoa sau 2015.
1.3.3.2. Khó khăn và thách thức [16, tr. 17-21]
- Nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của ĐG trong quá trình giáo dục còn
khác nhau và hạn chế; độ tin cậy khác nhau khá nhiều giữa các địa phương; giữa
các cuộc đánh giá.
- Hình thức, nội dung, phương thức đánh giá còn đơn điệu, không đa dạng;
chưa chú trọng đến phân tích tất cả các khâu của quá trình đánh giá, tìm hiểu sâu
nguyên nhân, công bố công khai kết quả ĐG.
- Đối với HS: Khó khăn lớn nhất là: Nội dung, hình thức, cách thức đánh giá
PISA là mới và lạ; thay đổi một thói quen, nếp nghĩ không đơn giản.
- Đội ngũ chuyên gia về đánh giá trong giáo dục còn rất mỏng và tính chuyên
nghiệp không cao.
1.3.3.3. Các hoạt động chính của PISA 2012 [3] [37]
- Năm 2010: Đánh giá các câu hỏi thi PISA 2012 và thực hiện các công việc
liên quan đến chọn mẫu; tập huấn kĩ thuật.
- Năm 2011: Khảo sát thử nghiệm trên mẫu 40 trường x 35 HS/trường.
- Năm 2012: Khảo sát chính thức trên mẫu là 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành
phố.
1.3.3.4 Kết quả PISA 2012 của Việt Nam (04-12-2013) [35]
- Lĩnh vực Toán học là lĩnh vực trọng tâm của kỳ PISA 2012. Việt Nam
đến khoa học, những hiểu biết liên quan đến toàn cầu... Đây là những thách thức đối
với học sinh Việt Nam.