SỞ Y TẾ ĐĂK LĂK
BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN CƯKUIN
Chủ đề tài: Nguyễn Văn Tâm
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MỔ LẤY THAI TẠI KHOA PHỤ SẢN
BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN CƯKUIN TRONG 02 NĂM
( 2008-2009)
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CƠ SỞ CẤP I
Cưkuin,Tháng 1 năm 2010.
Chân thành cảm ơn
- Sở y tế Đăk Lăk.
- Giám đốc bệnh viện đa khoa huyện Cưkuin.
- Phòng kế hoạch nghiệp vụ.
- Khoa sản bệnh viện đa khoa huyện Cưkuin.
Đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp cho tôi trong quá trình nghiên cứu và
hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Xin được cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân của tôi đã động viên,
chia sẻ, giúp đỡ để tôi hoàn thành nhiệm vụ.
Cưkuin, tháng 12 năm 2010
Bs. Nguyễn Văn Tâm
1
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Tình hình mổ đẻ liên quan đến mổ lấy thai trong 02 năm ………17
Bảng 3.2. Tình hình mổ lấy thai năm (2008-2009)…………………………18
Bảng 3.3. Phân bố mổ lấy thai theo từng nhóm tuổi………………………..19
Bảng 4. Những chỉ định thuần túy mổ lấy thai nguyên nhân do thai……….20
Bảng 5. Những chỉ định thuần túy do nguyên nhân người mẹ……………..21
Bảng 6. Những chỉ định thuần túy nguyên nhân khác………………………23
Bảng 7. Những chỉ định do nguyên nhân phần phụ…………………………24
Bảng 8. Bảng so sánh giữa các tác giả khác: Chỉ định mổ lấy thai………….25
4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1. Tỉ lệ mổ lấy thai trên tổng số ca đẻ…………………………17
Biểu đồ 3.2. Tỉ lệ mổ lấy thai giữa con so và con rạ……………………..18
Biểu đồ 3.3. Tỉ lệ mổ lấy thai theo nhóm tuổi……………………………19
Biểu đồ 3.4. Tỉ lệ mổ lấy thai do nguyên nhân thai………………………20
Biểu đồ 3.5. Tỉ lệ mổ lấy thai do nguyên nhân người mẹ………………..21
Biểu đồ 3.6. Tỉ lệ mổ lấy thai do các nguyên nhân khác…………………23
Biểu đồ 3.7. Tỉ lệ mổ lấy thai do nguyên nhân phần phụ………………...24
5
2- Tìm hiểu mổ lấy thai tuổi người mẹ, những chỉ định có yếu tố xã
hội, nghề nghiệp, những nhóm chỉ định mổ lấy thai và các
nguyên nhân.
3- Qua đó đề xuất ý kiến về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản,
sinh đẻ có kế hoạch nhằm hạn chế tỷ lệ tử vong mẹ và con sau
sinh.
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1. Lịch sử phát triển của mổ lấy thai.
1.1. Phẫu thuật lấy thai trên người mẹ mới chết.
Nhà sản khoa Hermes là một trong những thầy thuốc đầu tiên được ghi
vào lịch sử phẫu thuật lấy thai, sách ghi chép đầu tiên vào thế kỷ XIV. Năm
1363, Guy de Cauliac xuất bản cuốn sách nói về phẫu thuật lấy thai đầu tiên
là cuốn phẫu thuật mô tả phương pháp “ Kéo thai ra trên người mẹ đã chết”.
Tỷ lệ tử vong thai nhi sau phẫu thuật người mẹ đã chết khá cao. Đầu
thế kỷ XIV ở Anh có 331 ca mổ nhưng chỉ cứu được 147 thai nhi. Ở Pháp
năm 1837 đã phẫu thuật 49 trường hợp nhưng cứu được 07 thai nhi. Tuy
nhiên tỷ lệ sống thai nhi càng ngày càng tăng dần theo thời gian. Năm 1879 ở
Anh 188 ca còn sống trên 269 trường hợp phẫu thuật.
Trong các y văn của các tác giả Anh và Pháp đúc kết rằng tỷ lệ thai
sống sót phụ thuộc vào thời điểm phẫu thuật. Thời điểm tối đa để cứu con
khoảng 4-6 phút kể từ khi bà mẹ chết. Tế bào của thai nhi và mẹ sẽ chết nếu
không được cấp máu sau thời điểm này.
1.2. Phẫu thuật lấy thai trên người mẹ sống.
- Năm 999 sau Công nguyên Fidausi đã hoàn thành cuốn Fah-Nameh
Y Hà nội năm 1901. Các Giáo sư, bác sĩ đầu ngành sản phụ khoa Pháp- Việt
đã tiến hành ca mổ đẻ đầu tiên tại Bệnh viện Phủ Doãn, bệnh viện Bạch Mai
Hà nội và bệnh viện Phụ Sản Trung Ương.
Thời kỳ đầu, phẫu thuật lấy thai phần nhiều chỉ áp dụng khi thai nhi
còn sống, đó là cách mổ lấy thai qua đường bụng, nếu thai chết nguyên tắc
chung thường lấy thai qua đường âm đạo, trừ những biến chứng( Vỡ tử cung,
nhau tiền đạo..)
9
Trong những năm 1925-1930, người ta chỉ cho phép mổ lấy thai khi
còn ối, hoặc ối mới vỡ, sau năm 1945 các Bác sĩ đã có thể mổ lấy thai không
sợ nhiễm trùng nếu ối vỡ trên 6 tiếng, tuy nhiên tỷ lệ tử vong của mẹ còn cao
từ 0.5-4%.
Ngày nay tỷ lệ mổ lấy thai: Bệnh viện Phụ sản Trung Ương
36.24%(2001), Bệnh Viện Phụ Sản Từ Dũ 15%(2000), Bệnh viện Đa khoa
Đăk Lăk 31.7%, Bệnh viện Đa Khoa Khánh hòa 29.16% (1999-2003) và xu
hướng ngày nay càng tăng.
1.4. Những tiến bộ nhằm giảm những tai biến trong phẫu thuật mổ lấy
thai.
Trước thời điểm Pleming Washman tìm ra kháng sinh nhất là giai đoạn
đầu áp dụng mổ lấy thai ở thế kỷ trước, sự hiểu biết về nhiễm trùng còn mơ
hồ, kỹ thuật vô trùng chưa được áp dụng triệt để nên những tai biến trong
phẫu thuật lấy thai còn rất cao.
Năm 1769 Joseph Covallini ở Flirence nêu ý kiến phẫu thuật cắt tử
cung sau khi mổ lấy thai và đã được nhiều người ủng hộ, Các tác giả đã làm
thử nghiệm trên súc vật, cho đến năm 1869 Holalio Stofrer thực hiện thành
công đầu tiên phẫu thuật lấy thai tiếp theo cắt tử cung bán phần nhưng khâu
mép tử cung vào thành bụng và kỹ thuật Prorro này được xem là cách chống
thai là một phương pháp an toàn, thực sự yên tâm về tính mạng của mình và
con mình cũng đã trở thành điều mong ước thực tế của nhiều người mẹ.
Vì vậy chỉ định phẫu thuật lấy thai ngày càng mở rộng làm cho tỷ lệ
phẫu thuật lấy thai gia tăng ở tất cả các nước trên thế giới. Chỉ trong hai thập
kỷ cuối của thế kỷ XX tỷ lệ phẫu thuật lấy thai tăng từ 0.4-5% lên đến 2028%.
11
1.5. Mổ lấy thai ở bệnh viện huyện CưKuin.
Triển khai mổ lấy thai năm 1988 trong 2 năm 2008-2009 đã mổ lấy thai
được 139 ca.
2. Chỉ định phẫu thuật lấy thai.
2.1. Những đặc điểm chỉ định mổ lấy thai.
Chỉ định phẫu thuật lấy thai phụ thuộc vào nhiều yếu tố kết hợp: Bệnh
lý sản khoa, tâm sinh lý người mẹ, gia đình và xã hội; Tiền sử sản phụ khoa
hay Nội , Ngoại khoa...khác với chỉ định của ngoại khoa hầu hết dự vào yếu
tố bệnh lý.
Chỉ định phẫu thuật lấy thai thay đổi phụ thuộc vào các trường phái,
vào từng thầy thuốc, từng địa phương, từng nước và từng giai đoạn phát triển
xã hội. Sự thay đổi khác nhau này thường nằm trong phạm vi chỉ định phối
hợp hay còn gọi là chỉ định tương đối.
Sự ra đời và hoàn thiện kỹ thuật vô khuẩn, tiệt khuẩn, kỹ thuật gây mê
hồi sức và cải tiến kỹ thuật đã làm cho tỷ lệ tử vong do phẫu thuật lấy thai
giảm, cho nên chỉ định phẫu thuật lấy thai có chiều hướng mở rộng kéo theo
tỷ lệ mổ lấy thai ngày càng gia tăng nhất là mổ lấy thai cho bà mẹ đẻ con so.
Ngoài ra, cần phải nói đến tâm lý của người thầy thuốc sản khoa chịu
tác động của xã hội, tạo cho thầy thuốc có xu hướng tác động nhiều hơn.
2.2. Những chỉ định chính phẫu thuật mổ lấy thai.
Chỉ định phẫu thuật lấy thai liên quan đến nhiều nguyên nhân, nhiều
sinh dục người mẹ ( Tử cung, cổ tử cung, khung chậu, âm hộ, âm đạo).
Âm hộ, âm đạo, tầng sinh môn bất thường: Do bàng quang- âm đạo,
sẹo ở tầng sinh môn rắn, âm hộ, âm đạo có vách ngăn.
Cổ tử cung xóa mở khó khăn hoặc không xóa mở.
Thân tử cung có những đặc điểm bất thường: Dị tật bẩm sinh ở thân tử
cung, khối u ở đoạn dưới tử cung, sẹo phẫu thuật trên thân tử cung, rối loạn
cơn co tử cung...
13
Bất tương xứng giữa đầu thai nhi và khung chậu: Đầu thai nhi bình
thường- khung chậu hẹp, Khung chậu bình thường- đầu thai nhi to.
Khung chậu bất thường: Khung chậu hẹp, méo, khung chậu lệch do tổn
thương cũ như gãy vỡ khung chậu, gãy xương đùi...
- Những chỉ định phẫu thuật mổ lấy thai do bệnh lý người mẹ:
Có thể là bệnh lý mãn tính hay cấp tính, sẵn có hay mắc phải trong thai
kỳ nhưng có một số hay gặp sau đây:
- Rối loạn cao huyết áp trong thai kỳ.
- Bệnh tim: Có thai làm cho bệnh tim nặng lên nhiều đặc biệt trong 3
tháng cuối của thai kỳ và trong chuyển dạ có thể làm tử vong mẹ.
- Bệnh thận: Thường liên quan đến cao huyết áp và dể gây thai kém
phát triển và thai chết lưu.
- Bệnh lao phổi: Thường nặng lên trong quá trình mang thai.
- Bệnh đái đường: Thường con to và dể gây tai biến suy thai.
- Các bệnh Ung thư đường sinh dục: Hay gặp ung thư cổ tử cung,
Choriocarcinoma.
2.2.5 Những chỉ định phẫu thuật mổ lấy thai phối hợp.
Chỉ định phẫu thuật mổ lấy thai phối hợp(hay còn gọi chỉ định lấy thai
tương đối) có nghĩa là dựa vào nhiều yếu tố khác nhau nhưng nếu tách riêng
1. Đối tượng nghiên cứu
139 hồ sơ bệnh án mổ lấy thai tại bệnh viện đa khoa CưKuin năm 2008
– 2009.
2. Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu 139 hồ sơ mổ lấy thai tại Khoa sản Bệnh viện Đa khoa CưKuin
được lưu trữ tại Phòng KHNV.
3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 03 đến tháng 12 năm 2010
4. Phân tích và xử lý số liệu
Theo phương pháp “Thống kê Y học” bằng phần mềm EPI-INFO 6.04.
Sử dụng các thuật toán thống kê: Test (phép kiểm toán Student) để kiểm định
kết quả và so sánh sự khác biệt với P < 0,05.
- Tính % mang tính chất thông báo.
- Kết luận dựa vào độ tin cậy.
Lấy 139 bộ hồ sơ bệnh án phẫu thuật mổ lấy thai lưu trữ tại phòng kế
hoạch nghiệp vụ cung cấp.
16
CHƯƠNG 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu
Bảng 3.1. Tình hình mổ đẻ liên quan đến mổ lấy thai trong 02 năm
(2008-2009). Trong đó dân tộc kinh chiếm 80 ca, dân tộc thiểu số: 59 ca.
Năm
Tổng số ca đẻ
11.5
10,89%
11
10,38%
10.5
10
9.5
Biểu đồ 3.1. Tỉ lệ mổ lấy thai trên tổng số ca đẻ
Nhận xét:
- Theo bảng 3.1 và biểu đồ 3.1 chúng tôi thấy tỷ lệ mổ đẻ trong hai năm
2008 – 2009 tại bệnh viện Cưkuin là 10,89%.
- Tỷ lệ mổ lấy thai trong hai năm qua thấp so với các tác giả khác ở
tuyến tỉnh tương đương là 30%.
17
Bảng 3.2. Tình hình mổ lấy thai năm (2008-2009)
Con so
Mổ đẻ
Con rạ
Tổng cộng
Tổng số
Tỷ lệ %
10
0
Biểu đồ 3.2. Tỉ lệ mổ lấy thai giữa con so và con rạ
Nhận xét:
- Theo bảng 3.2 và biểu đồ 3.2 tỷ lệ mổ con so (59,72%) cao hơn
tỷ lệ mổ con rạ (40,28%).
18
Bảng 3.3. Phân bố mổ lấy thai theo từng nhóm tuổi
Tuổi
7,2%
3,6
10
0
Biểu đồ 3.3. Tỉ lệ mổ lấy thai theo nhóm tuổi
Nhận xét:
- Theo bảng 3.3 và biểu đồ 3.3 tỷ lệ mổ lấy thai ở nhóm tuổi dưới
20 là 7,20%, cao nhất là nhóm tuổi từ 20 – 30 là 60,59%, nhóm tuổi 30 – 40
là 26,61%, thấp nhất ở nhóm tuổi dưới 45 là 3,6% .
- Điều này cũng phù hợp với các tác giả khác ở bệnh viện tỉnh
Đăk Lăk và bệnh viện Khánh Hòa.
- Nhóm tuổi 20 – 30 đang sinh đẻ nên chiếm tỷ lệ cao nhất
60,59%.
19
Bảng 4. Những chỉ định thuần túy mổ lấy thai nguyên nhân do thai
Chỉ định
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
Ngôi bất thường
10
7,20
Sa chi
01
0,72
Tổng cộng
40
28,78
8
7,20%
7,20%
7,20%
7
5,74%
6
5
4
3
1. Do khung chậu
-Khung chậu hẹp hoàn toàn
13
9,35
-Khung chậu lệch
02
1,44
-Khung chậu giới hạn
14
10,07
-Tử cung có vết mổ cũ
11
7,91
-Tử cung dị dạng
01
0,72
03
2,16
11. Thai già tháng
01
0,72
Tổng cộng
99
71,22
2. Do tử cung
-Dọa vỡ tử cung, cơn gocường tính
4.Mẹ mắc bệnh tim
5. Nhiễm độc thai nghén
6. Sản giật
10. Mẹ mắc các bệnh khác
21
0
Biểu đồ 3.5. Tỉ lệ mổ lấy thai do nguyên nhân người mẹ
Nhận xét:
- ở bảng 3.5 và biểu đồ 3.5 nhóm chỉ định mổ lấy thai do khung
chậu là 20,86%. Do tử cung 35,25%. Do nhau tiền đạo, tiền sử sức khỏe nặng
nề và thai già tháng là 0,72%. Nhiễm độc thai nghén là 1,44%. Con so lớn
tuổi là 9,35%. Mẹ thấp bé nhẹ cân là 2,16%.
- Tỉ lệ tử cung có vết mổ cũ là 7,91%.
- Do khung chậu là 20,86%.
- Chỉ định các nhóm khác là 42,45%
22
Bảng 3.6. Những chỉ định thuần túy nguyên nhân khác.
Chỉ định
Mổ lấy
Tổng số
Tỷ lệ
Ghi
thai
%
2,88
2,16%
2
1.5
0,72%
1
0.5
0
Biểu đồ 3.6. Tỉ lệ mổ lấy thai do các nguyên nhân khác
Nhận xét:
- Những nguyên nhân khác chiếm tỉ lệ 2,88%
- Tỉ lệ này thấp hơn so với các tác giả khác.
23
Bảng 3.7. Những chỉ định do nguyên nhân phần phụ
Chỉ định
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
Nhau tiền đạo
01
0
Tổng cộng
46
100
76,08%
80
70
60
50
40
21,74%
30
20
2,18%
10
0
Biểu đồ 3.7. Tỉ lệ mổ lấy thai do nguyên nhân phần phụ
Nhận xét:
- Nguyên nhân do nhau tiền đạo là 2,18%.
- Cạn ối, thiểu ối là 21,74%
- Ối vỡ non là 76,08%