BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
------------------
TRẦN MINH MẪN
TÁC ĐỘNG CỦA BỆNH TRUYỀN NHIỄM
ĐẾN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI Ở
CÁC QUỐC GIA THU NHẬP TRUNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
------------------
TRẦN MINH MẪN
TÁC ĐỘNG CỦA BỆNH TRUYỀN NHIỄM
ĐẾN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI Ở
CÁC QUỐC GIA THU NHẬP TRUNG BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HOÀNG BẢO
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Chƣơng 3 – PHƢƠNG PHÁP LUẬN ................................................................ 18
3.1. Lập luận mô hình kinh tế học ......................................................................... 18
3.2. Vận dụng mô hình kinh tế lượng ....................................................................21
3.3. Lập luận về nhận diện ngoại tác ......................................................................29
3.4. Mô tả nguồn gốc dữ liệu .................................................................................31
Chƣơng 4 – ƢỚC LƢỢNG HỒI QUY ............................................................. 36
4.1. Thống kê mô tả dữ liệu .................................................................................. 36
4.2. Kiểm định tương quan cặp biến ..................................................................... 40
4.3. Mô hình hồi quy và các kiểm định cơ bản ..................................................... 42
4.4. Mô hình hồi quy dạng Robust ........................................................................ 52
Nhận xét chung cho bốn mô hình Robust ………………………………….. ............. 53
Nhận xét tác động riêng phần trong mô hình RobustTB ............................. ......... 55
Chƣơng 5 – KẾT LUẬN ..................................................................................... 59
5.1. Phát hiện của nghiên cứu ............................................................................... 59
5.2. Hạn chế của nghiên cứu ..................................................................................60
5.3. Đề suất các nghiên cứu liên quan hoặc phái sinh .......................................... 62
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT
AIDS:
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired Immune Deficiency
Syndrome)
FDI:
PPP:
Đồng mãi lực (sức mua tương đương) (Purchasing Power Parity)
SARS:
Hội chứng suy hô hấp cấp tính nghiêm trọng (Severe Acute Respiratory
Syndrome)
TB:
Bệnh lao (Tuberculosis)
TFP:
Năng suất tổng nhân tố (Total Factor Productivity)
UNCTAD: Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (United Nations
Conference on Trade and Development)
USD:
Mỹ kim (United States Dollar)
WB:
Ngân hàng Thế giới (World Bank)
WHO:
từ 54 quốc gia và lãnh thổ thuộc nhóm có thu nhập trung bình theo danh sách phân
loại bởi Ngân Hàng Thế Giới trong giai đoạn 1993-2013. Phát hiện chính của tác
giả theo phương pháp hồi quy robust là tỷ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễm gây ảnh
hưởng tiêu cực và có ý nghĩa thống kê đến dòng vốn FDI ròng ở các nền kinh tế có
thu nhập trung bình. Ước tính của nghiên cứu cho thấy, khi các yếu tố khác không
thay đổi, việc giảm một phần trăm tử suất bệnh lao trên 100.000 người có thể mang
lại kỳ vọng tăng dòng vốn FDI ròng hằng năm lên khoảng 0,11% vào năm tiếp theo.
Phát hiện này là bằng chứng thực nghiệm phù hợp để minh họa rằng bệnh tật và sức
khỏe tạo ra ngoại tác xuyên biên giới trên sự chuyển dịch của dòng vốn quốc tế.
Mặt khác, nghiên cứu phát hiện các quốc gia nhóm thu nhập trung bình không
phải là địa chỉ ưu tiên của FDI so với phần còn lại của thế giới. Kết quả ước lượng
cũng cung cấp bằng chứng cho thấy xung đột vũ trang có ảnh hưởng tiêu cực đến
đầu tư nước ngoài.
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, bệnh lao, bệnh sốt rét, AIDS, ngoại tác.
Phân loại của JEL: D62, F21, I15
1
Chƣơng 1: DẪN NHẬP
Thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) cho thấy rằng, trong vòng 20
năm qua, số lượng ca bệnh và tử suất của các bệnh truyền nhiễm phổ biến đang đi
theo xu hướng tụt giảm. Mặt khác, trong cùng giai đoạn thời gian này, dữ liệu của
Ngân Hàng Thế Giới (WB) phản ảnh xu hướng gia tăng ngày càng nhiều hơn của
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở phạm vi toàn cầu. Báo cáo của Ủy ban Kinh
tế vĩ mô và Y tế từng khẳng định: “một lực lượng lao động lành mạnh là quan trọng
để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài” (Alsan, Bloom và Canning, 2006). Những
dữ liệu này được thống kê ở những lĩnh vực riêng biệt theo cách phân loại chuyên
ngành phổ biến trong điều tra và nghiên cứu kinh tế xã hội, và thông thường, dòng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu tác động của các nhân tố kinh tế thuần tuy. Tuy
bệnh truyền nhiễm đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, và điều đó được diễn
giải dưới dạng câu hỏi nghiên cứu như sau:
(i) Liệu rằng một nền kinh tế nhóm thu nhập trung bình nếu thành công trong nỗ
lực hạ thấp tử suất bệnh lao (TB) có được coi là động lực để thu hút thêm
dòng FDI hay không ?
(ii) Có phải dòng FDI đang xem kết quả kiềm hãm bệnh sốt rét như một chỉ báo
để quyết định gia tăng dòng chảy vào một quốc gia ?
(iii) Việc hạn chế tử suất của AIDS đồng nhiễm bệnh lao có giúp một địa phương
nhận được thêm nhiều hơn FDI ?
Có một số kênh giải thích cơ chế hình thành của mối quan hệ này, và phân tích
sự tương quan sẽ được nhìn dưới hai góc độ, ở cả biến độc lập và biến phụ thuộc.
Trên góc nhìn từ FDI, khả năng kiềm chế bệnh truyền nhiễm được xem như hỗ trợ
cho thành phần của vốn nhân lực, và điều này coi như một yếu tố nhập lượng của
đầu tư. Mặt khác, ở góc nhìn từ bệnh truyền nhiễm, thì tác động đến FDI được xem
như sự hiện tượng ngoại tác, mà theo đó đầu tư như là một phần của cầu xã hội, bên
cạnh cầu cá nhân là cầu riêng của thị trường kiểm soát bệnh truyền nhiễm.
Trong quá trình tìm kiếm câu trả lời cho các mục tiêu như đã nói trên, nghiên
cứu phải đối mặt với một số thách thức. Thứ nhất, sự hạn chế về các nghiên cứu
liên quan đến mối quan hệ giữa hai khái niệm này làm cho việc tham khảo các tài
3
liệu gặp nhiều khó khăn về cả phương pháp lẫn dữ liệu. Tác giả phải khắc phục trở
ngại khách quan này phần lớn thông qua tìm kiếm mối quan hệ kinh tế bắc cầu thay
cho việc tổng quan các nghiên cứu tương quan trực tiếp giữa hai yếu tố. Thứ hai,
phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các quốc gia nhóm thu nhập trung bình thường
không phong phú và đầy đủ về dữ liệu ở cả chiều dài và tính liên tục. Theo đó,
không giống như ở các quốc gia phát triển, dữ liệu không thể được thu thập từ tất cả
các quốc gia và lãnh thổ trong nhóm nghiên cứu và có nhiều trường hợp gặp phải sự
USD vào năm 1998 đến 22.812,7 tỷ trong năm 2012 (UNCTAD, 2013). Thu hút
FDI là chiến lược của hầu hết các quốc gia ở tất cả các giai đoạn phát triển, đặc biệt
đối với các nền kinh tế thuộc nhóm thu nhập trung bình (Desbordes và Azémar,
2008). Cách lập luận hợp lý là các quốc gia đang phát triển có tỷ lệ tiết kiệm và mức
thu nhập thấp nên cần dựa vào ngoại lực (Alsan, Bloom và Canning, 2006). FDI
càng ngày càng mang tính đại diện cho nguồn vốn lớn nhất chảy vào các nước đang
phát triển, vượt qua hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư danh mục (portfolio
investment) và các khoản vay ngân hàng (Alsan, Bloom và Canning, 2006;
Miyamoto, 2003).
Bên cạnh thuộc tính cung cấp vốn rất cần thiết cho nhu cầu phát triển, đối với
các nền kinh tế thuộc nhóm thu nhập trung bình, FDI còn bao gồm theo nó là chức
năng giúp mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp và theo đó tạo điều kiện thuận
lợi cho việc chuyển giao công nghệ (Krugman, Obstfeld và Melitz, 2011; Alsan,
Bloom và Canning, 2006). FDI cũng có thể giúp tăng thuế doanh thu cho các nền
kinh tế nhận vốn và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp quốc nội thông qua
hiệu ứng lan tỏa (Alsan, Bloom và Canning, 2006; Loungani và Razin, 2001). Lợi
ích tiềm năng FDI đã được công bố rộng rãi, bao gồm cơ hội cho các nền kinh tế
nhận vốn được tham gia vào nhiều công đoạn sản xuất trong chuỗi cung ứng toàn
cầu (Antràs và Helpman, 2004).
Trên cách nhìn tổng quát, dòng vốn FDI hiện nay được phân bố không đều
(Desbordes và Azémar, 2008; Antràs và Helpman, 2004). Các nền kinh tế công
nghiệp hóa là điểm đến có khả năng nhất của FDI; và một số nước đang phát triển
nhận dòng vốn lớn nhiều hơn hẳn so với những nền kinh tế khác (Alsan, Bloom và
5
Canning, 2006). Dẫn chứng rõ rệt nhất là các nước Châu Phi hạ Sahara, nơi đặc biệt
đang phải vật lộn một cách khó khăn để thu hút dòng vốn từ các nhà đầu tư nước
ngoài (Desbordes và Azémar, 2008). Nhìn chung, có thể nói rằng các quốc gia đang
động cơ thông qua bằng chứng thực nghiệm để xác định xem tình trạng sức khỏe có
tác động khuyến khích các dòng vốn FDI hay không. Theo cách hiểu thông thường
thì khái niệm sức khỏe và bệnh truyền nhiễm có liên quan với nhau. Với những lý
thuyết chúng ta có được ngày hôm nay, sức khỏe có thể được xem như là một hình
thức phái sinh của nguồn vốn nhân lực, và hàm sản xuất Cobb-Douglas là nền tảng
cơ bản nhất để phân tích. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu này còn nhìn mối liên kết
giữa bệnh truyền nhiễm và đầu tư trực tiếp nước ngoài theo giả định rằng đây là một
trường hợp hiện diện của ngoại tác và có thể giải thích thông qua lý thuyết đó.
2.2.
Tác động của sức khỏe lên phát triển và đầu tƣ
Sức khỏe có thể được xem như là nội dung quan trọng của vốn nhân lực, và nó
giúp tăng cường sức mạnh cho nền kinh tế ở góc độ các cá nhân lẫn góc độ kinh tế
(Bloom, Canning và Sevilla, 2004). Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sức
khỏe dân cư, hay nói cụ thể là y tế, trở thành yếu tố dự báo chính xác cho tăng
trưởng thu nhập bình quân đầu người (Desbordes và Azémar, 2008; Alsan, Bloom
và Canning, 2006; Bloom, Canning, và Sevilla, 2004; Barro và cộng sự, 1991). Tuy
nhiên, đang có sự khác biệt giữa các quốc gia trong mức độ hưởng lợi ích từ việc
cải thiện sức khỏe dân cư, và sự tăng trưởng kinh tế nhờ vào điều này được thể hiện
rõ nét ở các nền kinh tế đang phát triển hơn so với các quốc gia thuộc nhóm thu
nhập cao (Alsan, Bloom và Canning, 2006).
Y tế có thể ảnh hưởng đến hiệu suất kinh tế thông qua các cơ chế tác động cả
trực tiếp và gián tiếp (Alsan, Bloom và Canning, 2006). Một quốc gia có được nền
y tế tốt có thể sẽ gián tiếp cải thiện tuổi thọ tương lai của người lao động. Một khi
xã hội có tuổi thọ bình quân tăng lên, như trường hợp ở Nhật và Ý chẳng hạn, có
thể dẫn đến nhu cầu cần thiết phải tích lũy tiền tiết kiệm để dành cho thời gian hưu
trí, từ đó dẫn đến xã hội có thêm nguồn vốn tạo nên sự bùng nổ đầu tư (Bloom,
Canning và Graham, 2003). Về mặt tác động trực tiếp, cách lập luận hợp lý là nếu
người lao động trong trạng thái mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh thần sẽ có năng suất
cập vào hệ chăm sóc sức khỏe công cộng (Desbordes và Azémar, 2008; Alsan,
Bloom và Canning, 2006).
8
Một ví dụ cổ điển cho thấy bệnh dịch can thiệp vào các quyết định đầu tư, điều
đã xảy ra trong quá trình xây dựng kênh đào Panama vào thế kỷ XIX. Khi đó, bệnh
sốt vàng da (yellow fever) và các tác nhân gây bệnh đã cướp đi sinh mạng của
10.000-20.000 người lao động trong thời gian 1882-1888, buộc Ferdinand de
Lesseps1 và người Pháp phải từ bỏ dự án xây dựng (Alsan, Bloom và Canning,
2006). Cách đây hơn một thập niên, hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS) làm 774
người tử vong (WHO, 2004), đã làm dấy lên mối lo ngại rằng nếu bùng phát thêm
một đợt dịch bệnh truyền nhiễm nữa có thể làm suy yếu hội nhập kinh tế toàn cầu.
Các nghiên cứu thực nghiệm nhận thấy ảnh hưởng của bệnh truyền nhiễm đối
với nền kinh tế được còn biểu hiện một cách dài hạn và ở tầm mức sâu xa hơn các
tính toán lợi ích đơn thuần của một dòng vốn đầu tư trong một thời kỳ cụ thể. Đối
với một nền kinh tế, đại dịch AIDS đã gây ảnh hưởng lên việc tích lũy nguồn vốn
nhân lực và làm giảm tăng trưởng của cải xã hội do nó dẫn đến việc tạo ra rất nhiều
trẻ em mồ côi (Corrigan, Glomm và Mendez, 2005). Điều này được giải thích rằng,
khi người lớn phải đối mặt với tử vong sớm vì AIDS thì hình thành số lượng lớn
của một thế hệ trẻ có nguy cơ bị mồ côi, dẫn đến thời gian đầu tư vào việc học hành
sẽ bị giảm đi, và điều đó làm giảm tiềm năng cho tăng trưởng kinh tế trong tương
lai (Ferreira và Pessóa, 2003). Bởi vì thông thường sau cái chết của cha mẹ, trẻ em
mồ côi phải từ bỏ việc học để dùng thời gian đi làm nhằm bổ sung cho thu nhập của
gia đình. Hơn nữa, trong thời gian cha mẹ của chúng đã nhiễm HIV nhưng vẫn còn
sống, thì yêu cầu cần chi tiêu thêm cả về thời gian lẫn tài chính cho hoạt động chăm
sóc bệnh nhân AIDS chắc hẳn sẽ dẫn đến gia đình còn lại ít nguồn lực sẵn có để đầu
tư cho học hành và cho các khoản tiết kiệm hay tiêu dùng khác (Corrigan, Glomm
và Mendez, 2005).
bệnh sốt rét được giới hạn trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Điều này
nói lên rằng bệnh sốt rét không phải là một hệ quả trực tiếp của đói nghèo, mà phạm
vi và mức độ nghiêm trọng của nó được quyết định chủ yếu bởi điều kiện khí hậu
và sinh thái. Một số quốc gia có thu nhập rất cao vẫn còn phải đối mặt với vấn đề
bệnh sốt rét nghiêm trọng do vị trí địa lý của họ, ví dụ như Oman, với thu nhập bình
2
Thomas Huckle Weller (1915–2008): Bác sĩ và nhà vi trùng học người Mỹ, đồng đoạt giải Nobel về Y-
Sinh năm 1954 do công trình cấy thành công virus bại liệt trong mô ghép, tiền đề cho việc nghiên cứu virus
trong ống nghiệm. Ông có nhiều nghiên cứu về phòng chống bệnh truyền nhiễm. Theo Encyclopædia
Britannica.
10
quân đầu người gần 10.000 USD vào thập niên 90 của thế kỷ trước, đã có bệnh sốt
rét lan tràn toàn quốc, ngoại trừ vùng sâu vùng xa trong sa mạc.
Gallup và Sachs (2001) phân tích hồi quy với dữ liệu đa quốc gia cho giai
đoạn 1965-1990 và xác nhận có mối quan hệ giữa bệnh sốt rét và tăng trưởng kinh
tế. Tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia có bệnh sốt rét nặng
trong giai đoạn này là 0,4% mỗi năm, trong khi tốc độ tăng trưởng trung bình của
các quốc gia khác được 2,3%, nghĩa là cao hơn gấp năm lần. Hơn một phần ba
trong số những quốc gia có bệnh sốt rét nặng đã tăng trưởng âm trong thời kỳ này.
Mặt khác, nếu một quốc gia giảm đi được 10% số người bệnh sốt rét thì nền kinh tế
theo đó sẽ tăng trưởng thêm 0,3% nữa. Cũng trong nghiên cứu này, kết quả cho hệ
số còn lớn lớn hơn nữa trong giai đoạn 1980-1996, nhưng với đo lường sốt rét theo
cách khác.
Cơ chế giải thích sốt rét là nguyên nhân dẫn đến sự đói nghèo là bởi vì bệnh
trường hợp được phát hiện lại ở các nước nghèo. Nếu như bệnh sốt rét không có
nguyên nhân từ đói nghèo mà lại phụ thuộc vào vị trí địa lý nơi các loài muỗi truyền
bệnh dễ dàng phát triển (Corrigan, Glomm và Mendez, 2003), bệnh lao xuất phát từ
sự quản trị tổng thể xã hội yếu kém, là một dấu hiệu của trình độ phát triển nói
chung (Grimard và Harling, 2004), dẫn đến điều kiện vệ sinh yếu kém của cơ sở hạ
tầng vật chất. Lập luận của Grimard và Harling (2004) về mối tương quan giữa lao
và tăng trưởng kinh tế rằng, có lý do để hy vọng sự gia tăng thu nhập bình quân có
thể làm giảm số người mắc bệnh lao ngoài hành động điều trị trực tiếp căn bệnh
này. Ở chiều tác động ngược lại, kết quả hồi quy của hai tác giả năm 2004 trên quan
sát ở 91 quốc gia phát hiện rằng nếu giảm đi 10% tỷ lệ trung bình của bệnh lao sẽ
mang lại tăng trưởng kinh tế 0,4% mỗi năm.
Đồng thời, lao là căn bệnh có nguy cơ hàng đầu tấn công những bệnh nhân
AIDS (Grimard và Harling, 2004), nghĩa là bệnh lao làm tăng thêm tính tác động
của AIDS đến kinh tế xã hội. Theo uớc tính của Corbett và cộng sự (2002), có 9%
các trường hợp nhiễm lao phổi ở người trưởng thành và 13% tử vong vì bệnh lao là
do đồng nhiễm với HIV.
12
Nhìn chung, một số bệnh truyền nhiễm có thể ảnh hưởng đáng kể đến năng
suất làm việc và thời gian cống hiến cho công việc của người lao động, trong khi
việc cải thiện hạ tầng y tế để ngăn chặn bệnh dịch sẽ đem lại kết quả tích cực cho
chất lượng nguồn nhân lực. Rõ ràng từ đó, triển vọng tăng trưởng kinh tế và năng
suất lao động sẽ làm cho một đất nước hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài
(Borensztein, Gregorio, và Lee, 1998).
Hiện vẫn chưa tìm thấy nghiên cứu nào phân tích tác động trực tiếp của bệnh
dịch tả đến dòng FDI hay đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nhìn vào các
báo cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (2013, 2012, 2011) đều thấy dịch tả là bệnh
truyền nhiễm phổ biến thứ ba sau bệnh sốt rét và bệnh lao ở các nền kinh tế đang
(ký hiệu của FDI là I) tùy thuộc vào khả năng hấp thụ của quốc gia nhận vốn S. Khi
đó, hàm chi phí đầu tư bình phương hiệu chỉnh của địa phương theo biến FDI có
công thức như sau:
C(I) = pk
0
(
ζI2
I+
2S
)
Trong đó, pk0 ngụ ý rằng chi phí vốn tại địa phương, với ký hiệu 0 giả định về
tính đồng nhất giữa các quốc gia; ζ thể hiện hệ số của FDI biên; trong khi S tượng
trưng cho khả năng hấp thụ vốn đầu tư, với giả định có hệ số là 2.
Các tác giả đưa ra giả định rằng sự gia tăng FDI sẽ dẫn đến một số nguồn lực
ngày càng trở nên khan hiếm và điều đó sẽ làm tăng chi phí đầu tư (ζ có giá trị >0).
Cần nhấn mạnh rằng trong mô hình kinh tế này, FDI được tính là dòng FDI gộp
(gross FDI inflows), và nó thường sẽ không cân bằng với dòng FDI ròng (net FDI
inflows) của quốc gia nhận vốn, (ngoại trừ vào thời điểm quan sát, quốc gia đó hoàn
toàn không có bất kỳ FDI outflows nào).
Chi phí cực tiểu của vốn (ở địa phương) mà một công ty chuyển vốn FDI phải
đối mặt sẽ phụ thuộc vào tổng lượng FDI. Đó chính là đạo hàm theo I và có dạng
phương trình cụ thể như sau:
(
nằm trong mục đích nghiên cứu của tác giả.
Lập luận dựa trên tham khảo định lý Coase (Coase, 1960), nghiên cứu trình
bày biến thể đồ thị minh họa cho giả thuyết về sự hiện diện ngoại tác, điều xảy ra từ
hoạt động kiểm soát và giảm thiểu bệnh truyền nhiễm, và nó gây ảnh hưởng trên sự
dịch chuyển của dòng vốn đầu tư nước ngoài, với giả định rằng các tác nghiệp y tế
này có cơ chế vận hành mang đặc tính của thị trường cạnh tranh, không có chi phí
ngoại tác, và do đó chi phí xã hội bằng chi phí riêng của hai bên cung và cầu.
Trong Hình 2.1, trục hoành biểu thị mức độ kiểm soát bệnh truyền nhiễm, với
giả định là đơn vị tính được đo bằng chất lượng sức khỏe, theo đó ngụ ý càng đi về
phía bên phải của trục hoành thì môi trường sức khỏe y tế sẽ càng tốt hơn, đồng
nghĩa số ca bệnh hoặc tử suất bệnh truyền nhiễm được giảm thiểu hơn. Đường cung
S của thị trường này biểu thị chi phí của nhóm các đối tượng được trị bệnh (giả định
rằng gọi chung họ là bệnh nhân); đó là một đường dốc lên nhẹ bởi vì nhìn chung
hoạt động ngăn chặn bệnh dịch mang nặng yếu tố nhân đạo. Đường cầu D biểu thị
15
lợi ích riêng biên của việc kiểm soát bệnh truyền nhiễm đối với bệnh nhân; đó là
đường rất dốc ngụ ý nhu cầu cực kỳ cấp thiết đối với việc cứu chữa. Cung và cầu
của thị trường này sẽ gặp nhau tại lượng là Qd. Nhưng hoạt động kiểm soát bệnh
truyền nhiễm này lại tạo ra lợi ích cho các bên thứ ba, biểu thị bằng đường lợi ích
ngoại tác biên MEB. Do việc kiểm soát bệnh truyền nhiễm tạo ra giá trị lan tỏa rất
lớn trên mọi hoạt động kinh tế xã hội, lớn hơn nhiều so với lợi ích riêng của bệnh
nhân, nên đường MEB nằm bên phải của đường D. Cũng từ lập luận đó, đặc thù của
thị trường kiểm soát bệnh truyền nhiễm làm cho đường MEB sẽ ít dốc hơn đường
D, hàm ý rằng môi trường sức khỏe y tế càng được cung cấp nhiều hơn thì lợi ích
biên cho bên thứ ba càng lớn.
Hình 2.1. Ngoại tác tích cực của thị trường kiềm chế bệnh truyền nhiễm
Tổng quan các nghiên cứu gần đây cho thấy đang có xu hướng gia tăng sự
dịch chuyển dòng vốn đầu tư trên phạm vi toàn cầu, và sức khỏe y tế được xem là
một thành phần của vốn nhân lực. Một số nghiên cứu thực nghiệm xác định rằng
quy mô bệnh truyền nhiễm có quan hệ tỷ lệ nghịch với tăng trưởng kinh tế. Sự
tương quan giữa bệnh truyền nhiễm và đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được giải