ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong suốt quá trình đấu tranh chống lại bọn đế quốc, thực dân xâm lược nhân dân
ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí minh vĩ
đại đã anh dũng đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc. Cách mạng tháng tám thành
công đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nên dân chủ
cộng hòa. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính vì thế, Nguyên tắc nhân
dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính Nhà nước được xem là một
nguyên tắc quan trọng của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.
Để hiểu sâu hơn về nguyên tắc này cũng như sự vận dụng nguyên tắc này trong
thực tiễn quản lý hành chính Nhà nước hiện nay. Em xin lựa chọn đề tài số 03: “Phân
tích nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính Nhà
nước và đánh giá việc vận dụng nguyên tắc này trong quản lý hành chính Nhà nước
hiện nay”.
Trong quá trình làm bài em đã có nhiều cố gắng song do kiến thức về lĩnh vấn đề
này còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận
được sự nhận xét của các thầy cô trong tổ bộ môn để bài làm của em được hoàn thiện
hơn.
Em xin cảm ơn!
13
I.
Cơ sở lý luận.
1.
Khái niệm nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước.
cũng chịu sự chi phối của những điều kiện về chính trị, giai cấp và xã hội; hay nói cách
13
khác, các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước phản ánh bản chất giai cấp của
hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.
Thứ ba, các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước có tính ổn định. Do bản
thân các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước là sự phản ánh các quy luật
khách quan của quản lý hành chính Nhà nước nên tính ổn định của chúng trong từng
thời kỳ, từng giai đoạn được đảm bảo. Tuy vậy, tính ổn định đó chỉ có ý nghĩa tương
đối. Tính ổn định của các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước không loại bỏ
việc không ngừng đổi mới về nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện các nguyên
tắc để phù hợp với từng giai đoạn cụ thể.
Thứ tư, là các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước có mối liên hệ với
nhau và tạo thành một hệ thống nguyên tắc. Mỗi nguyên tắc trong quản lý hành chính
Nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những quy luật khách quan khác nhau trong quản
lý hành chính nhà nước. Vì vậy, có nhiều nguyên tắc khác nhau được đặt ra trong quản
lý hành chính Nhà nước. Những nguyên tắc này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo
thành một hệ thống thống nhất. Việc thực hiện tốt nguyên tắc này tạo tiền đề cho việc
thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc khác.
II.
Giải quyết vấn đề.
Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính
Nhà nước.
1.1. Cơ sở pháp lý.
Xuất phát từ bản chất Nhà nước Xã hội chủ nghĩa là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước của nhân dân được hiểu là, Nhà nước xã hội chủ
Các cơ quan trong Bộ máy nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước.
Vì vậy, tham gia vào các hoạt động của các cơ quan nhà nước là hình thức tham gia tích
cực, trực tiếp và có hiệu quả của nhân dân lao động vào hoạt động quản lý hành chính
nhà nước.
Thứ nhất, nhân dân lao động có thể tham gia vào các cơ quan quyền lực của Nhà
nước với tư cách là thành viên của cơ quan này, những người đại biểu được lựa chọn
thông qua con đường bầu cử. Nhân dân lao động có thể tham gia vào Quốc hội, Hội
đồng nhân dân là những cơ quan quyền lực của Nhà nước. Điều 83 Hiến pháp 1992 (đã
được sữa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất
của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội
quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động
của Bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực
hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Khi tham gia
vào cơ quan quyền lực Nhà nước, nhân dân lao động có trực tiếp xem xét, quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước; của từng địa phương trong đó các vấn đề quản lý
13
hành chính Nhà nước. Nhân dân lao động có đủ điều kiện do pháp luật quy định sẽ có
thể tham gia vào các cơ quan quyền lực của Nhà nước. Ví dụ: Điều 3 Luật bầu cử đại
biểu quốc hội quy định tiểu chuẩn của đại biểu Quốc hội: “1.Trung thành với tổ quốc
và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công
cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
2. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp
hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan lieu, hách dịch, cửa
quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật;
13
g.
Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển”.
Thứ ba, nhân dân lao động có thể tham gia gián tiếp vào các cơ quan Nhà nước
thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào
cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương. Điều 54 Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam
nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư
trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mốt tuổi trở lên có quyền
ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật”. Bầu cử vừa là
quyền chính trị cực kỳ quan trọng của công dân, nhờ quyền bầu cử mà các công dân có
thể lựa chọn những người ưu tú nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của
mình vào các cơ quan quyền lực của Nhà nước, giải quyết những vấn đề quan trọng
nhất của đất nước. Chính ở quyền này nhân dân lao động thực hiện được quyền lực của
mình, thực hiện quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của mình.
1.2.2. Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội.
Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân tổ chức Việt Nam có
chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ không vì lợi nhuận
nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà
nước, quản lý xã hội. Ví dụ: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt
Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,… Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi
để nhân dân lao động có thể tham gia một cách tích cực vào hoạt động của các tổ chức
xã hội. Điều 9 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Mặt trận
tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân
dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính
trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân,
cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân
tự thực hiện nó có mối liên quan chặt chẽ với các công việc khác của quản lý nhà nước,
quản lý xã hội. Các hoạt động tự quản ở cơ sở như: bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi
trường, tổ chức đời sống công cộng,… đều rất gần gủi và thiết thực đối với cuộc sống
của mỗi người dân. Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản mà người dân
lao động là những chủ thể tham gia tích cực, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý
xã hội của người dân mà pháp luật đã quy định thực sự được tôn trọng và bảo đảm thực
hiện.
1.2.4. Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành
chính Nhà nước.
Ngoài việc tham gia vào hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội,
các hoạt động tự quản thì việc nghiêm chỉnh thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
cũng là một hình thức tham gia vào quản lý hành chính Nhà nước của công dân. Điều
53 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định; “Công dân có
quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chúng của
cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ
13
chức trưng cầu ý dân”. Để thực hiện các quyền cơ bản này, pháp luật đã quy định
những quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý
hành chính Nhà nước. Ví dụ: Điều 74 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có
quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái
pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân hoặc bất cứ cá nhân nào”. Khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình công
dân đấu tranh chống những vi phạm pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể,
của công dân góp phần vào việc giám sát các hoạt động của cơ quan Nhà nước, làm
trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của Bộ máy Nhà nước.
1.3. Ý nghĩa của nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý
hành chính Nhà nước.
kiện thuận lợi để cho nhân dân lao động có thể tham gia tích cực vào hoạt động quản lý
hành chính Nhà nước. Để đảm bảo cho nhân dân lao động được tham gia vào quản lý
hành chính Nhà nước, Nhà nước ta đã ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp và các
Luật như: Luật bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ
chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, Luật khiếu nại, tố cáo, Luật thanh tra, Luật phòng chống
tham nhũng,…trong đó quy định cụ thể các điều kiện, hình thức, phương thức để nhân
dân tham gia vào hoạt động quản lý hành chính Nhà nước như việc các đại biểu, cơ
quan Nhà nước phải tiếp nhận và giải quyết các đề xuất, kiến nghị, khiếu nại của người
dân, tiếp thu các ý kiến đóng góp vào việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật,
các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Các luật về tổ chức chính trị - xã
hội như Luật Mặt trận tổ quốc, Luật công đoàn cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp
về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý hành chính nhà nước. Ngoài
ra, Nhà nước còn ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện quyền tham
gia vào quản lý hành chính Nhà nước của nhân dân lao động như: Nghị định số
29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở
xã; Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây
dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, ấp, cụm dân cư; Nghị định số
79/2003/NĐ-CP ngày 13/2/1999 của Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở
doanh nghiệp Nhà nước; Nghị định số 87/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 của Chính phủ
ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Trong thời gian qua việc tham gia vào hoạt động của các cơ quan Nhà nước của nhân
dân được đảm bảo, nhân dân lao động nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định
của pháp luật và có năng lực đều có thể tham gia vào các cơ quan Nhà nước. Việc bầu
cử đại biểu cũng ngày càng thể hiện đúng ý kiến của người dân, giúp cho hiệu quả làm
việc của Quốc hội ngày càng được nâng cao. Để đảm bảo cho toàn thể cử tri có thể đi
bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thì Luật bầu cử đại biểu
quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân quy định ngày bầu cử là ngày chủ nhật.
13
ở các thành phố và một số đối tượng.
3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện nguyên tắc nhân
dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính Nhà nước.
13
Thứ nhất, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, sửa đổi cơ chế bầu cử đại biểu Quốc
hội và Hội đồng nhân dân sao cho những người được bầu phải gắn bó với người dân,
phản ánh được ý chí, nguyện vọng của người dân không còn đại diện chung chung, hình
thức.
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh cải cách nên hành chính Nhà nước, đổi mới cơ cấu tổ
chức và phương thức hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Mở rộng sự công khai,
minh bạch, tạo cơ hội để người dân nằm bắt được các công việc của Nhà nước một cách
chủ động, thiết thực và hiệu quả. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước,
công chức trong việc tiếp thu ý kiến và nguyện vọng của nhân dân.
Thứ ba, tiếp tục có các biện pháp giáo dục, nâng cao trình độ nhất là ý thức chính
trị, tinh thần pháp luật của người dân, làm cho người dân tự giác và có ý thức hơn nữa
trong việc tham gia vào công việc xã hội và hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.
Thứ tư, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng trong việc tuyên truyền, giáo
dục và tổ chức tham gia của người dân đối với việc xây dựng chính sách, pháp luật.
Thứ năm, sử dụng tốt hơn các phương tiện thông tin đại chúng. Mở rộng việc sử
dụng các bào điện tử trong việc tuyên truyền các chính sách, pháp luật của Nhà nước và
thu thập, phản ánh các ý kiến đóng góp, tham gia của nhân dân.
III.
Kết luận.
Qua việc tìm hiểu nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý
hành chính Nhà nước chúng ta càng hiểu sâu hơn về bản chất Nhà nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt nam là nhà nước “Của dân, do dân, vì dân”. Việc ghi nhận và thực hiện
1. Khái niệm nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước……………………..2
2. Đặc điểm của các nguyên tắc……………………………………………..2
Giải quyết vấn đề
1.
2.
3.
Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính
Nhà nước.
1.1. Cơ sở pháp lý………………………………………………………3
1.2. Biểu hiện của nguyên tắc……………………………………….....4
1.3. Ý nghĩa của nguyên tắc…………………………………………….8
Sự vận dụng nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý
hành chính Nhà nước…………………………………………………….9
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc vận dụng nguyên tắc
nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính Nhà
nước……………………………………………………………………...11
Kết luận…………………………………………………………………….11
Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………………12
Mục lục…………………………………………………………………......13
13