TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Tài Nguyên Đất & Môi trường Nông nghiệp
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi
nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở phường Tứ Hạ, thị xã
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Thị Thanh Trúc
Lớp
: Quản lý Đất đai 45B
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Lê Đình Huy
Thời gian thực tập
: Từ 05/01 đến 08/05/2015
Địa điểm thực tập
: Phòng Tài nguyên và môi trường thị xã
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
Ủy ban nhân dân
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
CN
Công nghiệp
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
GPMB
Giải phóng mặt bằng
HTX
Hợp tác xã
6
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp truyền thống và chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu sử dụng đất, nhưng do quá trình phát triển kinh tế xã hội mà diện
tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng.
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất là thay đổi mục đích sử dụng đất theo
quy hoạch sử dụng đất được duyệt bằng quyết định hành chính khi người sử
dụng đất có yêu cầu. Chính phủ nước ta quan tâm bảo vệ diện tích đất nông
nghiệp từ khi công nghiệp hóa, đô thị hóa mới bắt đầu. Tuy nhiên diện tích đất
nông nghiệp bị thu hồi chính thức trong khoảng 10 năm qua đã là hơn 3000 km2.
Phường Tứ Hạ là một đơn vị hành chính gắn liền với quá trình hình thành và
phát triển của thị xã Hương Trà. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử,
phường Tứ Hạ vẫn không ngừng phát triển. Tứ Hạ có vai trò là trung tâm chính
trị - kinh tế - văn hoá - xã hội và khoa học kỹ thuật, là động lực phát triển của thị
Trong quá trình phát triển, dưới tác động của quá trình đô thị hóa, phường Tứ
Hạ đã có những bước chuyển dịch mạnh mẽ, từ một địa phương thuần nông,
nguồn thu chính của người dân chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp đã trở thành địa
phương có cơ cấu kinh tế đa dạng, trong đó đẩy mạnh phát triển công nghiệp,
xây dựng, dịch vụ là hướng mũi nhọn. Quá trình đô thị hóa trong những năm
qua đã dẫn đến việc nhiều diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích
sử dụng đất, chuyển sang sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp khác nhau
như: Xây dựng đường giao thông, khu công nghiệp, khu dân cư, các công trình
cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội khác,… Vì vậy, việc đánh giá ảnh hưởng của
quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi
nông nghiệp của phường là việc cần thiết, tạo cơ sở cho việc hoạch định các
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Đất đai
2.1.1.1. Khái niệm về đất và đất đai
- Khái niệm về đất:
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là đá
và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp mặt tơi
xốp của lục địa có khả năng sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là lớp phủ thổ
nhưỡng, là một vật thể tự nhiên mà nguồn gốc của hợp thể tự nhiên đó là do hợp
điểm của bốn thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy
quyển và sinh quyển. Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có
tính thường xuyên và cơ bản [7].
- Khái niệm về đất đai:
Luật đất đai 2003 của Việt Nam quy định: Đất đai là tài nguyên quốc gia
vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu
của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở
kinh tế, văn hóa, xã hội an ninh và quốc phòng. Việc phân loại đất ở Việt Nam
theo hai cách: Phân loại đất theo thổ nhưỡng (theo khoa học đất) và phân loại
theo mục đích sử dụng đất. Từ 1/7/2004 theo quy định của Luật đất đai 2003,
đất đai được chia thành 3 loại: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa
sử dụng [6].
2.1.1.2. Vai trò của đất đai đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
- Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá: Đất đai là kho tài nguyên
khoáng sản cung cấp cho mọi nhu cầu sử dụng của con người.
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt: Đất đai là điều kiện vật chất chung
nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng
lao động (cho môi trường để tác động như: Xây dựng nhà xưởng, bố trí máy
- Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong ngành nông
nghiệp: Đây là đặc điểm quan trọng phân biệt nông nghiệp với công nghiệp.
Không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai.
- Đất nông nghiệp có khả năng tăng tính sản xuất: Đất đai là tư liệu sản
xuất vĩnh cửu (không phụ thuộc vào tác động của thời gian). Nếu biết sử dụng
hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng,
ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử
dụng đất [7].
2.1.2.3. Phân loại đất nông nghiệp
Theo quy định của Ðiều 13 Luật đất đai 2003 nhóm đất nông nghiệp bao
gồm các loại đất:
10
- Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn
nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
- Đất trồng cây lâu năm
- Đất rừng sản xuất
- Đất rừng phòng hộ
- Đất rừng đặc dụng
- Đất nuôi trồng thủy sản
- Đất làm muối
- Đất nông nghiệp khác bao gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao
động trong cơ sở sản xuất, đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo
vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và
đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh
doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở [6].
2.1.2.4. Vai trò của đất nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
- Cung cấp lương thực, thực phẩm: Thực tế cho thấy rằng xã hội càng ngày
phát triển thì yêu cầu lương thực và thực phẩm ngày càng tăng nhanh... Loại
hoạt động khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.
- Ðất sử dụng vào mục đích công cộng gồm: Đất giao thông, thủy lợi, đất
xây dựng các công trình văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục
vụ lợi ích công cộng, đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, đất
xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của chính phủ.
- Ðất có các cơ sở tôn giáo sử dụng.
- Ðất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
- Ðất làm nghĩa trang, nghĩa địa.
- Ðất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng [6].
2.1.3.3. Vai trò của đất phi nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong đời sống con người, đất phi nông nghiệp có những vai trò sau:
- Là nơi cư trú của con người: Trên mặt đất, con người xây dựng nhà ở,
thành phố, làng mạc, khu dân cư và sinh sống trên đó.
- Là nơi con người xây dựng các công trình trên mặt đất, trong lòng đất để
phục vụ cho cuộc sống của con người.
- Là nguồn tài nguyên khoáng sản quý giá cho con người, cung cấp các loại
quặng, than, kim loại và phi kim, đất để sản xuất vật liệu xây dựng (cát, sỏi, đá,
gạch, làm đồ gốm)…
Như vậy, đất phi nông nghiệp tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật
chất của đời sống kinh tế, phục vụ xã hội loài người. Đất phi nông nghiệp và
cùng với các điều kiện tự nhiên khác là một trong những cơ sở quan trọng nhất
để hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, là nguồn lực cơ bản để tiến hành
12
công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế [7].
13
- Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng kỹ
thuật và hệ thống công trình hạ tầng xã hội:
+ Hệ thống công trình hạ tầng xã hội: nhà ở, công trình dịch vụ, y tế, văn
hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao và các công trình phục vụ
lợi ích công cộng khác.
14
+ Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: Giao thông, cấp điện và chiếu
sáng công cộng, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, công viên cây xanh, xử
lý các chất thải, nghĩa trang, thông tin, bưu chính viễn thông.
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: Việc xây dựng phát triển đô thị phải theo
quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các
tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh
thần của dân cư đô thị, có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu
mang ý nghĩa quốc tế, quốc gia và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên.
Đối với những đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy
mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu
chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đảm bảo tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn
quy định so với các loại đô thị tương đương.
2.1.4.2. Phân loại và phân cấp quản lý đô thị
- Phân loại đô thị
Đô thị được phân thành 6 loại như sau: Loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III,
loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận.
+ Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
+ Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc, đô thị loại I, loại II
là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
+ Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội
- Dân cư tập trung vào các thành phố lớn và cực lớn
Số lượng các thành phố có trên 1 triệu người ngày càng nhiều. Hiện nay
toàn thế giới có hơn 270 thành phố từ 1 triệu dân trở lên, 50 thành phố có số dân
vượt quá 5 triệu người.
- Lối sống thành thị phổ biến rộng rãi
Cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hóa, lối sống thành thị được phổ
biến rộng rãi và có ảnh hưởng đến đời sống của dân cư nông thôn về nhiều mặt [9].
2.1.5.3. Vai trò của đô thị hóa
- Đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu lao động trong các khu vực kinh tế. Cơ
cấu lao động trong xã hội thường được phân theo 3 khu vực:
+ Khu vực I, khu vực kinh tế nông, lâm, thủy sản thuộc địa bàn nông
thôn. Trong quá trình đô thị hóa khu vực này giảm dần.
+ Khu vực II, khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Trong
quá trình đô thị hóa, khu vực này phát triển không ngừng về số lượng và chất
lượng. Sự phát triển của nó mang tính quyết định trong quá trình đô thị hóa.
16
17
+ Khu vực III, khu vực dịch vụ, quản lý và nghiên cứu khoa học. Khu vực
này phát triển cùng với sự phát triển của đô thị, nó góp phần nâng cao chất
lượng trình độ đô thị hóa.
Tóm lại, ba khu vực lao động trên biến đổi theo hướng giảm khu vực I,
phát triển số lượng và chất lượng ở khu vực II, III nhằm thỏa mãn nhu cầu sản
xuất ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng cao của cuộc sống.
- Đô thị hóa làm số dân sống trong đô thị ngày càng tăng. Đây là yếu tố
đặc trưng nhất của quá trình đô thị hóa. Dân cư sống trong khu vực nông thôn sẽ
chuyển thành dân cư sống trông đô thị, lao động chuyển từ hình thức lao động
cơ sở hạ tầng phải đáp ứng đủ. Từ đó nảy sinh nhu cầu ĐTH, phát triển kinh tế
đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người.
2.1.5.5. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đời sống xã hội
- Ảnh hưởng tích cực: Đô thị hóa không những góp phần đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động mà còn làm
thay đổi sự phân bố dân cư và lao động, thay đổi các quá trình sinh, tử và hôn
nhân ở các đô thị…..
- Ảnh hưởng tiêu cực: Đô thị hóa nếu không xuất phát từ công nghiệp hóa,
không phù hợp cân đối với quá trình đô thị hóa thì việc chuyển cư ồ ạt từ nông
thôn ra thành phố sẽ làm cho nông thôn mất đi một phần lớn nhân lực. Trong khi
đó thì nạn thiếu việc làm, nghèo nàn ở thành phố càng phát triển, điều kiện sinh
hoạt ngày càng thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến
nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội [9].
2.2. Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Tình hình đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1.1. Tình hình đô thị hóa trên thế giới
Đô thị hóa phát triển mạnh trên quy mô toàn cầu làm tăng số lượng các đô
thị lớn, tăng nhanh dân số đô thị và tỷ lệ thị dân. Hiện nay, xu hướng phát triển
của thế giới là biến trái đất thành một hành tinh chủ yếu bao gồm các đô thị
(hành tinh bê tông). Đến thế kỉ XXI, khi dân số đạt mức ổn định, thì số dân cư
nông thôn thật là nông dân sẽ chỉ là một thiểu số ít ỏi. Dân số đô thị thế giới
2005 đạt tới 47% tổng dân số, ước tính đến 2025 là 61%.
Vào năm 1900, đã có 220 triệu cư dân thành thị (chiếm 13%) trên toàn thế
giới. Những thành phố đông dân nhất thế giới thuộc về Bắc Mỹ và Châu Âu.
Cuối thế kỷ XX chỉ có 3 thành phố Tôkyo, New York và Los Angeles là những
thành phố công nghiệp.
Trong năm 2011 trên thế giới có 796 khu dân cư đô thị có từ 500.000
người trở lên, 205 khu dân cư đô thị có từ 2.000.000 người trở lên, 65 khu dân
cư đô thị có từ 5.000.000 người trở lên, 27 siêu thành phố với dân số 10.000.000
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh
nhiều vấn đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dân mất đất, phương
pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, giãn dân,…
Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam có thể khái quát thành 3 thời kì với những
đặc trưng nổi bật của mỗi một thời kì ứng với biến đổi nhất định về bộ mặt đô
thị.
- Thời kì trước năm 1945
Đô thị trong thời kì này mang đặc trưng của chế độ phong kiến, thuộc địa.
Quy mô của đô thị còn nhỏ hẹp và cơ sở hạ tầng chưa phát triển.
Khi thực dân Pháp chưa xâm chiếm nước ta, đô thị chủ yếu là thành, phủ
của vua chúa, là trung tâm hành chính, thương mại trên cơ sở những thành lũy,
lâu đài. Đô thị lúc này chịu sự chi phối rất lớn bởi nền kinh tế nông nghiệp tự
nhiên và tự cung tự cấp. Những manh mún về sản xuất hàng hóa và buôn bán
21
còn rất nhỏ lẻ. Điều này ảnh hưởng tới sự phát triển của đô thị.
Nửa đầu thế kỷ XX, người Pháp đã mở đầu cho quá trình ĐTH Việt Nam
thông qua việc thiết lập một mạng lưới đô thị - trung tâm hành chính thương mại
và công nghiệp khai thác ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam. Để phục vụ cho mục
đích của mình chúng khai thác, bóc lột mọi thứ. Xây dựng những điểm giao
thông quan trọng, xây dựng thành phố mới. Đô thị Việt Nam giai đoạn này mang
hơi hướng đậm nét của Pháp, giữ vai trò là trung tâm hành chính, nơi trú ngụ
của bộ máy chính quyền thực dân phong kiến. Chính điều này đã làm thay đổi
hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính truyền thống của Việt Nam. Cơ sở hạ
tầng được đầu tư, thành phố được mở rộng. Năm 1933, Hải Phòng đã trở thành
một thành phố cảng sầm uất, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh có mức tăng đột
ngột về dân số kể từ năm 1943.
Thời kì 1945 – 1975
Có thể xem giai đoạn này là đặc biệt trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam.
năm gần đây tình hình CNH – HĐH đang diễn ra mạnh mẽ. Tốc độ ĐTH ở Việt
Nam đang diễn ra khá nhanh: 18,5% (năm 1989), 20,5% (năm 1979), 23,65%
(năm 1999) và 25% (năm 2004). Về số lượng đô thị, năm 1990 cả nước mới có
khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã có 649 đô thị, trong đó: 2 đô thị có
quy mô dân số trên 3 triệu người, 15 đô thị quy mô dân số từ 25 vạn đến 3 triệu
người, 74 đô thị có quy mô dân số từ 5 vạn đến 25 vạn người và các đô thị còn
lại có quy mô dân số dưới 5 vạn người [19].
Tuy vậy ĐTH ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới.
ĐTH cũng làm nảy sinh những mặt tiêu cực sau:
Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất
nông nghiệp. Theo Hội nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng, các khu
công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha
đất nông nghiệp bị chuyển mục đích sử dụng đất.
Dân số đô thị tăng nhanh đã làm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bị quá tải,
đặc biệt là tình trạng yếu kém của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử
lý chất rắn…
Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
- Xây dựng và duy trì bộ khung bảo vệ thiên nhiên trên địa bàn cả nước.
- Khai thác và sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên vào mục đích cải
tạo đô thị.
- Có biện pháp xử lý, tái sử dụng các chất thải sinh hoạt và sản xuất bằng
công nghệ thích hợp.
2.2.2. Chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
2.2.2.1. Thực trạng và kinh nghiệm chuyển đổi đất ở một số nước trên thế giới
* Trung Quốc
Trung Quốc là nước dân chủ nhân dân có dân số đông nhất thế giới
23
chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp nhằm tạo sự hài hòa,
không mất cân đối trong quá trình phát triển của đất nước [9].
* Nhật Bản
Nhật Bản là nước tiến hành cải cách sớm nhất ở Châu Á, quá độ từ nền
phong kiến tiểu nông với tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn lên công nghiệp hóa
24
Trong nông nghiệp, khoa học kỹ thuật nông nghiệp được Nhật Bản coi là
biện pháp hàng đầu ngay từ thế kỷ IXX, không giống như các nước phương tây
áp dụng công nghệ thu hút nhiều vốn, mà Nhật Bản chú trọng các công nghệ thu
hút lao động và tiết kiệm đất như kỹ thuật tưới tiêu, kỹ thuật lai tạo giống, cách
sử dụng phân bón nên năng suất cây trồng nâng cao, hạ tầng nông nghiệp rất
được quan tâm và cùng với đó là việc ban hành các chính sách khuyến khích
phát triển sản xuất đã tạo ra động lực thúc đẩy nông dân áp dụng khoa học công
nghệ tăng năng suất cây trồng. Đất đai được chia cho mọi nông dân tạo nên tầng
lớp nông dân sở hữu nhỏ ruộng đất.
Thành công to lớn trong phát triển kinh tế của Nhật Bản đó là thực hiện
chính sách phi tập trung công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn
làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành phi
nông nghiệp trong thu nhập của cư dân nông thôn ngày càng tăng (năm 1950 là
29%, năm 1990 là 85%), năm 1990 phần thu nhập từ phi nông nghiệp cao hơn 56 lần phần thu từ nông nghiệp.
Nhật Bản là nước có nền công nghiệp hàng hóa hiện đại hàng đầu thế giới,
tuy mức tăng dân số khá thấp (0,7 - 1,5%), nhưng đất đai chật hẹp, tài nguyên
thiên nhiên nghèo nàn, chính vì thế mà chính phủ Nhật Bản đã có chính sách
phù hợp trong phát triển công nghiệp như phát triển các ngành công nghiệp thu
hút lao động, phân bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn và từ
đó đã làm cho thu nhập từ phi nông nghiệp từ nông thôn tăng nhanh và đã giải
quyết được một lượng lớn lao động ở nông thôn.
Đến đầu thập kỷ 1970, Nhật Bản hoàn thành công nghiệp hóa và hướng