LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của các
tập thể và cá nhân.
- Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn sự lãnh đạo của BGĐ Học
viện QLGD, sự sát sao trong tổ chức lớp học của các thầy, cô giáo Trung tâm
đào tạo Sau đại học, bồi dưỡng nhà giáo và CBQL. Tôi xin cảm ơn sự tận tình
giảng dạy của các thầy cô giáo ở các khoa và đơn vị phối hợp với Học viện
QLGD dành cho học viên lớp Cao học chuyên ngành QLGD khóa 9.
- Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị
Tuyết Hạnh, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Tác giả xin chân thành cảm ơn BGĐ TT Giáo dục quốc phòng an ninh
sinh viên Hải Phòng, các đồng nghiệp và các em sinh viên đã giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện thuận lợi để tác giả triển khai các nội dung nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
- Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người
thân đã luôn chia sẻ, động viên trong suốt quá trình học tập và hỗ trợ cả vật
chất lẫn tinh thần để tác giả thực hiện luận văn này.
- Mặc dù, tác giả đã cố gắng rất nhiều, nhưng do điều kiện về thời gian
và khả năng của bản thân nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác
giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, các đồng
nghiệp và độc giả để luận văn này của tác giả được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2015
Tác giả
Đỗ Văn Bắc
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BGĐ
BGĐTT
BCNK
CBĐĐ
CNXH
CBQL, GV
CSVC
DH
ĐH, CĐ
ĐT&QLSV
ĐHHP
GD&ĐT
GDQP
GDQP - AN
HS, SV
HĐT
KTX
QP,AN
QPTD, ANND
QLDH
QK3
QS
UBND
TT
TTGDQP
TTGDQPAN
TH.S
TS
SQQĐ
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Bảng số
1
Bảng 2.1
2
Bảng 2.2
3
Bảng 2.3
Nội dung
Tổng hợp tình hình tham gia khảo sát
Độ tuổi, trình độ và thâm niên giảng dạy của GV
Trung tâm
Tổng hợp đánh giá của CBQL, GV và SV về
mức độ sử dụng phương pháp dạy học của
giảng viên tại TT
Tổng hợp đánh giá của CBQL, GV về mức độ
Tổng hợp đánh giá của SV vê việc duy trì các
các chế độ sinh hoạt tại TT
Tổng hợp đánh giá của CBQL, GV vê việc duy
trì các các chế độ sinh hoạt tại TT
Khảo nghiệm sự nhận thức về mức độ cần thiết
và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất
i
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục quốc phòng - an ninh cho sinh viên là một trong những nhiệm
vụ quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Qua đó tạo
điều kiện cho thế hệ trẻ có điều kiện tu dưỡng phẩm chất đạo đức và rèn luyện
năng lực thực tế để sẵn sàng thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
GDQP – AN cho sinh viên đã được xác định trong nhiều văn bản quy
phạm pháp luật của Nhà nước. Và gần đây nhất, Bộ Chính trị đã có chỉ thị số
12/CT/TW ngày 03 tháng 5 năm 2007 về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối
với công tác giáo dục quốc phòng an ninh trong tình hình mới. Chính phủ
cũng có nghị định số 116/2007/ NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2007 về giáo
dục quốc phòng an ninh.
Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác
giáo dục quốc phòng – an ninh nhằm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu của mục
tiêu giáo dục và thực tiễn, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Quốc
phòng và Bộ Công an nghiên cứu xây dựng nội dung, chương trình của môn
học GDQP – AN. Việc thực hiện GDQP – AN cho sinh viên được thực hiện
ứng được yêu cầu; trình độ học vấn của một số giảng viên chưa đạt chuẩn
theo quy định; quản lý chương trình đào tạo, mục tiêu, phương pháp, dạy học
môn GDQP-AN và quản lý các điều kiện phương tiện và thao trường bãi tập
phục vụ dạy học còn nhiều bất cập chưa đảm bảo tốt cho việc thực hiện mục
tiêu, nhiệm vụ được giao.
Để khắc phục những bất cập đó cần có những nghiên cứu để tìm ra các
biện pháp quản lý dạy học GDQP – AN - tại Trung tâm phù hợp với điều kiện
và tình hình mới.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý dạy học ở Trung
tâm Giáo dục Quốc phòng An ninh sinh viên Hải Phòng - Trường Đại học
Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp.
2
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý dạy học tại Trung tâm
Giáo dục Quốc phòng An ninh sinh viên Hải Phòng - Trường Đại Học Hải
Phòng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trung tâm, góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo ở các trường ĐH, CĐ trên địa bàn Thành phố.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn GDQP – AN cho sinh viên ĐH, CĐ và quản lý
dạy học môn GDQP - AN ở trường đại học
b. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý dạy học ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng An ninh sinh viên
Hải phòng - Trường Đại học Hải Phòng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy học ở TT giáo dục quốc phòng - An ninh sinh viên Hải
Phòng được thực hiện thông qua dạy học môn GDQP-AN. Do điều kiện thời
tâm GDQPAN sinh viên Hải Phòng – Trường Đại học Hải Phòng.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu đã xác định,
trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ
bản sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc, tra cứu, phân tích, khái quát hóa, tổng hợp các loại sách, báo,
tạp chí, bài viết khoa học... liên quan đến quản lý dạy học và quản lý dạy học
môn GDQP – AN cho sinh viên.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi đối với sinh viên CBQL và GV
để khảo sát thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học tại
Trung tâm.
- Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn, trao đổi thêm với một
số BBQL, GV, và SV để làm rõ một số khía cạnh của thực trạng.
4
- Phương pháp quan sát, nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu
hồ sơ quản lý dạy học của TT như Thời khóa biểu, kế hoạch thi, lịch trực ban,
hiện trạng thao trường, bãi tập, giáo án, dự giờ của GV...
- Phương pháp lấy ý kiến các chuyên gia: Để khảo nghiệm tính cần
thiết và khả thi của các biện pháp quản lý mà đề tài đề xuất.
7.3. Phương pháp hỗ trợ khác
- Phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thu được từ quá
trình khảo sát.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
độ. Giáo dục quốc phòng do Bộ Quốc phòng đảm nhiệm. Theo kế hoạch hàng
năm của Chính phủ, từng trường ĐH đưa SV tới các đơn vị quân đội để học
GDQP với thời gian 2 tháng. Khoảng thời gian này các đơn vị quân đội tổ
chức cho bộ đội học dã ngoại ngoài doanh trại. Doanh trại quân đội lúc này
trở thành các TT GDQP. Một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu đổi mới GDQP
cho cán bộ, HS, SV trước yêu cầu chống ảnh hưởng nô dịch của chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch: đề xuất giải pháp đổi mới nội dung chương
trình, phương pháp GDQP cho cán bộ, HS, SV đáp ứng yêu cầu bảo vệ đất
6
nước Trung Quốc và thành quả cách mạng, xây dựng nền QP toàn dân. Các
tác giả: Lý Xương Giang, Tiểu Kính Dân,Vương Bảo Tôn... đã đi sâu nghiên
cứu chiến lược phát triển GDQP của Trung Quốc trước sự vận động, biến đổi
phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước [22].
Malaixia quan niệm QP là: “Răn đe, tự lực, tự cường, thương lượng
bao giờ cũng hơn chiến tranh”, muốn QP tốt thì kinh tế phải mạnh...Vì vậy,
nghiên cứu về QP và tổ chức GDQP cho người học được tiến hành thường
xuyên và rộng khắp, đạt chất lượng tốt. Dân số 23 triệu, nhà nước đầu tư xây
dựng 41 TTGDQP cho HS, SV, tư nhân đứng ra quản lý. Theo kế hoạch năm
của nhà nước, thanh niên từ 18 đến 25 tuổi được tập trung tại các TT GDQP
để học GDQP với thời gian 3 tháng. Các học phần lý thuyết do giảng viên các
trường ĐH giảng dạy, các học phần thực hành do sỹ quan quân đội giảng
dạy[22].
Cộng hòa Pháp lại quan niệm quốc phòng được hiểu theo nghĩa rộng
nhất, không chỉ là lĩnh vực của quân đội và chính quyền nhà nước mà có liên
quan đến mọi công dân và mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước. Vì vậy, hệ
thống giáo dục và nội dung GDQP được tổ chức chặt chẽ, toàn diện và sâu
sắc. Hệ thống GDQP có một số trường trực thuộc Chính phủ, một số trường
trực thuộc Bộ Giáo dục, số khác trực thuộc Bộ QP. Nội dung nghiên cứu rất
và GDQP – AN. Những chủ trương, chính sách đó cùng với những văn bản
quy phạm pháp luật của Chính phủ về GDQP không chỉ là cơ sở pháp lý mà
còn là một cơ sở khoa học, cơ sở phương pháp luận định hướng cho các hoạt
động nghiên cứu về QP -AN trong thời đại mới.Trên phương diện quản lý
Nhà nước về GDQP, từ năm 1961 thực hiệnNghị định số 219/CP của Hội
đồng Chính phủ, “Huấn luyện quân sự” được đặt thành một môn học chính
trong nhà trường phổ thông. Năm 1966, Bộ Đại học - Trung học chuyên
nghiệp (nay là Bộ GDĐT) ban hành chương trình huấn luyện quân sự thống
nhất trong các trường ĐH, CĐ và THCN. Điều 17 Luật Nghĩa vụ quân sự
trước đây và Luật sửa đổi và bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự quy định“Việc
huấn luyện quân sự phổ thông cho HS các trường phổ thông trung học,
trường dạy nghề, trường THCN, trường CĐ và ĐH thuộc chương trình chính
khóa. Môn học “Huấn luyện quân sự phổ thông” được Luật định là môn học
9
chính khóa trong các nhà trường”. Nội dung chương trình chủ yếu hướng vào
huấn luyện kiến thức quân sự phổ thông và kỹ năng quân sự cơ bản[5].
Huấn luyện quân sự phổ thông trong các nhà trường đã giúp cho thanh
niên trước khi nhập ngũ có kiến thức quân sự phổ thông, rút ngắn được thời
gian huấn luyện chiến sỹ mới, tham gia tích cực trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc. Nhiều tấm gương cao đẹp
là HS, SV đã xuất hiện, đã trở thành anh hùng, dũng sỹ trong chiến đấu lao
động và xây dựng đất nước. Lớp lớp thanh niên tình nguyện đến những nơi
khó khăn, gian khổ cùng sát cánh với bộ đội và nhân dân thực hiện nhiệm vụ
kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước. Trong quá trình đó, chương trình
Huấn luyện quân sự phổ thông đã được nhiều lần sửa đổi cho phù hợp với yêu
cầu, nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc trong mỗi giai
đoạn cách mạng. Chiến tranh kết thúc, đất nước bước vào thời kỳ xây dựng và
sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”[5].
Trong những năm gần đây, trước sự biến động phức tạp của tình hình
quốc tế và khu vực, trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc,
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác GDQP – AN toàn dân. Hội
đồng GDQP – AN Trung ương và địa phương (Trung ương, tỉnh, huyện) đã
được thành lập, chỉ đạo thống nhất GDQP – AN trong cả nước. Những chủ
trương, giải pháp, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý GDQP – AN đã tạo
thành cơ sở pháp lý cho công tác GDQP – AN ở trong mỗi nhà trường cũng
như trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hơn thế nữa, những chủ trương, giải
pháp và những văn bản đó là kết quả của sự nghiên cứu từ thực tiễn chỉ đạo,
quản lý GDQP – AN ở Việt Nam và sự vận dụng lý luận về quản lý giáo dục
trong tình hình mới. Quá trình hình thành, phát triển của các chủ trương,
chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật về QP và GDQP – AN cũng là
quá trình hoàn thiện học thuyết chiến tranh nhân dân, QPTD, ANND theo tư
tưởng Hồ Chí Minh. Trước tình hình mới của thời đại, vấn đề QP – AN quốc
gia đang được đặt ra như một vấn đề thời sự nóng hổi của nhiều quốc gia trên
thế giới, khu vực và trong nước. Quản lý, nâng cao chất lượng GDQP – AN
cho cán bộ, công chức, viên chức, HS, SV là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm
11
của lãnh đạo, các chuyên gia hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và những
người làm công tác quản lý, giáo dục ở nhiều nước trên thế giới.
Trong những năm qua đã có những bài báo khoa học và một số công
trình nghiên cứu về công tác GDQP – AN tiêu biểu như:
- Tác giả: Vũ Thanh Tùng có bài viết. “Quản lý hoạt động dạy học
môn GDQP – AN ở các trường đại học”. Bài viết của tác giả đã nêu lên thực
trạng quản lý hoạt động dạy học hiện nay của môn học GDQP – AN ở các
trường đại học và đưa ra một số giải pháp quản lý dạy học của môn học
GDQP – AN ở các trường đại học hiên nay [34].
một cách tổng quan thực trạng của công tác quản lý dạy học đối với môn học
GDQP – AN hiện nay. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đưa ra một số biện pháp
tăng cường công tác quản lý dạy học môn GDQP – AN. Trong các biện pháp
của các tác giả đưa ra có những biện pháp khó triển khai và tổ chức thực hiện
ở tất cả các cơ sở thực hiện nhệm vụ GD QP-AN vì mỗi cơ sở những nét đặc
thù riêng. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ sỹ quan quân đội biệt phái sang làm
công tác giảng dạy tại các cơ sở cũng có sự thay đổi do cơ cấu tổ chức và sự
phân công của Bộ Quốc Phòng đối với một số đơn vị chuyên trách đảm nhiệm
các công việc giảng dạy hiện nay, cũng như việc cắt giảm biên chế, luân
chuyển sỹ quan biệt phái theo nghị định 165 của chính phủ... từ đó dẫn đến
việc xây dựng cán bộ quản lý và giảng dạy ở các khoa và trung tâm hiện nay
gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài của tác giả nhằm đánh giá một
cách cập nhật và đầy đủ hơn về thực trạng quản lý dạy học hiện nay tại Trung
tâm GDQPAN sinh viên Hải Phòng – trường ĐH Hải Phòng nhằm đưa ra
những biện pháp quản lý dạy học GDQP-AN cụ thể, phù hợp với tình hình
thực tiễn của TT để nâng cao chất lượng dạy học môn học GDQP – AN hiện
nay đáp ứng yêu cầu xã hội.
13
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1. Quản lý
Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Quản lý do các tác giả
nước ngoài và trong nước đưa ra, tuy nhiên trong phạm vi của đề tài, tác giả
tiếp cận một số cách quan niệm về Quản lý sau:
Thuật ngữ quản lý được định nghĩa là:“Tổ chức, điều khiển hoạt động
của một đơn vị, cơ quan”. Ở khía cạnh khác “Quản lý là tổ chức và điều
khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [28].
những vấn đề về QP – AN cần thiết để họ sẵn sàng làm tốt nghĩa vụ QP – AN
bảo vệ Tổ quốc theo chức trách”[32].
Giáo dục quốc phòng – an ninh là một môn khoa học có những quy luật
khách quan mà mọi quốc gia, mọi chế độ xã hội phải tuân theo.Tuy nhiên, QP
– AN là lĩnh vực luôn biến động theo sự vận động biến đổi của chế độ kinh tế,
chính trị, xã hội, của phương thức sản xuất, của tình hình QS và AN quốc gia
trong từng thời điểm lịch sử. Do đó, GDQP – AN cũng có tính giai cấp, tính
lịch sử cụ thể. Mỗi quốc gia, mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn phát triển khác
nhau có những quan điểm GDQP – AN khác nhau được thể hiện ra bằng mục
tiêu, nội dung và phương thức giáo dục.
Ở Việt Nam, GDQP – AN cho cán bộ các cấp của Đảng, Nhà nước và
cho HS, SV để họ làm tốt nghĩa vụ QP, AN bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN. Mục tiêu GDQP – AN nhằm góp phần đào tạo con người phát triển
toàn diện, hiểu biết một số nội dung cơ bản về QP, AN; truyền thống đấu
tranh chống ngoại xâm của dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân về
bảo vệ Tổ quốc; nâng cao lòng yêu nước, yêu CNXH; có tinh thần cách mạng
và ý thức cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trong
chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; có kiến
thức cơ bản về đường lối QP, AN và công tác quản lý nhà nước về QP, AN;
có kỹ năng QS, AN cần thiết để tham gia vào sự nghiệp xây dựng, củng cố
nền QPTD, ANND, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Yêu cầu
GDQP – AN phải tiến hành đồng bộ bằng nhiều hình thức, nội dung phù hợp
với từng đối tượng, xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy
15
thống nhất bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực và có hệ thống, bảo đảm
cho người học có đủ các điều kiện để tham gia và hoàn thành nghĩa vụ công
dân bảo vệ Tổ quốc.
1.2.4. Dạy học GDQP – AN
thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; tinh thần, ý chí chiến đấu; tinh
thần dũng cảm, dám hy sinh vì sự nghiệp cách mạng; khả năng tổ chức khoa
học các hoạt động QS; tính kỷ luật cao, trình độ kỹ, chiến thuật và nghệ thuật
QS; sự tinh nhạy, quan sát, phán đoán...
1.2.5. Quản lý dạy học GDQP – AN
Quản lý dạy học GDQP – AN thực chất là quản lý dạy học môn GDQP
– AN theo chương trình quy định của Bộ, được thực hiện theo Quyết định số
69/2007/QĐ-BGĐT ngày 14 tháng 11 năm 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trong luận văn này, Quản lý dạy học GDQP-AN được hiểu là hoạt động có ý
thức của chủ thể quản lý nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực
và phối hợp hành động của các thành viên trong việc triển khai thực hiện
mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học môn GDQP-AN ở các đơn vị được
giao nhiệm vụ GDQP-AN cho SV nhằm đạt được các mục tiêu dạy học một
cách hiệu quả nhất.
Quản lý dạy học GDQP - AN là quản lý việc tổ chức thực hiện dạy học
bao gồm quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp dạy
học; kiểm tra đánh giá kết quả dạy học và kết quả học tập của người học; quản lý
đội ngũ các bộ; cơ sở vật chất và thiết bị dạy học... theo đúng quy định.
1.3. Quản lý dạy học môn GDQP – AN ở trường đại học.
1.3.1. Vị trí, vai trò và ý nghĩa của dạy học môn GDQP – AN
- Vị trí của môn học GDQP – AN trong công tác GD đại học là một
yêu cầu không thể thiếu trong mục tiêu đào tạo của các trường đại học, cao
đẳng góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người mới
XHCN. Trong giai đoạn hiện nay, GDQP nói chung, GDQP - AN cho sinh
viên nói riêng là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, thường xuyên và mang tính cấp
bách đối với sự nghiệp cách mạng nước ta. Văn kiện Nghị quyết Đại hội lần
thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Tiếp tục đổi mới và nâng
17
đất nước hội nhập và phát triển, việc nâng cao ý thức, trách nhiệm và hiểu biết
về kiến thức quốc phòng - an ninh là một nhiệm vụ thiết thực hơn bao giờ hết.
- Ý nghĩa của dạy học môn học này trong GD ĐH: Thông qua công tác
GDQP – AN, giúp cho mỗi sinh viên xây dựng, củng cố lập trường tư tưởng,
ý thức chính trị, bồi dưỡng lý tưởng sống cao đẹp, phẩm chất đạo đức trong
sáng, lối sống lành mạnh, lòng yêu nước và các kĩ năng quân sự cần thiết.
Qua đó, thấy rõ được trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; biết tránh xa những cám dỗ tầm thường,
những cạm bẫy của mặt trái cơ chế thị trường và những tiêu cực xã hội đang
diễn ra hiện nay; cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhận biết
và đấu tranh có hiệu quả với sự lôi kéo của các thế lực thù địch. Thông qua
GDQP - AN còn khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc trong mỗi sinh viên, nhắc
nhở họ không ngừng nỗ lực học tập, trau dồi kiến thức, tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, dâng hiến hết mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc để đưa đất nước ta “sánh vai với các cường quốc năm châu”. GDQP –
AN còn giúp cho một bộ phận sinh viên khắc phục lối sống thực dụng, đề cao
tự do cá nhân để biết khép mình vào tổ chức, tôn trọng tập thể, có ý thức tổ
chức kỷ luật, biết sống vì mọi người và có ý chí phấn đấu vượt qua mọi khó
khăn để vươn lên trong học tập, trong cuộc sống và trong sự nghiệp.
1.3.2. Đặc thù của dạy học môn học GDQP – AN
Môn học GDQP – AN mang tính đặc thù riêng so với các môn học
khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, tính đặc thù được thể hiện ngay trong
nội dung, phương pháp và phương tiện phục vụ trong quá trình dạy học. Môn
học GDQP – AN không những trang bị những kiến thức, kỹ năng quân sự cần
thiết cho HS, SV, mà còn góp phần giáo dục cho HS, SV tình yêu quê hương
đất nước sẵn sàng tham gia vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc khi đất nước yêu
cầu. Tính đặc thù của môn học được thể hiện ở nhưng vấn đề cơ bản sau:
Là môn học bao gồm kiến thức khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tự
nhiên và khoa học kỹ thuật quân sự và thuộc nhóm các môn học chung.
và góp phần khẳng định vị thế của môn học trong hệ thống giáo dục quốc dân,
đồng thời môn học đã góp phần không nhỏ vào việc đáp ứng những yêu cầu
20
chung của đất nước cũng như yêu cầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc trong giai đoạn hiện nay.
Trang thiết bị và phương tiện dạy học môn GDQP – AN có chế độ bảo
quản và sử dụng theo một quy chế riêng, bảo đảm an toàn không để mất, thất
lạc. Bên cạnh đó để giảng dạy môn học GDQP – AN thì các nhà trường phải
có các thao trường, bãi tập, sân tập riêng đảm bảo cho sinh viên được học tập,
rèn luyện và sinh hoạt sát với thực tiễn hoạt động của quân đội. Đặc biệt tất cả
các mô hình học cụ và trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập
hầu hết là do các nhà máy, xí nghiệp của ngành quốc phòng sản xuất.
1.3.3. Nội dung quản lý dạy học môn GDQP – AN cho sinh viên ở
các trường đại học.
1.3.3.1. Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình của môn
học GDQP – AN
Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình môn học GDQP –
AN là hoạt động của Ban giám hiệu, được tiến hành dựa trên cơ sở mục tiêu,
chương trình khung do Bộ GD&ĐT đã ban hành cho các đối tượng, cho các
học phần, các nội dung đào tạo. Từ đó, các trường tiến hành xây dựng nội
dung chương trình môn học cho phù hợp với các đối tượng và các yếu tố bảo
đảm cho hoạt động dạy học của trường cũng như thực tế yêu cầu đòi hỏi của
xã hội với các đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng. Mục tiêu hiểu theo nghĩa
cơ bản nhất của từ này là cái ta cần chiếm lĩnh và ta phải đánh giá được cái đã
chiếm lĩnh.
Thực hiện quản lý thực hiện nội dung chương trình GDQP – AN cho
các đối tượng HS, SV, đòi hỏi BGH chỉ đạo xuống các TT, khoa, tổ bộ môn
tiến hành nghiên cứu thông tư 31 của BGD&ĐT ban hành tháng 9/2012 của
(BGĐ), Ban Chủ nhiệm khoa ở các trường phải quản lý được việc thực hiện
các mục tiêu, nội dung, chương trình của môn học tại cơ sở của mình.
1.3.3.2. Quản lý đội ngũ giảng viên và hoạt động dạy của giảng viên
- Quản lý đội ngũ giảng viên: việc quản lý giảng viên GDQP – AN
được thực hiện theo thông tư liên tịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sẽ quyết
định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định, điều động, kéo dài thời hạn
22