S¸ng kiÕn kinh nghiÖm dù thi
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Một số kinh nghiệm khi sử dụng phương pháp
trực quan trong giảng dạy môn GDCD ở trường THPT”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn GDCD ở trường
THPT
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 15 tháng 08 năm 2014 đến
ngày 23 tháng 5 năm 2015.
4. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Tiến Phương
Năm sinh: 31/10/1978
Nơi thường trú: Xóm 3, Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam
Định
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Giáo dục Chính trị
Chức vụ công tác: Chi ủy viên - Bí thư Đoàn trường
Nơi làm việc: Trường THPT Xuân Trường
Địa chỉ liên hệ:
Trường THPT Xuân Trường,
Xã Xuân Hồng , Huyện Xuân Trường, Tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0915.304.404
Tỉ lệ đóng góp: 100%
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THPT Xuân Trường
Địa chỉ: Xã Xuân Hồng , Huyện Xuân Trường, Tỉnh Nam
Định
Điện thoại: 0350.3886.167
1
2
Tác giả: Nguyễn Tiến Phơng
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm dù thi
tập trung chú ý học, mà chỉ tập trung vào những môn mà mình thi sau
này.
Thực trạng trên, đã gây ra không ít khó khăn đối với giáo viên
khi dạy các bộ môn mà học sinh không thi ở trên lớp chứ không riêng
gì môn GDCD.
Xuất phát từ lý do trên, để đảm bảo được mục tiêu giáo dục toàn
diện và nhiệm vụ của bộ môn, thì đòi hỏi các giáo viên dạy bộ môn
phải thường xuyên nắm bắt tâm lý, tư tưởng của học sinh, sử dụng
hiệu quả nhiều phương pháp, hình thức dạy học để tạo hứng thú cho
học sinh khi học bài. Làm sao để các em mỗi khi đến giờ học môn
mình dạy, các em cảm thầy hào hứng chứ không tỏ ra chán nản. Chính
vì vậy, bằng thực tiễn trải qua nhiều năm giảng dạy về bộ môn, tôi xin
mạnh dạn chia sẻ những kinh nghiệm của mình qua đề tài: “Một số
kinh nghiệm khi sử dụng phương pháp trực quan trong giảng dạy
môn GDCD ở trường THPT”.
II. THỰC TRẠNG
1. Thực trạng (trước khi tạo ra sáng kiến)
Là một môn khoa học xã hội, môn GDCD trong trường THPT
cùng với tất cả các môn khoa học khác, góp phần hình thành và phát
triển dần dần nhân cách, năng lực, phẩm chất cho học sinh. Nhưng
khác với các môn khoa học khác, môn GDCD hình thành phẩm chất
chính trị, tư tưởng, đạo đức gắn liền với đường lối xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Giáo dục phẩm chất chính trị, tư tưởng và đạo đức cho học
Ngoài ra, các môn học khác, như ở các năm trước đều có cơ hội
được dạy thêm để tăng thu nhập như môn Tin học, Công nghệ được
dạy nghề, môn Thể dục được dạy đội tuyển để thi học sinh Giỏi TDTT
hàng năm và có phụ cấp ngoài trời, còn môn GDCD thì chỉ thuần túy
dạy theo phân phối chương trình các giờ chính khóa, không có cơ hội
để dạy thêm để tăng thêm thu nhập. Cho nên, việc đầu tư cho bộ môn
của một số giáo viên dạy là rất ít, họ chủ yếu lên lớp để dạy cho hết
giờ dẫn đến tình trạng bình thường học sinh đã rất chán học bộ môn,
nay lại càng chán hơn khi thấy một số thầy cô cũng không thực sự tâm
huyết với môn mình dạy.
Mặt khác, các nội dung tri thức trong môn GDCD đa số mang
tính trừu tượng, khái quát hóa, phổ biến cao và gắn chặt với đời sống
4
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm dù thi
hàng ngày, tác động thường xuyên tới suy nghĩ và hành động của học
sinh.
Xuất phát từ thực trạng trên, để khôi phục lại vị trí của môn
GDCD trong các nhà trường phổ thông cũng như tạo hứng thú cho các
em học sinh khi được học bộ môn này, thì đòi hỏi các giáo viên phải
có sự đầu tư trong phương pháp giảng dạy, cụ thể như sử dụng có hiệu
quả các hình thức trực quan kết hợp với các phương pháp khác khi
giảng dạy bộ môn của mình.
2. Các giải pháp (Sau khi có sáng kiến)
2.1 Quan niệm về phương pháp trực quan
- Trực quan là phương pháp giảng dạy, trong đó giáo viên sử
giúp học sinh biến kiến thức thành niềm tin có cơ sở khoa học, thành
lẽ sống và hành động thực tế trong cuộc sống hiện tại và tương lai của
các em. Một điểm không kém phần quan trọng là, trong khi sử dụng
phương pháp trực quan giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách tổng
hợp, khái quát những tư liệu thực tế thành lí luận, tức là hình thành và
phát triển tư duy, nhận thức khoa học cho học sinh. Truyền thụ và lĩnh
hội tri thức bằng phương tiện trực quan của giáo viên và học sinh bắt
nguồn từ lí luận nhận thức của triết học duy vật biện chứng. Điểm
xuất phát của quá trình nhận thức - nhận thức thông thường và nhận
thức khoa học - đều là thực tiễn. Đồng thời thực tiễn là tiêu chuẩn để
kiểm tra nhận thức, kiểm tra chân lí. Vì thế quá trình nhận thức có thể
biểu diễn qua sơ đồ sau:
Thực tiễn
nhận thức
thực tiễn, quá trình này diễn ra
liên tục không ngừng trong cuộc sống của con người. Nhưng con
đường nhận thức biện chứng lại trải qua hai giai đoạn: Nhận thức cảm
tính và nhận thức lí tính. Trong nhận thức cảm tính, càng có nhiều cơ
quan thụ cảm tham gia vào quá trình phản ánh các sự vật hiện tượng
của thế giới khách quan càng làm cho hiểu biết của con người đầy đủ,
toàn diện, chính xác hơn, tạo ra cơ sở vững chắc cho nhận thức lí tính.
Đối với tri thức khoa học phổ biến và trừu tượng như tri thức
của môn GDCD, khi năng lực nhận thức của học sinh còn bị hạn chế
lớn thì việc sử dụng phương tiện dạy học trực quan lại càng cần thiết.
Phương tiện trực quan càng gần gũi với cuộc sống của học sinh, càng
gắn bó với kiến thức đã thu nhận được của các em sẽ càng tăng thêm
tác dụng tích cực của các phương tiện đó.
6
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
viên chịu khó tìm tòi, suy nghĩ vẫn có thể xây dựng các sơ đồ nêu lên
logic khách quan, mối quan hệ giữa các tri thức, giúp học sinh nắm
được tri thức cơ bản nhất, khái quát nhất. Ví dụ: Ngay ở bài mở đầu 7
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm dù thi
Chương trình GDCD lớp 10, tùy theo khả năng lĩnh hội kiến thức bài
học của học sinh, sau khi giảng bài xong giáo viên có thể nêu lên sơ
đồ sau:
Vấn đề cơ bản của triết học:
Quan hệ giữa vật chất và ý
thức, giữa tư duy và tồn tại
Mặt thứ 1: Vật
chất có trước
hay ý thức có
trước. Vật chất
QĐ ý thức và
ngược lại
Ý thức có
trước, vật chất
có sau, ý thức
QĐ vật chất
Vật chất có
trước, ý thức
tiếp thu bài giảng của học sinh.
- Bản đồ: Thường thường, trong giảng dạy môn GDCD bản đồ
chính trị thế giới được sử dụng nhiều nhất. Nếu sử dụng tốt, bản đồ có
tác dụng không nhỏ trong việc thu nhận tri thức của học sinh. Việc so
sánh sự thay đổi của bản đồ chính trị thế giới trong sự phát triển lịch
sử hiện đại của nhân loại sẽ làm cho học sinh thấy rõ sự phát triển của
8
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm dù thi
lực lượng cách mạng thế giới, của phong trào giải phóng dân tộc...thấy
rõ xu hướng phát triển của lịch sử nhân loại. Ngay bản đồ Việt Nam,
nếu biết khai thác sử dụng cũng có tác dụng không nhỏ tới việc truyền
thụ tri thức cho học sinh. Trong khi sử dụng bản đồ cần phân biệt từng
loại bản đồ (hình thể, chính trị, kinh tế....) và tìm ra được những khía
cạnh cần sử dụng, phù hợp với bài giảng.
- Tranh ảnh: Là những hình ảnh trực quan gây ấn tượng sâu
sắc, tạo ra sự tiếp thu tri thức nhẹ nhàng, xây dựng tình cảm tốt đẹp
đối với con người và đất nước cho học sinh. Tranh ảnh rất đa dạng, có
nhiều loại khác nhau và có rất nhiều trên mạng Internet, giáo viên chỉ
cần mất vài phút vào Google có thể tìm kiếm được rất nhiều loại ảnh
cần minh họa cho bài dạy của mình. Song điều cần thiết là phải lựa
chọn sao cho phù hợp với nội dung môn học, nội dung bài giảng, biết
đưa ra đúng lúc, đúng chỗ trong khi giảng bài. Đây là một nghệ thuật
khi giảng dạy. Nếu không sử dụng hợp lý sẽ làm hạn chế việc tiếp thu
kiến thức bài giảng của học sinh, có khi học sinh chỉ chú ý tới tranh
ảnh mà không chú ý tới nội dung bài giảng của thầy.
sưu tập tranh, ảnh riêng cho bộ môn, chúng ta có thể kết hợp sử dụng
các tranh ảnh của các môn học khác như Lí, Hóa, Sinh học, Lịch sử,
Địa lí...để minh họa cho bài giảng.
10
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm dù thi
Ví dụ như ở bài 15 - GDCD 11: Giáo viên đưa ra một số hình
ảnh thể hiện việc tàn phá môi trường của con người:
Đưa ra một số hình ảnh thể hiện hậu quả của nó đối với sức khỏe
con người:
11
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm dù thi
- Số liệu thống kê:
Tuy số liệu thống kê chỉ là những con số, song trong giảng dạy
bộ môn GDCD không thể thiếu chúng được. Đó chính là một trong
những cơ sở, đôi khi là cơ sở duy nhất để rút ra những kết luận khoa
học về sự vận động phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới
khách quan. Và cũng vì vậy, khi nêu lên các số liệu thống kê, giáo
viên cần rút ra các tri thức kết luận cần thiết phục vụ bài giảng.
HIV/100.000 dân theo khu vực thấy tỷ lệ tại miền Đông Nam Bộ cao
nhất cả nước (408/100.000), tiếp đến là khu vực miền núi phía Bắc:
357/100.000 dân...
Các số liệu thống kê không thiếu trong các sách báo, tạp chí,
mạng Internet...ở đây, đòi hỏi giáo viên cần lưu tâm sưu tập chúng để
sử dụng phù hợp trong các bài giảng.
2.2.2 Phim ảnh:
Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà phim ảnh chưa được sử
dụng trong môn GDCD nhất là các trường ở khu vực nông thôn.
Nhưng khi điều kiện cho phép, giáo viên nên triệt để sử dụng phim
ảnh (kể cả phim đèn chiếu) để truyền thụ kiến thức cho học sinh. Các
phim khoa học đều có liên quan chặt chẽ đến tri thức của bộ môn nhất
là chương trình lớp 10 và lớp 11. Các phim khác được chiếu rộng rãi
đều có liên quan mặt này hay mặt khác của nội dung kiến thức trong
môn GDCD. Nguồn các phim liên quan đền bộ môn hiện nay cũng rất
sẵn trên mạng Internet, giáo viên có thể tải trong Youtube rất nhiều
những đoạn video có liên quan phục vụ cho bài dạy. Đặc biệt là khi
giáo viên sử dụng giáo án điện tử thì việc sử dụng các đoạn vi deo để
minh họa cho bài giảng là rất cần thiết, thuận lợi và có hiệu quả. Ví dụ
như những đoạn video nói về mối quan hệ giữa bạn bè cùng giới, khác
giới rất thích hợp khi giáo viên dạy bài Tình bạn, Tình yêu trong
chương trình GDCD lớp 10.
Tuy nhiên, khi sử dụng phim ảnh, giáo viên cần hướng dẫn học
sinh biết cách suy nghĩ, phân tích, tiếp thu nội dung của phim. Điều
13
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
kiến thức cho học sinh. Bởi vì, nhiều khi học sinh chỉ chú ý tới các
hình ảnh, dữ liệu trên màn chiếu mà không chú ý tới nội dung, kiến
14
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm dù thi
thức bài giảng, như vậy sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của tiết học cũng
như việc tiếp thu tri thức của học sinh.
Mặt khác, để sử dụng được giáo án điện tử còn phụ thuộc vào
điều kiện, cơ sở vật chất của mỗi nhà trường. Điều đó có nghĩa là, các
nhà trường phải có các phòng nghe nhìn được trang bị đầy đủ máy
móc thiết bị (máy tính, máy chiếu, màn chiếu...), giáo viên nên phòng
chỉ việc cắm USB vào là có thể sử dụng được giáo án điện tử. Không
riêng gì đối với bộ môn GDCD, mà cả những bộ môn khác nữa, nếu
như giáo viên sử dụng tối đa giáo án điện tử vào giảng dạy thì chắc
chắn học sinh sẽ rất hứng thú khi học bài và tiết học sẽ đạt hiệu quả
cao. Đối với bộ môn GDCD, trong tình hình hiện nay, thì việc thường
xuyên sử dụng giáo án điện tử là rất cần thiết, hầu như bài nào chúng
ta cũng có thể soạn giảng bằng giáo án điện tử.
Tuy nhiên, như trên đã nói, việc soạn giảng giáo án điện tử đòi
hỏi giáo viên phải đầu tư về mặt thời gian để soạn cũng như tìm kiếm
các dữ liệu như tranh, ảnh, video...liên quan đến bài giảng để đưa vào
soạn giảng. Riêng về vấn đề này cũng không có gì là khó khăn, giáo
viên có thể lên mạng vào thư viện bài giảng điện tử tải các bài giảng
của bộ môn xuống để tham khảo. Giáo viên vừa có thể tham khảo
được kiến thức của bài giảng vừa học luôn cách tạo các hiệu ứng trong
phần mềm Powerpont, để từ đó có thể chủ động soạn giảng một giáo
hợp của trường có thể vào dịp các ngày lễ như: 20/11, 22/12, 8/3...
Chúng ta cũng không nên nghĩ rằng, việc tổ chức tham quan là
rất phức tạp, khó khăn và tốn kém. Tham quan thực tế là phải tổ chức
cho học sinh đến một địa danh nào đó ở xa thì mới gọi là tham quan,
nếu như vậy thì chúng ta sẽ không bao giờ thực hiện được. Chúng ta
có thể tổ chức cho học sinh đi tham quan thực tế các địa danh ở ngay
địa phương mình ví dụ như ở trường THPT Xuân Trường có thể tổ
chức cho học sinh vào thăm khu lưu niệm nhà Bác Trường Chinh chỉ
cách trường có mấy trăm mét, hoặc thăm viếng nghĩa trang liệt sỹ ở
địa phương vào dịp 27/7 hàng năm để giáo dục truyền thống, giáo dục
lý tưởng, truyền thống yêu quê hương đất nước cho học sinh. Hoặc
giáo viên có thể tổ chức cho học sinh đi tham quan nhà thờ Phú Nhai,
nhà thờ Bùi Chu liên quan đến bài học: Công dân với các vấn đề dân
tộc và tôn giáo ở chương trình lớp 12...
16
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm dù thi
Có thể nói, trong điều kiện hiện nay, khi cơ sở vật chất cho
giảng dạy bộ môn hầu như không có thì việc tổ chức tham quan nhằm
nâng cao nhận thức về bộ môn, củng cố tri thức cho học sinh, phát
triển năng lực tư duy, khả năng vận dụng tri thức, giáo dục tính tính
cực xã hội, đạo đức, tình cảm, thẩm mĩ cho học sinh là rất cần thiết và
có thể thực hiện được. Tùy theo điều kiện và khả năng của từng
trường, có thể tổ chức những buổi tham quan theo chủ đề nhất định,
hoặc kết hợp nhiều chủ đề trong một buổi tham quan.
tích, giảng giải kĩ lưỡng, rút ra kết luận chính xác để đảm bảo tính
thuyết phục cao, tính hướng đích của chúng. Đồng thời giáo viên cần
hướng dẫn cho học sinh tập trung vào những nội dung, những khía
cạnh phục vụ cho học tập.
Các hình thức trực quan không chỉ có tác dụng minh họa cho bài
giảng, mà còn có tác dụng tới việc hình thành, phát triển, củng cố tri
thức khoa học cho học sinh. Vì thế khi sử dụng bất kì hình thức trực
quan nào, giáo viên một mặt phân tích, giảng giải, mặt khác, hướng
dẫn cho học sinh biết tự rút ra kết luận cần thiết, tri thức muốn đạt tới.
Muốn vậy, giáo viên cần giúp cho học sinh biết tập trung suy nghĩ,
chú ý tới những điểm chủ yếu, bỏ qua những cái thứ yếu trong tài liệu
trực quan, biết hướng tư duy tới những kết luận khoa học cần thiết.
Tuy những tài liệu trực quan có tác dụng tốt trong quá trình
truyền thụ tri thức khoa học của giáo viên và lĩnh hội tri thức của học
sinh. Nhưng chúng cũng dễ dàng hình thành ở học sinh phương pháp
tư duy máy móc, siêu hình, xem xét nhận thức sự vật trong sự cô lập,
phiến diện. Vì thế, giáo viên cần, trước hết, phân tích tài liệu trực quan
và sau đó tổng hợp chúng để rút ra kết luận khoa học, nêu lên mối
quan hệ biện chứng giữa chúng. Đồng thời, thông qua phương pháp
giảng dạy của bản thân giúp cho học sinh phương pháp tư duy khoa
học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí tuệ cho các em.
Ngoài ra, để bài giảng thu được kết quả tốt, giáo viên cần sử
dụng kết hợp phương pháp trực quan với các phương pháp giảng dạy
khác.
III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI
Có thể nói khi giáo viên sử dụng có hiệu quả phương pháp trực
quan trong giảng dạy bộ môn, chúng ta thấy ở các tiết học trở lên sôi
nổi hơn, học sinh cảm thấy rất hào hứng mỗi khi đến giờ học GDCD.
18
224/510 hs = 44.1%
429/510 hs = 84.1%
12
234/520 hs = 45.1%
452/520 hs = 86.9%
Bên cạnh việc thu hút được nhiều học sinh đối với môn học, khi
đánh giá, kiểm tra chất lượng học tập, khả năng hiểu bài, lĩnh hội kiến
thức bộ môn của học sinh, chúng ta cũng thấy tăng lên rõ rệt. Tỉ lệ học
sinh đạt điểm Khá, Giỏi đạt từ 80% trở lên. Không có học sinh bị dưới
điểm TB.
Ngoài ra, việc đầu tư để soạn giảng một giáo án có sử dụng
phương pháp trực quan làm chủ đạo là việc không quá mấy khó khăn
khi trong điều kiện hiện nay với sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Giáo viên chỉ cần đầu tư một chút thời gian vào mạng Internet để tải
các dữ liệu trực quan liên quan đến bài dạy là có thể soạn hoàn thiện
một giáo án để giảng dạy.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân, trong giảng dạy
bộ môn GDCD ở trường THPT. Do đặc điểm, tình hình ở mỗi trường
khác nhau và thời gian nghiên cứu để viết sáng kiến có hạn, cho nên
khó tránh khỏi những thiếu xót. Rất mong nhận được những ý kiến
19
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng
Danh mục các tài liệu tham khảo:
- Phương pháp giảng dạy môn GDCD ( Vương Tất Đạt - Chủ
biên)
- Sách giáo khoa GDCD lớp 10, 11, 12 ( Nhà xuất bản giáo dục 2007)
- Chữ viết tắt : GDCD - Giáo dục công dân
THPT - Trung học phổ thông
21
T¸c gi¶: NguyÔn TiÕn Ph¬ng