ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ KHUYÊN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA THỜI VỤ CẤY TỚI SINH TRƯỞNG,
NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA
TẠI CAO BẰNG
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số : 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng
2. TS. Đặng Quý Nhân
Thái Nguyên, năm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa từng được công bố.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Đ/c
:
Đối chứng
BVTV
:
Bảo vệ thực vật
TGST
:
Thời gian sinh trưởng
NSLT
:
Năng suất lý thuyết
NSTT
:
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Đặt vấn đề ...................................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................ 2
3. Yêu cầu của đề tài ......................................................................................... 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ........................................................ 2
Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ....................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học............................................................................................ 3
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên Thế giới...................................... 4
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới ..................................................... 4
1.2.2. Tình hình nghiên cứu giống lúa trên thế giới ........................................ 7
1.3. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa ở trong nước ....................................... 11
1.3.1. Tình hình sản suất lúa ở Việt Nam ......................................................11
1.3.2. Tình hình nghiên cứu giống lúa trong nước ..........................................20
1.4. Tình hình nghiên cứu về thời vụ gieo cấy lúa trên thế giới và Việt Nam ....27
1.41.Ảnh hưởng của thời vụ gieo cấy lúa ......................................................27
1.4.2.Tình hình nghiên cứu về thời vụ gieo cấy trên thế giới .........................28
1.4.3.Tình hình nghiên cứu về thời vụ gieo cấy ở Việt Nam ..........................29
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................34
2.1. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu .................................................................34
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ..........................................................................34
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................................34
2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu .......................................................35
2.2.1. Thí nghiệm 1 .......................................................................................37
2.2.2. Thí nghiệm 2 .......................................................................................38
2.3. Kỹ thuật chăm sóc .....................................................................................38
v
vi
3.3.4. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa tham
gia thí nghiệm vụ Xuân 2014 ........................................................................71
3.3.5. Khả năng chống chịu sâu, bệnh hại của các giống lúa tham gia thí
nghiệm vụ Xuân 2014 ...................................................................................79
3.4. Một số đặc điểm nông học của các giống lúa tham gia thí nghiệm .............80
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .................................................................................83
1.Kết luận .........................................................................................................83
2. Đề nghị .........................................................................................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................85
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới giai đoạn 2001 - 2013 .................... 5
Bảng 1.2: Năng suất lúa của một số nước đứng đầu thế giới giai đoạn 20082012 ......................................................................................................... 6
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam giai đoạn 2001 - 2013....................12
Bảng 1.4: Giá gạo xuất khẩu bình quân của một số quốc gia trên Thế giới ............14
Bảng 2.1: Nguồn gốc, loại hình canh tác của các giống lúa tham gia thí nghiệm ...........34
Bảng 3.1: Điều kiện thời tiết khí hậu tại tỉnh Cao Bằng từ 07/ 2013 –
07/2014 ...................................................................................................45
Bảng 3.2. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2013..........47
Bảng 3.3. đặc điểm sinh trưởng của cây mạ vụ Mùa 2013 .....................................49
Bảng 3.4. Đặc điểm hình thái và khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí
nghiệm vụ Mùa 2013...............................................................................51
Bảng 3.5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống lúa thí
nghiệm vụ Mùa 2013...............................................................................55
Bảng 3.6. Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống lúa thí nghiệm vụ
ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng nhưng chưa nâng cao được năng suất lao động và thu
nhập của người dân. Vì vậy, vấn đề chuyển đổi cơ cấu giống lúa có ý nghĩa kinh tế xã hội rất thiết thực.
Tỷ lệ sử dụng giống lúa thuần xác nhận, lúa lai hàng năm trên địa bàn tỉnh đạt
khoảng 35%. Trong đó, diện tích lúa lai chiếm khoảng 30%, lúa thuần giống xác
nhận chiếm khoảng trên 5%, số diện tích còn lại chủ yếu là do người dân tự để
giống, nhiều giống lúa qua sản xuất nhiều năm đã thoái hoá, nhiễm sâu bệnh nặng
nên năng suất thấp, điển hình như giống lúa Đoàn kết được trồng tại huyện Phục
Hoà trong vụ mùa 2013 đã bị bệnh lúa Von do virrut. Cơ cấu giống lúa gieo cấy ở
vụ xuân: Bắc thơm 7, Khang dân, Nhị ưu 838, Nhị ưu 636, Thục hưng 6...Cơ cấu
giống lúa gieo cấy ở vụ mùa: Bao thai, Đoàn kết, Nhị ưu 838..., còn lại phần lớn
diện tích là các giống địa phương do người dân tự để giống.
Từ thực tế sản xuất đòi hỏi cần thiết phải thực hiện chuyển đổi cơ cấu giống,
đưa các giống lúa chất lượng cao, có thời gian sinh trưởng ngắn để chuyển dịch thời
vụ, luân canh với cây trồng hiện có, sản xuất 3 vụ/năm góp phần tăng thu nhập trên
đơn vị diện tích đất canh tác, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đã tập
trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu giống lúa, chuyển sang các giống lúa chất lượng
cao, phấn đấu đến năm 2020 tổng diện tích lúa chất lượng của tỉnh đạt khoảng
10.000 ha [14].
Nhằm phát huy tốt sự đa dạng về điều kiện khí hậu của vùng, cũng như đáp
ứng đòi hỏi lựa chọn được những giống lúa chất lượng, có tiềm năng năng suất phù
hợp với tập quán canh tác và điều kiện tự nhiên của tỉnh, chúng tôi đề xuất đề tài
nghiên cứu : “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ cấy tới sinh trưởng, năng suất
của một số giống lúa tại tỉnh Cao Bằng”
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định khung thời vụ tốt nhất cho các giống lúa tại tỉnh Cao Bằng.
- Lựa chọn được bộ giống lúa có ưu thế về năng suất và chất lượng, thích nghi
tốt với điều kiện khí hậu địa phương, là căn cứ để mở rộng diện tích sản xuất lúa
chất lượng cao tại Cao Bằng.
hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tập quán canh tác của địa phương.
Một giống lúa tốt phải đạt được một số yêu cầu sau:
- Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu, đất đai và điều kiện canh
tác tại địa phương.
- Cho năng suất cao, ổn định qua các năm khác nhau trong giới hạn biến động
của thời tiết.
- Có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh.
- Có chất lượng đáp ứng yêu cầu sử dụng.
Vì vậy, một trong những biện pháp kinh tế, kỹ thuật nhằm tận dụng các điều
kiện tự nhiên, tiết kiệm chi phí sản xuất là bố trí cơ cấu giống phù hợp với thổ
nhưỡng và khí hậu của từng vùng. Lựa chọn được cơ cấu giống lúa chất lượng để
đưa vào sản xuất ở mỗi vùng, mỗi địa phương nhằm đảm bảo sự thích nghi và phù
hợp của giống lúa đó với điều kiện cụ thể nơi sản xuất là một việc rất quan trọng.
Bên cạnh đó, do sự trải dài của lãnh thổ nước ta từ vĩ tuyến 8027’ Bắc đến 23023’
Bắc và sự đa dạng về địa hình nên khí hậu nước ta có những nét đặc trưng riêng của
từng vùng miền. Diễn biến thời tiết, khí hậu ngày càng phức tạp, sự thay đổi của
điều kiện thời tiết ảnh hưởng rất lớn đến các quá trình sinh trưởng của giống lúa. Do
đó, việc xác định được một khung thời vụ thích hợp cho từng giống lúa ở từng vùng
cụ thể, nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho cây lúa sinh trưởng, phát triển và
giảm thiểu các tác động bất lợi của thời tiết, sâu bệnh nhằm mục đích cuối cùng là
thu được năng suất cao nhất là một vấn đề vẫn đang bị bỏ ngỏ và cần được nghiên
cứu sâu hơn nữa.
*Những căn cứ để xây dựng đề tài:
- Nghị quyết số 63/NQ-CP của Chính phủ chỉ rõ phát huy lợi thế về cây lúa là
chính, tiếp tục đẩy mạnh thâm canh sản xuất lúa, phát triển thành các vùng sản xuất
hàng hóa có hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đảm bảo mục tiêu quốc gia về an ninh
lương thực là ưu tiên hàng đầu.
- Dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp, sở Nông nghiệp và Phát triển nông
lúa lớn nhất thế giới với diện tích 37 triệu ha, tiếp theo là Trung Quốc 30,1 triệu
ha... Bên cạnh đó, cũng có những nước có diện tích trồng lúa nhỏ như Jamaica 1 ha,
Swaziland 35 ha.
Trong lịch sử phát triển thì cây lúa là loại cây trồng có tốc độ phát triển tương
đối nhanh về cả diện tích, năng suất và sản lượng. Dưới đây là bảng số liệu về diện
tích, năng suất và sản lượng lúa toàn Thế giới giai đoạn 2001 – 2013:
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới giai đoạn 2001 - 2013
2001
Diện tích
(triệu ha)
151,9
Năng suất
(tạ/ha)
39,5
Sản lượng
(triệu tấn)
599,8
2002
147,6
38,7
571,4
641,2
2007
155,0
42,4
657,2
2008
157,7
43,7
689,0
2009
158,4
43,2
684,8
2010
161,7
(Nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2014 | 18 August 2014)
Qua bảng số liệu 1.1 cho ta thấy được tình hình sản xuất lúa trên thế giới có
nhiều biến động.
Diện tích trồng lúa có nhiều thay đổi từ 151,9 triệu ha năm 2001 xuống còn
147,6 triệu ha năm 2002, nhưng sau năm 2002 thì diện tích có xu hướng tăng đều
qua các năm.
Năng suất lúa có xu hướng tăng và khá ổn định qua các năm. Năng suất lúa
thấp nhất là 39,5 tạ/ha vào năm 2001. Sau đó tăng khá đều qua các năm và đạt cao
nhất là 44,9 tạ/ha vào năm 2013.
Qua sự biến động của diện tích và năng suất thì ta cũng phần nào biết được
sản lượng thực tế của sản xuất lúa gạo trên toàn thế giới. Mặc dù năng suất tăng,
nhưng sự suy giảm về diện tích trồng vẫn làm cho sản lượng lúa giảm. Cụ thể, sản
lượng lúa đạt 599,8 triệu tấn vào năm 2001 xuống còn 571,4 triệu tấn năm 2002.
Sau đó, cả diện tích, năng suất đều tăng nên sản lượng cũng tăng theo và đạt cao
nhất là 745,2 triệu tấn năm 2013.
Mặc dù, Châu Á có diện tích trồng lúa và sản lượng lớn nhất nhưng năng suất
cao nhất lại là ở Châu Âu và Châu Đại Dương. Để chứng minh cho điều này, dưới
đây là Bảng 1.2, thống kê một số nước có năng suất lúa đứng đầu Thế giới.
Bảng 1.2: Năng suất lúa của một số nước đứng đầu thế giới
giai đoạn 2008-2012
Nước
(Đơn vị: tạ/ha)
2012
2008
2009
76,7
79,4
75,4
79,2
83,5
Tây Ban Nha
69,2
76,6
75,9
75,8
77,6
Uruguay
79,0
80,1
71,0
69,6
64,1
68,3
70,2
76,0
Hy Lạp
67,4
70,7
67,5
78,7
71,4
(Nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2014 | 07 July 2014)
Dựa vào bảng số liệu 1.2, ta thấy năng suất lúa bình quân của các nước cao
nhất thế giới trong bảng cao hơn rất nhiều so với năng suất trung bình của thế giới.
Đứng đầu thế giới về năng suất lúa là Ai Cập với mức năng suất kỉ lục là 97,3 tạ/ha
(2008) và năng suất lúa giai đoạn từ 2008-2012 đều đạt trên 90 tạ/ha, gấp 2-2,5 lần
sự ra đời của các giống lúa, mà sự ra đời của các giống này đã tạo ra sự nhảy vọt về
năng suất, phẩm chất lúa như: IR5, IR6, IR20, IR22, IR26, IR36,... Những năm 80
(thế kỷ XX) giống IR8 được trồng phổ biến ở Việt Nam đã đưa năng suất lúa tăng
cao đáng kể. Cuộc “cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 (thế kỷ XX) đã có ảnh
hưởng tích cực đến sản lượng lúa của châu Á. Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được tạo ra
để nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo. Các nhà nghiên cứu của Viện nghiên
cứu lúa Quốc tế (IRRI) đã nhận thức rằng các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, tiềm
năng năng suất cao cũng chỉ có thể giải quyết vấn đề lương thực trong phạm vi hạn
chế. Hiện nay, Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa
cao sản (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2
giống là IR64 và Jasmin là giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều
nơi trên Thế giới.
Trên cơ sở một số giống lúa chất lượng cao, chủ yếu được trồng phổ biến ở
châu Á, Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có
hàm lượng Vitamin và Protein cao, có mùi thơm, cơm dẻo... vừa để giải quyết
vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của
người tiêu dùng.
Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế bắt đầu phát triển giống lúa thơm Basmati năng
suất cao vào đầu năm 1970. Nghiên cứu được thực hiện trên những cặp lai đầu tiên,
giữa giống lúa Basmati 370 và các dòng lúa Indica cải tiến có hàm lượng amyloza
trung bình và nhiệt độ hóa hồ trung bình. Những dòng thấp cây từ quần thể con lai
được chọn lọc, những dòng này có mức độ hữu thụ khác nhau và dạng cây khác
nhau. Sau khi tiến hành lai chéo các dòng này thu được các dạng cây và độ hữu thụ
khác nhau. Những cây có dạng khỏe và độ hữu thụ cao được chọn ra để phân tích
hàm lượng amyloza, nhiệt độ hóa hồ và hương thơm. Những dòng có dạng cây xấu,
độ hữu thụ thấp, chất lượng hạt kém và độ thơm thấp được loại bỏ qua các thế hệ.
Sau một số chu kỳ lai và chọn lọc những dòng có dạng cây khỏe, thấp cây, đáp ứng
được các đặc điểm về chất lượng như Basmati được chọn lọc và tiến hành khảo
nghiệm tại IRRI, Ấn Độ và Pakistan [26].
Thái Lan là nước xuất khẩu lúa gạo đứng đầu Thế giới. Với những ưu đãi của
thiên nhiên Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dù năng suất và sản
lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ chú trọng đến việc chọn tạo giống
có chất lượng gạo cao. Các trung tâm nghiên cứu lúa của Thái Lan được thành lập ở
nhiều tỉnh và các khu vực. Các trung tâm này có nhiệm vụ tiến hành chọn lọc, phục
tráng, lai tạo, nhân giống phục vụ cho nhu cầu sản xuất của người dân với mục tiêu
phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Các đặc điểm nổi bật của các giống lúa
mà các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và lai tạo đó là hạt gạo dài và trong, ít
dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất, điều này
cho chúng ta thấy rằng giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan bao giờ cũng cao hơn
của Việt Nam. Ở Thái Lan có hai giống lúa thơm nổi tiếng là Khao Dak Mali và
Jasmine 85. Gạo thơm Khao Dak Mali có ít hơn 20% amyloza nên hạt cơm sau khi
nấu hạt còn hơi dính vào nhau.
Đối với Nhật Bản, công tác giống lúa cũng được đặc biệt chú trọng về giống
chất lượng cao vì người Nhật giàu có, nên nhu cầu đòi hỏi lúa gạo chất lượng cao.
Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, các Viện và các Trạm nghiên cứu giống lúa
được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành của Nhật Bản, trong đó có các trung tâm
quan trọng nhất đặt ở Sendai, Niigata, Nagoya, Fukuoka, Kochi, Miyazaki, Saga,...
là những nơi diện tích trồng lúa lớn. Trong công tác nghiên cứu giống lúa ở các
Viện, các nhà khoa học Nhật Bản đã tập trung lai tạo và đưa vào sản xuất các giống
lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốt như Koshihikari, Sasanisiki, Koenshu...
Giống lúa Koshihikari là giống lúa cổ truyền của Nhật, thuộc loài phụ Japonica, có
chất lượng cao, hương vị rất được ưa thích trong những bữa ăn chính của người
Nhật. Giống lúa Koshihikari được xem như là lúa Basmati của Nhật với diện tích
gieo trồng chiếm khoảng 30% tổng diện tích trồng lúa ở nước này. Đặc biệt ở Nhật
đã lai tạo được 2 giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất
cao như giống: Miyazaki1 và Miyazaki2. Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được
vị trí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó là hàm lượng Protein cao tới 13%, hàm
1.3. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa ở trong nước
1.3.1. Tình hình sản suất lúa ở Việt Nam
Việt nam là một nước nông nghiệp với đa số người dân sinh sống bằng nông
nghiệp. Trải qua 4000 năm lịch sử, cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của dân
tộc. Nước ta nằm ở tọa độ 8030’ – 23023’ vĩ tuyến Bắc và 102010’ – 109029’ kinh
tuyến Đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới. Với đặc điêm khí nậu này đã phần nào
khẳng định tiềm năng phát triển cây lúa.
Cây lúa là cây lương thực chính trong mục tiêu phát triển nông nghiệp của
Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực Quốc gia và xuất khẩu. Lúa ở
Việt Nam được trồng trải dài từ Bắc vào Nam và có 3 vùng trồng lúa chủ yếu là ĐB
Sông Hồng, ĐB Sông Cửu Long và ĐB Duyên hải miền Trung. Trong đó, ĐB Sông
Cửu Long (3,1 triệu ha) và ĐB Sông Hồng (1,7 triệu ha) được coi là 2 vựa lúa chính
của cả nước.
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam giai đoạn 2001 - 2013
Năm
Diện tích
(Triệu ha)
Năng suất
(Tạ/ha)
Sản lượng (Triệu
tấn)
2001
7,49
7,33
48,9
35,83
2006
7,32
48,9
35,85
2007
7,21
49,9
35,94
2008
7,40
52,3
38,73
43,66
2013
7,90
55,7
44,04
(Nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2014 | 17 November 2014)
Qua bảng 1.3 ta thấy: Diện tích trồng lúa của nước ta giữ ở mức ổn định từ 7,2
– 7,7 triệu ha, từ năm 2001 – 2008 diện tích có xu hướng giảm: 7,5 triệu ha giảm
xuống 7,2 triệu ha, từ năm 2009 – 2013 diện tích có xu hướng tăng từ 7,4 triệu ha
tăng lên 7,90 triệu ha. Năng suất qua các năm trở lại đây có chiều hướng tăng: 52,4
tạ/ha (2009) tăng lên 56,3 tạ/ha (2012). Năm 2013, năng suất có sự sụt giảm nhẹ
nhưng do diện tích gieo cấy tăng lên 7,90 triệu ha nên sản lượng vẫn tăng so với các
năm trước, lên 44,04 triệu tấn. Tuy nhiên, nếu so sánh với các nước trồng lúa tiên
tiến như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan... thì năng suất lúa của Việt
Nam vẫn còn kém xa.
Trong năm 2012, Việt Nam đứng thứ hai Thế giới về xuất khẩu gạo với 7,72
triệu tấn gạo, kim ngạch xuất khẩu gạo đạt 3,45 tỷ USD. Nhưng bước sang năm
2013, xuất khẩu gạo của Việt Nam đã rơi xuống vị trí thứ ba, sau Ấn Độ và Thái
Lan. Theo Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA), cả năm 2013 Việt Nam xuất khẩu
đạt 6,68 triệu tấn gạo, trị giá FOB đạt 2,89 tỷ USD, giảm 13,45% về lượng và giảm
16,12% về trị giá FOB so với năm 2012. Giá xuất khẩu bình quân FOB đạt 433
USD/tấn, giảm 13,79 USD/tấn so với cùng kỳ. Điều đáng chú ý là gạo cấp thấp vẫn
2008
2009
2010
Thái Lan 100% B loại 2
311
335
695
587
518
Thái Lan 5%
304
325
682
555
492
553
384
387
Pakistan 25%
230
290
498
351
372
Thái Lan A1
217
275
506
329
386
914
954
1.045
(Nguồn: FAO Market Monitor, Jan 2011, * India rice Associations)
Dưới đây là biểu đồ so sánh giá gạo xuất khẩu của Việt Nam và Thái Lan giai
đoạn từ 2006 – 2010:
(Đơn vị: USD/tấn)
Biểu đồ 1.2: Giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam và Thái Lan
(Nguồn: VFA & Thai rice exporter Associations)
Về thị trường xuất khẩu, năm 2013, các thị trường tiêu thụ gạo Việt Nam đã
có sự thay đổi đáng kể. Châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất (60,15%), trong đó nhiều
nhất là Trung Quốc (chiếm 33,24%); đứng thứ hai là châu Phi và thứ ba là châu Mỹ.
Đặc biệt, nếu xét về quốc gia, Trung Quốc trở thành thị trường xuất khẩu gạo lớn
nhất của Việt Nam liên tiếp trong hai năm qua [3].
*Tình hình sản xuất gạo chất lượng cao ở Việt Nam
Theo Báo cáo sơ kết sản xuất vụ Hè Thu và vụ Mùa năm 2012 các tỉnh phía
Bắc của Cục Trồng trọt – Bộ NN&PTNT, diện tích lúa chất lượng tiếp tục tăng, đạt
459,42 nghìn ha chiếm 39,3% tổng diện tích lúa gieo cấy. Một số tỉnh, thành phố có
diện tích gieo cấy lớn lúa chất lượng như: Hà Nội 32,33 nghìn ha (31%), Thanh Hoá
28,48 nghìn ha (21%), Hưng Yên 21,76 nghìn ha (55%)…Một số giống lúa chất
lượng mới được sản xuất chấp nhận đang mở rộng nhanh vào sản xuất: Nam Định 5,
RVT, QR1, Nếp ĐT52, Nàng Xuân, nếp Lang Liêu, nếp PD2, giống Japonica ĐS1...