Luận văn thạc sĩ báo chí học tuyên truyền về biến đổi khí hậu của các đài truyền thanh cấp huyện ở cà mau hiện nay - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TUYÊN TRUYỀN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CỦA CÁC ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN
Ở CÀ MAU HIỆN NAY
(Khảo sát năm 2014)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

CẦN THƠ - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TUYÊN TRUYỀN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CỦA CÁC ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN
Ở CÀ MAU HIỆN NAY
(Khảo sát năm 2014)
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01


1.3. Thực trạng biến đổi khí hậu hiện nay
1.4. Nhiệm vụ của báo phát thanh, truyền thanh ở Cà Mau trong tuyên
truyền về biến đổi khí hậu
Chương 2: THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở
CÁC ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN Ở CÀ MAU

10
10
18
21
26
38

2.1. Thực trạng nội dung và hình thức tuyên truyền về biến đổi khí
hậu của các đài truyền thanh cấp huyện ở Cà Mau
2.2. Thực trạng tiếp nhận thông tin và nhu cầu thực tế của công chúng

38

Cà Mau về biến đổi khí hậu

56

2.3. Đánh giá chung về thực trạng tuyên truyền về biến đổi khí hậu
của các đài truyền thanh cấp huyện ở Cà Mau

63

2.4.Vấn đề đặt ra đối với hoạt động tuyên truyền về biến đổi khí hậu
của các đài truyền thanh cấp huyện ở Cà Mau

ĐBSCL

:

Đồng bằng sông Cửu Long

GS, PGS. TS. Ths :

Giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ

IPCC

:

Ủy ban liên Chính phủ về thay đổi khí hậu

KT&TV

:

Khí tượng và thủy văn

Kyoto

:

Công ước khung của Liên hợp quốc
về biến đổi khí hậu

NBD


:

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
36
53

Bảng 1.1:
Bảng 2.1:
Bảng 2.2:

Kinh phí các đài truyền thanh ở Cà Mau năm 2014
Chuyên mục của các đài TTCH ở Cà Mau
Thống kê cơ sở vật chất, kỹ thuật đài TTCH và trạm

61

Bảng 3.1:

truyền thanh xã, thị trấn
Thống kê chi trả chế độ nhuận bút và thanh toán công
tác phí các đài năm 2014

74

Biểu đồ 2.1:

Những năm gần đây biến đổi khí hậu đã và đang hủy diệt sự sống của loài
người, hàng loạt trận động đất, sóng thần, thiên tai bảo lũ…xảy ra trên thế giới.
Ngay cả những nước phát triển, công nghệ hiện đại thi hệ thống cảnh báo thiên
tai vẫn bị động trước sự diễn biến bất thường. Cho thấy BĐKH đã vượt qua sự
kiểm soát, cảnh báo của con người và trở thành vấn đề cấp bách cho toàn nhân
loại. Việt Nam được đánh giá là một trong năm Quốc gia dễ bị tổn thương và có
nguy cơ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH). Lũ lụt, hạn
hán, mưa bảo, thủy triều dâng, sạt lở đất, lốc xoáy....diễn ra không còn theo chu
kỳ. Chính vì vậy, nghiên cứu về BĐKH, xu thế và các tác động của nó đối với
Việt Nam là rất cần thiết.
Cà Mau là tỉnh cực Nam Tổ Quốc, nằm trong khu vực đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL), có 03 mặt giáp biển, với chiều dài 254km, có 87 cửa
sông thông ra biển, khoảng 10.000km sông, rạch, kênh mương... Nằm ở vị trí
địa lý đặc biệt như vậy, Cà Mau chịu ảnh hưởng lớn nhất của BĐKH gây ra
so với các tỉnh khác ở ĐBSCL. Hàng năm, vào khoảng tháng 8 đến tháng 12
âm lịch, sạt lở đất, lốc xoáy và nước biển dâng, xâm mặn, dịch bệnh xuất hiện
và có diễn biến gay gắt. Mũi Cà Mau được biết đến là vùng đất ngày đêm lấn
biển, nhưng khoảng ba năm trở lại đây dòng thủy triều biến động diện tích đất
ven biển sạt lở nghiêm trọng. Mỗi năm Cà Mau mất khoảng 900ha đất, trong
đó hơn 120 ha đất ven biển, còn lại là đất ven sông. Biến đổi khí hậu hiện nay
tác động mạnh đến tình hình kinh tế - xã hội đối với 8 huyện, thành phố trong
tỉnh Cà Mau.
Tuy nhiên, nhận thức của người dân về BĐKH chưa cao, chặt phá rừng
do con người gây ra là nguyên nhân chính BĐKH. Ảnh hưởng rõ nhất là hai
năm trở lại đây (2013 -2014) lốc xoáy, sạt lở đất, nước biển dâng xảy ra rải rác
trong năm, không theo mùa như trước đây. Hệ thống đài truyền thanh cấp huyện


2
(TTCH) giữ vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng, chính quyền, diễn đàn của


Phước (2010) “Mạng lưới phát

thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây
Nam Bộ - thực trạng và giải pháp phát triển (dựa
trên tư liệu khảo sát ở Vĩnh Long và An Giang)”,
Luận văn Thạc sỹ

Báo chí học: tập trung vào đánh giá

thực trạng mạng lưới truyền thanh cơ sở ở hai
tỉnh Vĩnh Long và An Giang và các vấn đề bất
cập đối với hệ thống quản lý truyền thanh cơ
sở, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần xây
dựng hệ thống đài truyền thanh phù hợp với
điều kiện và đặc thù ở từng địa phương.
Nguyễn Thanh Lâm (2013) “Hoàn thiện mô hình tổ chức họat động
mạng lưới truyền thanh cơ sở các huyện ven biển tỉnh Bến Tre”, Luận văn
Thạc sỹ Báo chí học: Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát và phân tích vấn đề lý
luận và thực tiễn mô hình tổ chức đối với các đài truyền thanh ở các huyện
ven biển, luận văn nêu bật được thực trạng về mô hình tổ chức mạng lưới
truyền thanh cơ sở các huyện ven biển ở Bến Tre, chỉ rõ nét đặc thù của địa
phương khi xây dựng mô hình tổ chức, từ đó đưa ra nhóm giải pháp xây dựng
mô hình tổ chức phù hợp với các đài truyền thanh huyện ven biển, không chỉ
riêng ở Bến Tre, mà cả hệ thống truyền thanh huyện ven biển của 28 tỉnh có
huyện ven biển trong cả nước.


4
Lâm Thị Thu Hồng (2009) “ Nâng cao chất lượng hoạt động truyền

pháp phù hợp, nhằm giúp các cơ quan báo chí này nâng cao hiệu quả chương
trình cũng như chuyên mục, giúp công chúng hiểu rõ vấn đề mình quan tâm
mà có hướng chọn lựa phù hợp.
Nguyễn Thị Bích Hạnh (2010) “Vấn đề tuyên truyền biến đổi khí hậu
trên báo in Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Báo chí học: Khảo sát và đánh giá
thực trạng công tác tuyên truyền về BĐKH trên báo in Việt Nam, từ đó gợi ý
giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền về BĐKH trên phương tiện báo
in, trong đó có Báo Cà Mau.
Phạm Thị Thanh Tịnh (2011) “Nhu cầu tiếp nhận thông tin phát thanh
của công chúng nông thôn vùng Đồng Bằng Sông Hồng hiện nay” Luận án
Tiến sỹ Báo chí học: Nghiên cứu về điều kiện và nhu cầu tiếp cận thông tin
phát thanh của công chúng nông thôn, từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp,
nhằm giúp các Đài Phát thanh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin
của công chúng nông thôn, công chúng truyền thông của các đài nói chung và
ở khu vực Đồng bằng sông Hồng nói riêng.
Phan Văn Đức (2010) “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
đến sinh kế và sức khỏe cộng đồng ở xã Hương Phong, huyện Hương Trà,
tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất các giải pháp thích ứng”, Luận văn Thạc sỹ
ngành Khoa học và Môi trường: Chủ yếu nghiên cứu sự BĐKH dưới góc độ
xã hội học, không đề cập đến góc độ báo chí. Tuy nhiên, đây cũng là một tài
liệu tham khảo tốt về nội dung ảnh hưởng của BĐKH đối với xã hội.
Mèo Quốc Việt (2013) “ Hiệu quả tuyên truyền biến đổi khí hậu ở
thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ ngành Công
tác tư tưởng: Chủ yếu nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân của tác động
của BĐKH ở tỉnh Phú Thọ, từ đó đưa ra những phải pháp nâng cao hiệu
quả công tác chỉ đạo tuyên truyền về mặt tư tưởng cho người dân, cụ thể
thành phố Việt Trì.


6

Từ việc nghiên cứu thực trạng tuyên truyền về BĐKH của các đài
TTCH ở tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng tuyên truyền về BĐKH của các đài này.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu về lý luận báo chí phát thanh, truyền thanh; đường lối
chính sách của Đảng, Nhà nước, các văn bản báo cáo khoa học về BĐKH ở
thế giới và Việt Nam, đặc biệt là ở Cà Mau.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tuyên truyền về
BĐKH (thành công, hạn chế) của các đài TTCH ở tỉnh Cà Mau trong năm
2014 (tháng 1/2014 - tháng 12/2014).
- Nghiên cứu ý kiến công chúng nghe đài TTCH về hiệu quả truyên
truyền BĐKH của các đài TTCH ở Cà Mau.
- Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về BĐKH
của các đài TTCH tỉnh Cà Mau.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tuyên truyền về biến đổi khí hậu của các đài truyền thanh cấp huyện ở
Cà Mau hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt
động tuyên truyền của các đài TTCH ở Cà Mau về BĐKH, cụ thể là tập trung
khảo sát thực trạng hoạt động của các đài TTCH ở 8 huyện: Năm Căn, Ngọc
Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân, Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình, từ
tháng 1/2014 đến tháng 12/2014; công chúng nghe đài truyền thanh ở 8 huyện
này trong năm 2014.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận


8

9
kinh doanh dịch vụ: 15 phiếu; học sinh: 45 phiếu; lực lượng vũ trang: 7
phiếu), nhằm thu thập được thông tin về thực trạng 08 đài TTCH này cung
cấp thông tin về BĐKH ra sao?; cách thức công chúng tiếp nhận thông tin về
BĐKH từ các đài TTCH; các đài này có đáp ứng được nhu cầu của công chúng
hay không?; công chúng đánh giá gì về chất lượng thông tin mà 08 đài này cung
cấp?; họ có nhu cầu thông tin về BĐKH ra sao?; họ có mong muốn gì, gợi ý gì
để 08 đài này nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền về BĐKH?...
Các nhóm phương pháp này vừa truyền thống, vừa hiện đại, giúp cho
kết quả nghiên cứu đạt được độ chính xác cao nhất, đáng tin cậy nhất.
6. Đóng góp mới của đề tài
- Luận văn là một công trình nghiên cứu mới, lần đầu tiên đánh giá về
thực trạng hoạt động tuyên truyền về BĐKH của các đài TTCH ở Cà Mau và
đề ra các giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng thông tin của các đài này.
- Công trình nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học để giúp các nhà lãnh
đạo địa phương trong việc hoạch định chiến lược tuyên truyền về BĐKH của
đài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau, các đài TTCH ở Cà Mau, mà cụ thể là
xây dựng kết cấu, nội dung chương trình về BĐKH cho 8 đài TTCH ở Cà
Mau (8 huyện: Năm Căn, Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân, Trần
Văn Thời, U Minh, Thới Bình)
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Việc thực hiện đề tài sẽ góp phần giúp các nhà lãnh đạo, quản lý báo
chí của địa phương nhìn nhận đúng vai trò của đài TTCH trong việc thực hiện
nhiệm vụ chính trị của địa phương và trong việc tuyên truyền về BĐKH, từ
đó sẽ có giải pháp phát triển đúng mức cho các đài này.
- Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài của tác giả luận văn sẽ tạo ra một cái
nhìn mới, thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của việc tìm hiểu công chúng;
thay đổi quan điểm áp đặt là: chỉ cần phát sóng những gì Đài có chứ không
phải chạy theo nhu cầu thông tin ngày càng cao - những gì công chúng cần.



11
thuộc Trung ương; hơn 600 đài truyền thanh cấp huyện, cùng với hàng ngàn
trạm truyền thanh cấp xã, phường; là mạng lưới rộng khắp, chuyển tải thông
tin- truyền thông phục vụ hoạt động tuyên truyền, nhu cầu dân sinh và phát
triển [6, tr.114-115].
Báo phát thanh là một loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện từ
và hệ thống truyền thanh truyền đi âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giác
của đối tượng tiếp nhận. Là sản phẩm của nền kỹ thuật điện tử, phát thanh đã
từng là loại hình báo chí có ưu thế trong thời gian dài. Sự sinh động kỳ diệu
của âm nhạc, tiếng động, lời nói được truyền quan làn sóng radio đã từng
được thính giả đón nhận một cách nồng nhiệt [30, tr.109-110].
Báo phát thanh được hiểu như một kênh truyền thông, một loại hình
báo chí điện tử hiện đại, mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm
thanh phong phú sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyển tải thông
điệp, sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào
thính giác (vào tai) của công chúng [4, tr.51].
Theo PSG.TS Tạ Ngọc Tấn, Phát thanh ra đời đáp ứng tuyệt vời cho
không chỉ nhu cầu về thông tin đang trở thành một nhu cầu khẩn thiết của cả
thời đại, mà còn thỏa mãn sự hiếu kỳ và giải trí của con người. Cả Châu Âu,
Bắc Mỹ như lên cơ sốt phát thanh. Phát thanh đến nay đã trải qua chặng
đường hình thành và phát triển hơn 80 năm qua, từ phát thanh AM tới phát
thanh FM rồi FM stereo và bây giờ phát thanh kỹ thuật số.
Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện
từ và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp và thính giác
người tiếp nhận. Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử dụng lời nói,
tiếng động, âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống hiện thực. Thông điệp được
mã hóa truyền qua kênh phát thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới
tiếp nhận được thông điệp [6, tr.111].


phát và thu tín hiệu phát nhanh gọn nên phát thanh lợi thế hơn các loại hình


13
báo chí khác. Ngoài ra, phát thanh lợi thế hơn hẳn trong việc tiếp cận nguồn
tin đối với những địa điểm hiểm trở, cách xa các trung tâm đô thị. Chỉ cần
một máy tính nhỏ, một điện thoại thông minh, người ta có thể nghe được
nhiều chương trình phát thanh khác nhau.
So với báo in, phát thanh có thế mạnh của sự nhanh nhạy, linh hoạt và
phương thức thông tin sinh động bằng lời nói. Còn so với truyền hình, phát
thanh vẫn là loại hình báo chí chiếm ưu thế trong việc đưa tin tức nhanh nhất,
kịp thời nhất, giúp thính giả tiếp cận sớm nhất với những sự việc, sự kiện xẩy
ra hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống xung quanh. Với khả năng truyền đạt
ngay tức khắc những sự việc, sự kiện đang xảy ra, báo phát thanh cho đến nay
vẫn luôn giữ vai trò là loại hình báo chí có khả năng thông tin thời sự nhanh
nhất, nhạy bén nhất. Người ta đã đưa ra một sự so sánh đầy hình ảnh: khi một
sự kiện xảy ra, phát thanh đưa tin, truyền hình diễn tả, báo in phân tích, giảng
giải... điều đó còn cho thấy nhanh chóng, tức thời là một yếu tố quan trọng có
thể giúp cho phát thanh cạnh tranh với các loại hình báo chí khác trong bối
cảnh của đời sống báo chí hiện đại [13, tr.76-77].
Tuy nhiên, hạn chế của phát thanh chính là do chương trình được phát
theo một chuỗi lôgic nên có thể nghe đoạn đầu bỏ quên đọan cuối. Về thời
gian mức độ xác định của thông tin tiếp nhận, do tiếp nhận chỉ duy nhất là
nghe theo chuỗi chương trình, người nghe hoàn toàn phụ thuộc, bị động về
tốc độ và có thể dễ quên thông tin mình vừa tiếp nhận. Vì là sóng phát thanh
nên khó trình bày , phân tích thông tin có tính phức tạp, nhất là các con số mô
tả. Từ những hạn chế này mà phát thanh hiện đại, các đài phát thanh hiện nay
đã cho ra đời radio internet.
- Chương trình phát thanh
Chương trình phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin, bài, bảng

người trung tâm, trực tiếp điều hành thành viên trong nhóm và đưa ra quyết
định xử lý tình huống xảy ra trong quá trình phát sóng.
Phóng viên: là người chịu trách nhiệm thực hiện tin bài, phỏng vấn...
cung cấp theo yêu cầu của Ban biên tập.


15
Biên tập viên: là người chịu trách nhiệm biên tập phần tin bài, phỏng
vấn khách mời, kết nối một cách hoàn chỉnh.
Phát thanh viên: là người thể hiện (đọc) tác phẩm phát thanh, thường
được lựa chọn chất giọng ấm áp, ngọt ngào dễ đi vào lòng người khi thể hiện
tác phẩm. Các đài phát thanh đặc biệt quan tâm lựa chọn giọng phát thanh
viên chuẩn để thể hiện tác phẩm, vì đây là công đoạn quan trọng làm nên một
chương trình hoàn chỉnh.
Người dẫn chương trình: là người dẫn dắt chương trình từ đầu đến
cuối, là người chịu trách nhiệm kiểm soát về thời gian của chương trình đảm
bảo khung giờ.
Kỹ thuật viên: người thu âm, xử lý kỹ thuật và truyền dẫn phát sóng
(khai thác máy).
Chương trình phát thanh là một sản phẩm của tập thể, mỗi bộ phận đều
có vai trò và vị trí quan trọng ngang nhau. Đạo diễn là người quyết định và
luôn tư duy tìm ra những ý tưởng mới của thành viên để tạo ra sản phẩm tập
thể khi chương trình được phát sóng.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm truyền thanh, chương trình truyền thanh
- Khái niệm truyền thanh
Truyền thanh là phương thức truyền tải thông tin bằng tiếng động, âm
thanh qua dây dẫn và tín hiệu từ máy phát tổng đài đến các loa. Hệ thống
truyền thanh được vận hành bởi tập hợp các thiết bị đầu cuối, từ thu âm, thu
tín hiệu đầu vào sóng radio, thiết bị khuếch đại tín hiệu âm thanh, hệ thống
dây dẫn và các loa [1, tr.8-9]. Đây là khái niệm về truyền thanh sẽ được sử

- Khái niệm khí hậu
Theo Ths. Bùi Thu Vân, Khoa Việt Nam học, Đại Học Sư Phạm Hà
Nội: Khí hậu là mức độ trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian
và không gian nhất định [55].


17
Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí
quyển, gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng
khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định.
Khí hậu là trung bình theo thời gian của thời tiết, trung bình thời gian
chuẩn thường được tính là 30 năm trở lên, nghĩa là, thời tiết ở tại một vùng,
miền trong một khoảng thời gian 30 năm trở lên thì được gọi là khí hậu.
Tóm lại: Khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố của thời tiết bao gồm các
hiện tượng nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa, sương mù, nắng…. Khí hậu bao
gồm cả hệ thống khí quyển, thủy quyển, băng quyển, sinh quyển, thạch quyển
và bề mặt của trái đất.
- Khái niệm biến đổi khí hậu
Thuật ngữ BĐKH được nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông
đại chúng, đặc biệt là sau thảm họa động đất sóng thần ở Nhật Bản năm 2011.
Trong Điều 1 của UNFCCC định nghĩa: BĐKH là sự biến đổi của khí
hậu do hoạt động của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra làm thay đổi
cấu tạo của khí quyển toàn cầu và là một trong các nhân tố gây ra những biến
động khí hậu tự nhiên trong các giai đoạn nhất định [30, tr.28].
Còn theo IPCC: BĐKH là do thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong
đó bao gồm những biến đổi tự nhiên và những biến đổi do các hoạt động của
con người gây ra [30, tr.8].
Theo chương trình Mục tiêu Quốc gia năm 2008 của Bộ TN&MT đã
giải thích: BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình/ hoặc
giao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài

thấp, người dân sống ven sông rach và ven biển nên việc tuyên truyền về
BĐKH là điều cần thiết và cần được thực hiện xuyên suốt, lâu dài.
1.2. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về biến đổi khí hậu
Việt Nam ký công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH ngày 11
tháng 6 năm 1992 và phê chuẩn vào ngày 16 tháng 11 năm 1994. Công ước
có hiệu lực đối với Việt Nam ngày 14 tháng 2 năm 2005.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status