Tiểu luận xã hội học Những nhân tố tác động đến chính sách xóa đói giảm - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cho đến ngày nay đói
nghèo vẫn là nỗi ám ảnh
thường trực đối với cả thế giới
loài người. Thế giới đã chứng
kiến những thảm họa của chiến
tranh, thảm họa của thiên tai
dịch bệnh với bao nỗi kinh
hoàng. Thế nhưng hậu quả do
những nạn đói gây ra cũng vô
cùng khủng khiếp. Điều đáng sợ hơn nữa là: nếu như các cuộc chiến tranh dù
khốc liệt vô cùng nhưng rồi trước sau
cũng được giải quyết nếu như những thảm họa do thiên tai dịch bệnh gây ra
từng bước rồi cũng sẽ được khắc phục, thì vấn đề đói nghèo của nhân loại lại
là một vấn đề vừa cấp bách lại vừa phức tạp “lại như một căn bệnh kinh niên
khó bề cứu chữa’’.
Ở nước ta cũng vậy bước vào thế kỉ XXI nước ta đang trong thời kì xây
dựng và phát triển kinh tế, hiện đại hóa công nghiệp hóa đất nước, và lại là
một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới nhưng không vì thế
nước ta không có tình trạng đói nghèo mà ngược lại nước ta nằm trong vùng
những nước có tỉ lệ đói nghèo cao trên thế giới. Cũng chính vì lẽ đó mà
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và chú trọng về vấn đề xóa đói giảm
nghèo xem vấn đề cơ bản quan trọng nhất để xóa đói giảm nghèo là giải
phóng con người ra khỏi áp bức bất công, thực hiện công bằng xã hội.
Chúng ta hiểu ở đây công bằng xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực
để phát triển, công bằng xã hội không bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế
mà còn tất cả trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa,
1




đề tài nêu bật lên việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam trong giai đoạn 2011-2020. Đồng thời qua đó nêu lên quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về việc thực hiện nâng cao chính sách xóa đói
giảm nghèo. Qua đó cung cấp những nhận thức đúng đắn cho người đọc
một cách nhìn chân thực sống động nhất về công tác xóa đói giảm nghèo
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ:
Đất nước ta khi bắt đầu đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng to
lớn. Đất nước ngày càng phát triển đi lên, đời sống của nhân dân ngày càng
được cải thiện. Đó cũng là lí do để Đảng và Nhà nước ta tiến hành nâng cao
tổ chức thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2011-2020
để góp phần cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước một cách toàn
diện nhất, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quan điểm tổ chức thực hiện chính
sách xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên phạm vi ở Việt Nam và của một số nước
trong khu vực dựa trên thế giới quan chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử và dựa trên những số liệu một cách chính xác và khoa
học.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp luận
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa MácLeenin đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch, đồng
thời đứng trên lập trường tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách
chính sách của Đảng để nghiên cứu.
Phương pháp chung
- phương pháp phân tích tài liệu, song song với sử dụng phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài còn sử
dụng những phương pháp phân tích tài liệu cụ thể như phương pháp thu thập
3

ĐỀ ĐÓI NGHÈO
1.1.

Đói nghèo và xóa đói giảm nghèo là vấn đề có tính toàn cầu

- Xã hội loài người đã phát triển qua nhiều nấc thang lịch sử do trình độ sản
xuất vật chất quyết định. Bằng lao động sản xuất vật chất, con người khai thác
thiên nhiên để tạo ra vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu ăn,mặc,ở và những nhu
cầu khác. Năng suất lao động ngày càng cao thì của cải ngày càng nhiều, các
nhu cầu sống được đáp ứng đầy đủ hơn; trái lại ,năng suất lao động thấp, của
cải vật chất thu được ít, con người rơi vào cảnh đối nghèo.
Trong xã hội có giai cấp, những người bị áp bức, bóc lột, phải chịu cuộc
sống cùng cực. Thêm vào đó thiên tai, chiến tranh tàn phá,gây nên bao cảnh
lầm than, tang tóc. Đói nghèo không chỉ xuất hiện và tồn tại lâu dài dưới chế
độ công xã nguyên thủy, chế độ nô lệ, chế độ phong kiến với trình độ lực
lượng sản xuất kém phát triển, mà ngay trong thời đại ngày nay, với cuộc
cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, với lực lượng sản xuất cao chưa
từng thấy, trong từng quốc gia, kể cả các quốc gia đã phát triển nhất thế giới,
đói nghèo vẫn tồn tại một cách hiển nhiên. Do đó loài người đã phải luôn luôn
5


tìm mọi cách để nâng cao trình độ sản xuất của mình, chống đỡ với thiên tai,
địch hỏa và rủi ro bất hạnh để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mỗi một phát
minh khoa học, mỗi một bước tiến của trình độ sản xuất vật chất cũng như về
quan hệ giữa con người với con người đều góp phần xóa đói giảm nghèo. Đó
là công lao của các nhà khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội
và nhân văn của các nhà sáng chế phát minh, của những người lao động sáng
tạo. Tuy nhiên ở các thời đại khác nhau cũng có nhiều cách lý giải khác nhau
về quan niêm, nguyên nhân và cách giải quyết đối với hiện tượng đói nghèo.

hòa được. Người lao động rơi vào tình trạng tha hóa lao động và tha hóa cả
bản chất con người. Theo C. Mác và Ph. Ăngghen, nguồn gốc sâu xa của tình
trang đói nghèo trên đây là ở chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản
xuất, ở chế độ áp bức, bóc lột và tình trạng nô dịch con người. Do đó chỉ có
thể xóa bỏ chế độ tư hữu, bóc lột ấy mới có thể giải phóng giai cấp vô sản và
quần chúng lao động khỏi cảnh đói nghèo lầm than, làm cho họ trở thành
người lao động tự do và người làm chủ, tiến tới một xã hội công bằng, văn
minh, đạt được sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và xã hội.
1.2. Những quan niệm về đói nghèo
Trong đời sống thực tiễn cũng như trong nghiên cứu khoa học các vấn đề
kinh tế - xã hội, chúng ta thường thấy các khái niệm sau đây: đói nghèo hoặc
nghèo khổ; giàu nghèo và phân hóa giàu nghèo; trong xã hội học còn đề cập
tới các thuật ngữ: phân tầng xã hội, phân hóa giai cấp, phân cực (hay xung
đột) xã hội. Ngay khái niệm đói nghèo nếu tách riêng ra để phân tích và nhận
dạng, cũng thấy giữa đói và nghèo, trong cặp đôi này vừa quan hệ mật thiết
với nhau, lại vừa có sự khác biệt về mức độ và cấp độ. Đã lâm vào tình trạng
đói ( mà ý nghĩa biểu hiện trực tiếp của nó là đói ăn, thiếu kuwowng thực,
thực phẩm để duy trì sự tồn tại của sinh vật và con người) thì đương nhiên là
nghèo. Theo cách tư duy của người Việt Nam, chúng ta thường nhận diện đói
ở hai dạng: đói kinh niên và đói gay gắt. Đay vẫn thuần túy là đói ăn, nằm
trọn trong phạm trù kinh tế - vật chất. Nó khác với đói thông tin, đói thụ
hưởng văn hóa thuộc phạm trù đời sống văn hóa tinh thần. Quan niệm về
nghèo thì có thể có nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Tất nhiên dù ở dạng
7


nào thì nghèo vẫn có quan hệ mật thiết với đói. Nghèo là một kiểu đói tiềm
tàng và đói là một tình trạng hiển nhiên của nghèo. Sự nghèo và nghèo khổ
kéo dài, nếu không ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của cảnh trì trệ, túng thiếu thì
chỉ cần xảy ra những biến cố đột xuất của hoàn cảnh là con người ta dễ dàng

Như thế đói nghèo và phân hóa giàu nghèo là những khái niệm kép, vừa
có mặt kinh tế vừa có mặt xã hội trong nội dung của nó, trong sự phát sinh,
diễn biến của nó. Nhân tố chính trị và văn hóa cũng có phần tác động, gây ảnh
hưởng tới hiện trạng, xu hướng và cách thức giải quyết nó. Điều này đặc biệt
rõ trong sự vận động của kinh tế thị trường, của bước chuyển mô hình, cơ
chế, chính sách quản lý, kể cả những biến đổi của cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã
hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về
lý luận và thực tiễn, bởi vì đây là cơ sở của việc tìm kiếm đồng bộ các giải
pháp, biện pháp xóa đói giảm nghèo ở nước ta. Sau nữa, trong những biện
pháp tổng quan về phương pháp luận nghiên cứu cần nhấn mạnh rằng, đói
nghèo là một khái niệm có tính động, biến đổi, di chuyển chứ không tĩnh,
không bất biến. Vậy những nhân tố nào tạo nên đặc điểm này của hiện tượng
đói – nghèo? Đó là những nhân tố: sự phát triển của sản xuất, mức tăng
trưởng kinh tế , sự tăng lên của nhu cầu con người.
Thực tế cho thấy rõ, các chỉ số xác định đói – nghèo và giàu – nghèo
luôn di động. Ở một thời điểm với một vùng, một nước nào đó thì chỉ số đo
được là đói, nghèo hoặc giàu, nhưng sang một thời điểm khác, so sánh với
một vùng khác, nước khác, cộng đồng dân cư khác thì chỉ số đo đó có thể mất
ý nghĩa. Đây là điểm giải thích vì sao các nhà nghiên cứu lý luận về vấn đề
đói nghèo và phân hóa giàu nghèo lại thường gắn nó với lý thuyết phát triể.
Điều đặc biệt quan trọng là phải có một quan niệm hiện đại về phát triển, lấy
nó làm cơ sở, làm điểm tựa cho việc nghiên cứu về đói nghèo, phân hóa giàu
nghèo cũng như xóa đói giảm nghèo.
1.3. Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở các nước trong khu vực
Kinh nghiệm ở Trung Quốc trong cải cách với phát triển công nghiệp nông
thôn nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải tạo kinh tế thuần nông, “ly nông, bất
ly hương”. Chính vì vậy, tuy là một nước đông dân nhất thế giới nhưng
9





Từ những năm 80 và hiện nay, Thái Lan áp dụng mô hình gắn liền
chính sách phát triển quốc gia với chính sách phát triển nông thôn thông qua
hình thức phát triển xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển doanh nghiệp nhỏ,
mở rộng các trung tâm dạy nghề ở nông thôn để giảm bớt nghèo khổ. Nhờ
hoạt động của ban phát triển nông thôn (IBI RD) và tổ chức Hiệp hội dân số
và phát triển cộng đồng (PDA) theo mô hình trên, tỷ lệ người nghèo ở Thái
Lan từ 23 % dân số trong thập niên 90 đã giảm xuống còn 13% dân số năm
2010 ( 7.3 triệu người).
Nghiên cứu kinh tế giảm bớt đói nghèo của các nước trong khu vực, nhiều
nhà nghiên cứu nhấn mạnh tới yêu cầu công bằng và giảm nghèo, coi đó là
những chuẩn mực, những tiêu chuẩn hướng đích mà các chính sách phát triển
xã hội phải đạt tới, nhất là sự kết hợp giữa các chính sách dài hạn và ngắn
hạn phục vụ trực tiếp cho chiến lược xóa đói giảm nghèo.
Có thể tóm tắt chương trình xóa đói giảm nghèo của các nước quanh
vùng gần giống điều kiện nước ta ( các chính sách mang tính chiến lược) như
sau:
- Đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp và nông thôn, coi đây là khu vực
và đối tượng ưu tiên, trọng điểm.
Vì đại đa số người nghèo sống ở nông thôn, do đó đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp và nông thôn có tác dụng giảm nghèo rõ rệt. Thực tế cho thấy nông
nghiệp đóng một vai trò to lớn trong việc đẩy mạnh tăng trưởng thời kỳ đầu
của sự phát triển. Ngoài ra nông thôn và nông nghiệp lại là nguồn và thị
trường cho công nghiệp hóa.
Phát triển nông thôn không những phải nâng cao năng suất nông nghiệp,
tăng nhanh lương thực, thực phẩm để đảm bảo cho xã hội có lương thực giá
rẻ mà còn phải nâng cao được thu nhập cho nông dân. Nhiều nước chú trọng
cải cách ruộng đất, coi đó là tiền đề quyết định để phân phối vốn cố định cho
người nghèo, giúp họ thoát khỏi nghèo đói, tham gia vảo sản xuất hành hóa,

Các nước Đông Á và khu vực Đông Nam Á đã chú trọng những biện pháp
sau:

12


- Tăng tài sản do người nghèo sở hữu ruộng đất, hạn chế bóc lột bằng cách tổ
chức hợp tác xã, trợ giá đầu vào, cho vay tín dụng với lãi suất thấp, đầu tư vào
giáo dục, sức khỏe.
- Tăng giá hàng hóa và dịch vụ cho người nghèo, cung cấp hỗ trợ người
nghèo về mặt kỹ thuật để tăng năng suất, tổ chức hợp tác xã cung cấp đầu vào
và tiêu thụ đầu ra, tạo thị trường sức lao động để tạo việc làm, tăng thu
nhập…
-

Tăng khối lượng hàng hóa do người nghèo bán ra, thực chất là giúp cho

nông dân nghèo đi vào sản suất hàng hóa. Vốn, kỹ thuật , thị trường là những
tác động để thực hiện chính sách này.
- Áp dụng nhóm các biện pháp xã hội nhằm phân phối lại thun nhập và bảo
hiểm xã hội . Các biện pháp này có tính chất ưu đãi cho đối tượng người
nghèo không có khả năng Lao động. Trợ giúp lương thực, cung cấp lương
thực để làm công trình công cộng, cứu tế trong trường hợp đặc biệt.
CHƯƠNG 2: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2011 -2020
- Để chủ động sáng tạo trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách
xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn mới, trước hết cần làm rõ những
nhân tố tác động đến chính sách này có quan hệ trực tiếp đến sự phát
triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế nhất là
thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn

-Trong lịch sử phát triển kinh tế thị trường trên Thế giới thì mô hình công
nghiệp hóa này đã diễn ra hơn hai trăm năm trước đây trong hình thái kinh
tế tư bản chủ nghĩa. Trong thế kỉ XX mô hình này đã biến đổi dần dưới hình
thức “khủng hoảng – phát triển” đã lỗi thời đã kết thúc vào nửa sau thế kỉ
XX. Khi mô hình này phát triển bền vững, dựa trên nền kinh tế trí thức ra
đời và phát triển mạnh mẽ. Đây là bối cảnh thế giới khi mà nước ta đã
chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế .- Do kéo dài
14


mô hình công nghiệp hóa chạy theo tăng trưởng số lượng Nên hiện nay
nước ta tuy thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo đã đạt những kết quả
nhất định, nhưng vấn đề đói nghèo ở đây trên thực tế ở cả khu vực chính
thức lẫn khu vực phi chính thức vẫn còn nhiều bất cập vẫn còn nhiều điểm
cần quan tâm và nghiên cứu.
- Ở khu vực chính thức (khu vực nhà nước) thì vấn đề đói nghèo nằm ở đây
là ở trong bối cảnh tiền lương thấp. Theo điều tra của Viện nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương, lương tối thiểu hiện nay mới chỉ đáp ứng được từ 60%65% nhu cầu cần thiết, dù mức lương này đã được tăng lên nhưng vẫn không
bảo đảm bù đắp sức lao động giản đơn, chưa thể nói đến tái tạo sức lao động
và nâng cao năng lực lao động. So với các nước trong khu vực lương tối thiểu
ở Việt Nam hiện nay thấp hơn khoảng 40%. Ưu điểm của một mô hình kinh
tế không chỉ ở năng suất lao động mà còn là mức sống của người lao động.
-

Chính sách tiền lương hiện nay còn được các doanh nghiệp trong nước

lấy đó làm căn cứ để trả tiền lương cho người lao động, chứ không phải dựa
vào năng suất, chất lượng và hiệu quả của công việc.Những nhược điểm trong
quản lý nhà nước, đã bị các doanh nghiệp khai thác làm cho đời sống của
người lao động ngày càng đói nghèo. Ngoài ra theo cam kết quốc tế tới năm

về chất thải kết quả là làm bệnh tật
gia tăng đối với công nhân và dân cư trong vùng. Những chi phí tốn kém
để chữa trị bệnh tật có thể khiến người lao động nghèo thêm.
Thứ hai tác động của biến đỏi khí hậu toàn cầu hiện nay đã không những
đã làm cho mực nước biển dâng cao chiếm nhiều diện tích đất đai để sinh
sống (Việt Nam là một trong năm nước chịu tác động trước tiên) mà còn
gây ra những trận hạn hán, lũ lụt trầm trọng, xói mòn bờ biển, ven sông,
phèn hóa đất đai nông nghiệp. Bộ tài nguyên và môi trường Việt Nam dự
báo nếu nước biển dâng thêm một mét thì khoảng 20% châu thổ và 10%
16


diện tích TPHCM có thể bị nhấn chìm.Những tai họa gần đây sẽ làm tăng
sự đói nghèo về mức độ phạm vi.
Thứ ba là vấn đề môi trường tác động xấu đến phát triển kinh tế và đói
nghèo
Ở nước ta đã trở nên cấp bách con sông Mê-Kông rơi vào tình trạng lâm
nguy. Sông Mê-Kông dài 5400km chảy qua Trung Quốc, Myanma, Lào,
Thái Lan, Cam-pu-chia và Việt Nam cung cấp nước cho trồng trọt, cho
vận chuyển hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống của 65 triệu
người. Riêng nhu cầu nguồn nước cho khu vực này tăng nhanh từ( 43
700m3 tăng lên 56 700m3 vào cuối 2010)
- Mối đe dọa chính đối với sông Mê-Kông là việc xây dựng đập thủy điện
Trung Quốc đã có 5 đập hoạt động dự định xây dựng thêm 15 đập cỡ lớn và
cực lớn ở thượng nguồn.Các nước Đông Nam Á có kế hoạch xây dựng 11 con
đập ở hạ nguồn.Những con đập này sẽ làm biến đổi sự điều hòa tự nhiên và
lưulượng dòng chảy theo mùa (tính thủy học)làm giảm lượng phù sa ở hạ
nguồn, đe dọa

những khu vực trồng lúa nước năng suất cao nhất Thế

được thể hiện tập trung ở mấy mặt sau đây:
Thứ nhất: Tính chất và mức độ “hành chính quan liêu” trong các cấp đã ảnh
hưởng đến giải quyết vấn đề đói nghèo, thực hiện những chủ trương chính sách
xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua biểu hiện ở các hoạt động:
Cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi rất chậm trễ làm
diện đói nghèo kéo dài và lan rộng.
Việc xác định diện hộ nghèo theo quy định có những lệch lạc, dựa vào quan hệ
thân quen đưa vào diện đói nghèo những hộ không nằm trong tiêu chí nghèo,
thậm chí bớt xén tiền bạc mà đáng lẽ hộ nghèo được hưởng. Những sai lầm này
thường ở cấp chính quyền cơ sở và cấp huyện.
Chất lượng xây dựng các luật kinh tế , xã hội còn thấp so với thực tiễn nên dễ
thông qua nhưng khó thi hành ở cấp vĩ mô. Quy trình làm luật hiện nay chỉ coi
trọng mặt chính sách, giải thích nội dung chính sách hay luật mà không đòi hỏi
giải trình về mặt kỹ thuật, tổ chức thực hiện, nhất là về mặt thanh tra, kiểm soát.
Vì vậy có những trường hợp bất khả thi hoặc dễ lách luật và lạm dụng, đây là
hạn chế của cấp vĩ mô.
18


Thứ hai: Tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai các dự án
kinh tế - xã hội. Do chất lượng thấp trong xây dựng và thực hiện dự án nên các
dự án không có khả năng hoàn vốn, rủi ro cao, thời gian thực hiện kéo dài. Hiện
nay chỉ số “ICOR” quá cao tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tăng trưởng đói nghèo.
Tính chất hành chính quan liêu trong quản lý vĩ mô gây lãng phí ở tầm quốc gia
cao do nôn nóng muốn làm tất cả không có ưu tiên và bước đi phù hợp. Cách
làm nặng về số lượng(người ta nói do bệnh thành tích theo tư duy nhiệm kỳ)
không chỉ gây lãng phí lớn mà còn đẻ lại nhiều vấn nạn về kinh tế và xã hội
Thứ ba: Tình trạng tham nhũng tác
động không chỉ đến chất lượng và
hiệu quả

trung bình rồi mất nhiều thập niên vẫn không trở thành nước phát triển. Từ
năm 2009 Ngân hàng thế giới (WB) đã đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu
nhập trung bình (1000 USD/người). Hiện nay nước ta buộc phải vượt qua thử
thách của cái bẫy này.
3.2. Định hướng chính sách xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2011-2020.
Thứ nhất: Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế.
Đây là định hướng chung của sự nghiệp đổi mới, là bước chuyển giai đoạn từ
tăng trưởng số lượng lên tăng trưởng cả số lượng và chất lượng, là giai
đoạn lấy chất lượng làm động lực tăng trưởng kinh tế:
Hơn một thập niên qua, mô hình tăng trưởng số lượng dựa trên khai thác tài
nguyên và lao động gia công dựa trên thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã tới
giới hạn và đang phát sinh nhiều tiêu cựu cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Do đó nhu cầu cấp bách về kinh tế và chính trị là chuyển sang mô hình phát
triển bền vững như các đại hội của Đảng đã nêu là: “Tăng trưởng kinh tế đi
20


đôi với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Như vậy vấn đề chính sách
xóa
đói giảm nghèo phải đặt trong tiến trình chuyển sang mô hình phát triển bền
vững. Vấn đề đói nghèo được giải quyết từ ba hướng gắn bó với nhau: Tăng
trưởng kinh tế bền vững tự nó đã hạn chế phát sinh đói nghèo, tiến bộ xã hội
(thể hiện ở trình độ giáo dục dân trí) là điều kiện trực tiếp để giải quyết đói
nghèo, bảo vệ môi trường đang trở thành vấn đề quan trọng tác động trực
tiếpđến tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội.
Sự chuyển đổi mô hình kinh tế không chỉ là nhu cầu của nước ta mà là xu thế
của thời đại hiện nay đang thách thức cả các nước phát triển. Nhìn tự sự
nghiệp đổi mới thì chuyển đổi mô hình kinh tế là lần đổi mới thứ hai sau lần
đổi mới chuyển sang kinh tế thị trường từ năm 1986, đây là cơ hội lớn và
thách thức lớn.

IX. Những vấn đề nóng trong kỳ họp quốc hội đầu năm 2010 cho thấy những
khó khăn và chậm trễ trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở một nước
kém phát triển, đang phát triển. Vấn đề đói nghèo từng tồn tại lâu dài trong
lịch sử, sự tăng hay giảm đói nghèo gắn liền với trình độ phát triển của nhà
nước và phản ánh bản chất nhà nước. Như vậy đói nghèo ở phạm vi một nước
là một vấn đề chính trị, cuộc khủng hoảng xã hội và những biến động về
chính trị đều phát sinh từ tình hình đói nghèo và bất bình đẳng xã hội.
CHƯƠNG 4: ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀ PHƯƠNG PHÁP HOẠCH ĐỊNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO.
4.1. Đổi mới tư duy và chính sách xóa đói giảm nghèo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng vạch ra ba thứ giặc đe dọa sự tồn vong của
chính quyền nhân dân sau cách mạng tháng tám 1945 đó là: giặc đói, giặc
dốt, giặc ngoại xâm. Sau 30 năm kháng chiến chúng ta đã giải quyết được vấn
đề giặc ngoại xâm, giành được độc lập dân tộc, còn giải quyết vấn đề giặc
đói, giặc dốt thì sau 35 năm chúng ta vẫn chưa có nhiều bước tiến về chất
lượng phát triển. Đây là thách thức bên trong lớn nhất khi bước vào thập niên
2011-2020. Với những biến đổi có tính bước ngoặt khi giải quyết vấn đề giặc
22


đói, giặc dốt, nó đang đòi hỏi đảng cầm quyền phải có tư duy mới và năng lực
mới trong xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển. Tư duy mới về
chính sách xóa đói giảm nghèo, trước hết là tư duy hệ thống tức là đặt vấn
đề đói nghèo trong chiến lược chuyển sang mô hình phát triển bền vững,
trongđó giải quyết vấn đề giặc đói giặc dốt phải đồng thời tạo điều kiện cho
nhau làm cho chính sách xóa đói giảm nghèo mang ý nghĩa là nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân được coi là trách nhiệm và mục tiêu của
Đảng.
4.2. Tư duy mới phải đi đôi với năng lực mới và phương pháp của
Đảng.


KẾT LUẬN
Đói nghèo là hiện tượng xã hội có tính lịch sử và phổ biến đối với mọi
quốc gia, dân tộc. Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX như hiện nay,
trên hành tinh chúng ta vẫn còn hơn 1,5 tỷ người sống trong tình trạng đói
nghèo. Đó là một trong những trở ngại trầm trọng nhất, một thách thức gay
gắt đối với phát triển của thế giới hiện đại. Khắc phục hiện tượng này đang là
mối lo toan thường xuyên của các quốc gia ở mọi khu vực khác nhau trên trái
đất. Nó cũng đòi hỏi cộng đồng quốc tế nâng cao hơn nữa những nổ lực
chung của các chính phủ, thúc đẩy hoạt động hợp tác phối hợp nhiều lĩnh vực,
trước hết là lĩnh vực kinh tế - xã hội để cùng nhau giải quyết có hiệu quả vấn
đề có tính toàn cầu này.
Đối với nước ta xóa đói giảm nghèo, hướng tới xã hội phồn vinh về kinh
tế, lành mạnh về xã hội, kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, là
một vấn đề thời sự, búc xúc hiện nay. Xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là xóa đói
giảm nghèo về kinh tế ở nông thôn đối với các hộ nông dân, các vùng và vệt
nghèo là tiền đề kinh tế cần thiết để giữ vững ổn định chính trị và ổn định xã
hội, đảm bảo cho công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp
tục thực hiện và phát triển sâu r ộng trong phạm vi cả nước và mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội.
Mục tiêu dân giàu nước mạnh,xã hội công bằng và văn minh, tự nó đã nói
lên tính tất yếu của xóa đói giảm nghèo. Phong trào xóa đói giảm nghèo trong
vài năm trở lại đây từ sự đi đầu của Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhanh chóng
trở thành một phong trào quần chúng có ý nghĩa kinh tế - xã hội sâu rộng
trong cả nước. Đảng ta đặc biệt quan tâm tới xóa đói giảm nghèo không chỉ
đối với cộng đồng dân cư nông dân, nông thôn và trong khu vực kinh tế nông
nghiệp mà còn đối với các cộng đồng dân cư đô thị và mọi vùng, mọi miền
trên cả nước, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, các cơ sở cách mạng, các đối
tượng ưu tiên xã hội. Với đường lối đổi mới, chủ trương hòa nhập và mở cửa
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status