Tổng kết lấy ý kiến các bên liên quan về chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo - Pdf 35

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

TÀI LIỆU HỘI NGHỊ
Tổng kết lấy ý kiến các bên liên quan
về Chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo

HÀ NỘI, 2015


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG

CHƢƠNG TRÌNH HỘI NGHỊ
Tổng kết lấy ý kiến các bên liên quan về Chuẩn đầu ra
các chƣơng trình đào tạo của Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Thời gian: Thứ 6, ngày 05 tháng 6 năm 2015
Địa điểm: Phòng hội thảo, Nhà Hành chính, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Thời gian
7.30 – 8.00
8.00 – 8.10

8.10 – 8.20

8.20 – 8.40

8.40 – 8.50

Nội dung



khoa Sƣ phạm & Ngoại ngữ
8.50- 9.00

Bài phát biểu về chuẩn đầu ra ngành
Bảo vệ thực vật khoa Nông học

GS.TS.Vũ Triệu Mân

Tham luận về: “Nhu cầu đào tạo
9.00 - 9.10

nguồn nhân lực nhìn từ góc độ
Viện nghiên cứu”

TS. Chu Mạnh Thắng
(Viện Chăn nuôi)

i


9.10 – 9.20

Tham luận về: “Thực trạng đáp

Ông Trần Thế Xuân

ứng yêu cầu tuyển dụng hiện nay

Công ty FrieslandCampina


10.40- 11.00 Tổng kết hội nghị

Phó Giám đốc Học viện
Ban giám đốc Học viện,

Từ 11.15

Ăn trƣa tại nhà hàng Kim Thanh

khách mời, Lãnh đạo các
khoa, Ban TC &KT,
Ban QLĐT, TT.ĐBCL.

ii


MỤC LỤC
1. MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG VIỆC CỦA SINH VIÊN KHOA
SƢ PHẠM – NGOẠI NGỮ ............................................................................. 1
2. GÓP Ý VỀ CHUẨN ĐẦU RA CHUYÊN NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
CỦA KHOA NÔNG HỌC ............................................................................... 6
3. NHU CẦU ĐÀO TẠO NGUỒN NHAN LỰC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VIỆN
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 10
4. THỰC TRẠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TUYỂN DỤNG HIỆN NAY CỦA
SINH VIÊN CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM .................................................. 13
5. ĐÓNG GÓP Ý KIẾN VỀ CHUẨN ĐẦU RA NGÀNH KẾ TOÁN ............. 15
6. GỢI MỞ MỘT SỐ ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG TRONG CHUẨN ĐẦU RA
CÁC CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THỜI ĐẠI HỘI NHẬP .... 17


1


đƣợc yêu cầu giảng dạy đa dạng các đối tƣợng. Giáo viên trƣờng TCNN Thái
Bình hiện nay đang phải giảng dạy cho rất nhiều đối tƣợng khác nhau nhƣ:
- Tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật theo các chƣơng trình khuyến
nông cho bà con nông dân các xã, mỗi lớp khoảng 100 học viên, đối tƣợng rất đa
dạng về trình độ, về lứa tuổi, về tính cách, về mục đích đi học…
- Dạy nghề nông nghiệp thƣờng xuyên dƣới 3 tháng cho LĐNT theo đề án
1956/QĐ-TTg mỗi lớp không quá 35 học viên - chủ yếu dạy tại nhà văn hóa các
thôn làng, không đồng đều về độ tuổi (từ 16 - 60 đối với nữ, đến 65 đối với nam)
đa dạng về trình độ, lệch nhau về kỹ thuật, có ngƣời chƣa thạo việc nhà nông,
nhƣng cũng có nhiều ngƣời đã thành những lão nông tri điền rất giỏi…
- Dạy sơ cấp kỹ thuật nông nghiệp tổng hợp thời gian đào tạo dƣới 1 năm, số
lƣợng từ 70 - 100 ngƣời/1lớp, rất da dạng về trình độ, lứa tuổi và mục đích học.
Để hấp dẫn họ theo đuổi học 1 năm là rất khó khăn…
- Dạy Trung cấp Nông nghiệp, số lƣợng 30 - 50/1lớp. Cũng rất đa dạng về
trình độ, lứa tuổi và mục đích học. Những năm gần đây, học sinh tốt nghiệp phổ
thông vào học TCCN là rất ít, có chăng đa số là học sinh cuối nguồn, thƣờng
phải học lẫn với cán bộ địa phƣơng cần chuẩn hóa. Vì vậy rất khó dạy ở các lớp
này.
- Ngoài ra giáo viên trong trƣờng còn tham gia các mô hình, đề tài, dự án
tập huấn hƣớng dẫn nông dân sản xuất an toàn và chăn nuôi an toàn, tham gia
thỉnh giảng cho trung tâm dạy nghề các huyện…
Tất cả những công việc đó đòi hỏi ngƣời giáo viên vừa phải giỏi lý
thuyết, thạo thực hành, vững vàng và linh hoạt nghiệp vụ sƣ phạm, giỏi kỹ năng
giao tiếp… đồng thời phải có đạo đức "trọng dân". Từ những yêu cầu này ngƣời
giáo viên mới luôn luôn đặt trách nhiệm vì dân, vì ngƣời học lên làm đầu, để từ
đó dần hoàn thiện mình, đáp ứng đƣợc yêu cầu của đa dạng các đối tƣợng.
Từ mục tiêu của chƣơng trình đào tạo ngành sƣ phạm kỹ thuật nông

dạy tốt tại các trƣờng cao đẳng, trung cấp, các trung tâm dạy nghề, các trung
tâm khuyến nông về kỹ thuật nông nghiệp. Đòi hỏi sau khi ra trƣờng họ phải có
kiến thức, năng lực và phẩm chất cá nhân.
3


Về kiến thức: Họ phải có kiến thức đầy đủ về các lĩnh vực kỹ thuật nông
nghiệp; kiến thức xã hội học và đời sống nông thôn; kiến thức về đƣờng lối, chủ
trƣơng và những chính sách cơ bản của nhà nƣớc về phát triển nông nghiệp và nông
thôn; kiến thức về giáo dục học, các phƣơng pháp dạy học...
Về năng lực: Họ phải có năng lực tổ chức và lập kế hoạch, năng lực
truyền đạt thông tin, năng lực phân tích và đánh giá; năng lực lãnh đạo, phải tự
tin và biết tin tƣởng vào những nông dân, phải gƣơng mẫu trƣớc quần chúng và
có khả năng lãnh đạo quần chúng thực hiện các chƣơng trình khuyến nông; có
khả năng sáng tạo chứ không phải lúc nào cũng dựa vào sự chỉ đạo của cấp trên.
Về phẩm chất cá nhân: Sẵn sàng làm việc ở những vùng nông thôn xa xôi
hẻo lánh với tinh thần vì dân; phải có lòng nhân đạo, tình cảm yêu mến đối với bà
con nông dân, có tính hài hƣớc nhẹ nhàng trong công việc; phải biết tôn trọng
và lắng nghe ý kiến của nông dân.
Từ yêu cầu thực tế trên, tôi thấy ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà
trƣờng, sinh viên năm 2, năm 3, Khoa Sƣ phạm - Ngoại ngữ nên cho các em đi
kiến tập, thực tập nhiều hơn, liên hệ cho các em về các địa phƣơng, về các
trƣờng CĐ, Trung cấp, các trung tâm dạy nghề… để các em sớm có kiến thức
thực tế. thấy rõ yêu cầu của thực tế. Cho các em đƣợc làm thử, ƣớm thử, dạy
thử… từ đó khi trở lại Học viện học tiếp, các em sẽ thấm hơn, thấu hơn những
điều thầy cô giảng dạy. Đồng thời Học viện cũng nên thƣờng xuyên tổ chức cho
giáo viên khoa Sƣ phạm - Ngoại ngữ đi thực tế, giao lƣu với các địa phƣơng, tổ
chức các buổi hội thảo có sự tham gia của nhiều đối tƣợng… để thấy rõ đƣợc
yêu cầu của thực tế rất đa dạng và phong phú, từ đó xây dựng đƣợc bộ chƣơng
trình sát hơn, trúng hơn, hấp dẫn và thiết thực với ngƣời học hơn.

sinh viên …. Bởi vì đã là kỹ sƣ thì cái gì thuộc về chuyên ngành hẹp của mình
đều phải nắm đƣợc. Có cái sâu sắc, có cái không sâu lắm nhƣng phải có đủ khái
niệm đúng, nếu chỉ giới hạn trong nội dung sau cụm từ mô tả và giải thích là
hạn chế sự năng động của ngƣời học .
Trình độ đại học BVTV của ta nói chung ngày một khá hơn nhƣng về lý
thuyết sinh viên ta thiếu phần kiến thức cơ bản về độc tố và men- một vấn đề rất
quan trọng trong BVTV ,đặc biệt là với môn bệnh lý học thực vật. Cần bổ sung
phần này vào chƣơng trình và chuẩn đầu ra nên ghi nắm được kiến thức cơ bản
về độc tố và men.
Trong mục 1.1.4 tiểu mục 1141 không nên hạn chế sinh viên chỉ ở mức
độ “Mô tả và giải thích….” giống nhƣ phần trên đã ghi.
* Về chuẩn kỹ năng:
Mục 1.2.1(Về kỹ năng cứng) nên sửa:
Tiểu mục 1.2.1.1 thành “Điều tra, chẩn đoán……” nên thêm từ phát hiện.
Tiểu mục 1.2.1.2 nên đổi là : Khai thác đƣợc thông tin liên quan
đến lĩnh vực đƣợc giao nghiên cứu cả bằng tiếng Việt và tiếng Anh …..(Bỏ từ
“thu” và thêm cụm từ “đƣợc giao nghiên cứu”) vì nếu nắm hết tiếng anh BVTV
thì sinh viên khó mà đạt đƣợc,ngay cả ở nƣớc ngoài khi trao đổi tiếng Anh từ
bệnh cây sang côn trùng các kỹ sƣ đều trả lời thẳng là họ không biết.
6


Tiểu mục 1.2.1.3 nên sửa là : Sử dụng,bảo quản đúng kỹ thuật
các thiết bị phun rải thuốc hóa học, sinh học ..vv Bảo quản và pha chế đúng
cách. Biết phân tích tài liệu và nhãn thƣơng phẩm các loại thuốc khi sử
dụng. Viết nhƣ vậy rõ hơn vì nếu ghi là thuốc BVTV sinh viên chỉ nghĩ đến
thuốc hóa học. Nếu ghi là biết cách đọc nhãn thuốc chỉ là phản ánh tình trạng
thấp kém của sinh viên tốt nghiệp hiện nay không thể lấy đó làm chuẩn đầu ra
cho 1 kỹ sƣ.
Tiểu mục 1.2.1.6 nên viết là Thực hiện đƣợc các dịch vụ BVTV bao

nghiệp cao với cộng đồng xã hội đặc biệt về bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên và sức
khỏe cộng đồng
Phần 2 (Định hướng nghề nghiệp ):
Ý thứ 3 nên sửa là “Các doanh nghiệp sản xuất ,kinh doanh nông nghiệp”.
3. 1. Góp ý chuẩn đầu ra cho chuyên ngành bảo vệ thực vật (BVTV) bậc
tiến sĩ
* Mục 1.1 (Chuẩn kiến thức)
Tiến sĩ cần có nghiên cứu có chất lƣợng cao hơn để đạt trình độ cao hơn.
Mục 1.1.5 (kiến thức bổ trợ) : Bổ sung thêm nội dung phần kiến thức bổ
trợ và có lẽ nên ghi là có kiến thức cơ bản về sinh học phân tử và sinh thái học
BVTV.
Mục 1.1.6 (Kiến thức tốt nghiệp): Tạo tri thức khoa học mới là quá cao so
với 1 nghiên cứu sinh (NCS). Đây phải là một nhà khoa học lớn mới làm đƣợc.
Vậy nên ghi là Đóng góp một nội dung hay một sản phẩm khoa học mới
trong lĩnh vực BVTV hay trong một số lĩnh vực liên quan đến khoa học BVTV
dựa trên các bằng chứng thực nghiệm
*Mục 1.2 (Về kỹ năng)
Mục 1.2.1 (Kỹ năng cứng): Nên viết là Chủ động và chuyên nghiệp trong
thiết kế,tổ chức thực hiện các thí nghiệm của đề tài,dự án thuộc lĩnh vực
nghiên cứu.
Nếu viết nhƣ trong tài liệu NCS khó mà đạt chuẩn đầu ra vì sau khi ra
trƣờng nhiều năm may ra mới làm chủ đề tài cấp cơ sở hay cấp bộ.

8


Muc 1.2.2(Kỹ năng mềm): Nên viết là Giao tiếp bằng tiếng Anh thành
thạo trong lĩnh vực chuyên môn nghiên cứu và giao tiếp đƣợc bằng tiếng
Anh các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và BVTV.
*Phần 2(Định hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp)

nhƣ thực tế hiện nay Nhà nƣớc đang có xu hƣớng tinh giản biên chế, đòi hỏi
nâng cao chất lƣợng và hiệu quả trong công tác nghiên cứu. Một số chính sách
mới có hiệu lực nhƣ NĐ 108/2014/ND-CP năm 2014 về tinh giản biên chế đã
phần nào tạo rào cản và tăng tính cạnh tranh giữa các sinh viên khi thi tuyển vào
các vị trí công việc. Do vậy những năm gần đây Viện đã tập trung tuyển chọn
đội ngũ cán bộ phải đảm bảo có đẩy đủ trình độ, kiến thức chuyên môn và kinh
10


nghiệm thực tế. Năm 2013 Viện đã xây dựng và ban hành Đề án "Đào tạo đội
ngũ cán bộ trẻ thông qua thực tiễn sản xuất". Theo đó đối tƣợng của đề án là các
cán bộ sau khi đƣợc tuyển dụng hoặc cán bộ trẻ chƣa có hoặc thiếu kinh nghiệm
thực tiễn trong lĩnh vƣc chăn nuôi.
Tồn tại - giải pháp
Nhìn từ góc độ là đơn vị nghiên cứu khoa học, chúng tôi thầy rằng, mặc dù
chất lƣợng đào tạo các em sinh viên tốt nghiệp ra trƣờng ở các Trƣờng và đặc biệt
của Học Viện Nông nghiệm Việt Nam những năm gần đây đã đƣợc cải thiện rõ rệt,
số sinh viên ra trƣờng có việc làm theo đúng ngành đào tạo đã tăng đáng kể, các
nhà tuyển dụng phần nào tin tƣởng vào uy tín chất lƣợng đào tạo từ Học Viện.
Song thẳng thắn nhìn nhận một cách khách quan, vẫn còn một số bất cập sau:
+ Hạn chế về kiến thức kỹ năng thực tế gắn với chuyên môn, ở đây chƣa
đề cập đến vấn đề kinh nghiệm.
+ Thứ hai, nhiều em vẫn quan niệm ra trƣờng cố gắng vào đƣợc vị trí
công việc nào đó, làm đủ 8 tiếng, mà thiếu sự phấn đấu, sự đam mê, tìm tòi học
hỏi. Điều này có thể phần nào đúng khi các em vào làm tại các doanh nghiệp,
công ty nƣớc ngoài (làm theo dây chuyền), tuy nhiên trong môi trƣờng nghiên
cứu khoa học nhƣ ở các Viện nghiên cứu thì cái đó chƣa đủ, nếu các em không
thực sự có đam mê, không chủ động bám sát, tìm tòi những vấn đề cần giải
quyết trong sản xuất thực tiễn thì khó có thể phát huy hết những kiến thức,
những kinh nghiệm đƣợc truyền dạy, cũng nhƣ có thể "sống đƣợc" với nghề

sự phát triển trong sự nghiệp đào tạo ở nƣớc ta. Xuất phát từ nhu cầu của mỗi
đơn vị, ở mỗi khía cạnh, đặc thù khác nhau cần cụ thể hóa thành định hƣớng cho
sinh viên ngày từ những năm đầu của quá trình đào tạo. Trong mỗi đinh hƣớng
đó, sinh viên sẽ phát huy thế mạnh, sở trƣờng của mình để từ đó tích lũy học hỏi
và phấn đấu bám theo mục tiêu. Ở khía cạnh môi trƣờng nghiên cứu khoa học
cần những cán bộ không chỉ hội tủ đầy đủ kiến thức chuyên môi sâu, tinh thần
thái độ học hỏi mà cần có cái "Tâm" đối với Nghề này. Và những ai thực sự yêu
thích Nghề này thì cánh cửa, môi trƣờng nghiên cứu của Viện Chăn nuôi luôn
rộng mở đón chào. Những kiến thức các sinh viên học hỏi đƣợc từ các thầy cô ở
Học Viện Nông nghiệp VN trang bị cho các em sẽ đƣợc tiếp nối và phát huy
trong môi trƣờng của Viện, sẽ tạo nền tảng, tiền đề để các em trở thành các nhà
khoa học có uy tín của Ngành trong tƣơng lai.
12


THỰC TRẠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TUYỂN DỤNG HIỆN NAY CỦA
SINH VIÊN CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Ông Trần Thế Xuân
Công ty FrieslandCampina Việt Nam
Với hơn chục năm công tác tại các tập đoàn lớn về TP và đã từng phỏng
vấn tuyển dụng nhiều sinh viên khoa CNTP trƣờng ta, tôi xin phép đƣợc trình
bầy một số ý kiến tham luận về “các yêu cầu tuyển dụng và thực trạng mức độ
đáp ứng của sinh viên mới ra trƣờng”nhƣ sau:
1, Về chuyên môn:
Các yêu cầu tuyển dụng của các công ty lớn, các tập đoàn đa quốc gia (sẽ
đƣợc trình bày trong hội thảo) ngày càng đòi hỏi cao và tập trung vào thực tế sản
xuất kinh doanh của họ trong khi:
- Kiến thức chuyên môn của sinh viên còn rất chung chung, dàn trải, chƣa
nắm bắt ngay hoặc chƣa cập nhật, chƣa hiểu sâu về quy trình công nghệ … và rất
thiếu thực tế

Nguyễn Thị Hải Yến
Cựu sinh viên: Ngành kế toán K55
Chƣơng trình đào tạo đƣợc xây dựng nhằm thúc đẩy hoạt động học tập,
phƣơng pháp học tập đã tạo cho sinh viên chúng em thói quen học tập. Suốt thời
gian học tập dƣới mái trƣờng đại học, chƣơng trình đào tạo đã rèn luyện cho
chúng em có khả năng thực hiện các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu, phát
triển nhân cách, giúp chúng em có năng lực trong lĩnh vực chuyên môn.
Trƣớc khi thực hiện việc học tập theo chƣơng trình đào tạo thì chuẩn đầu
ra có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp chúng em hiểu rõ kiến thức kỹ năng, đạo
đức và thái độ cái mà kết thúc khoá học chúng em sẽ đạt đƣợc.
Chúng em còn đƣợc hiểu những kiến thức đại cƣơng, kiến thức chung,
đồng thời chúng em còn đƣợc biết kiến thức toán cơ bản, toán kinh tế, nguyên lý
thống kê kinh tế, quản trị học, tâm lý trong quản lý, hợp tác kinh tế để giải quyết
một số tình huống cơ bản trong tổ chức và quản lý các hoạt động của doanh
nghiệp.
Chƣơng trình đào tạo của ngành kế toán doanh nghiệp là rất phù hợp. Tuy
nhiên các khoá đào tạo với thời gian 4 năm vì vậy chuẩn đầu ra cần đƣợc thay
đổi chỉnh sửa để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Đặc biệt đối với kế toán, các chính
sách và chế độ luôn luôn có sự thay đổi cập nhật, đặc biệt xu thế phát triển của
nền kinh tế càng đổi mới, thì đòi hỏi về nghề nghiệp cũng nên thay đổi cho phù
hợp. Chính vì thế sự thay đổi chuẩn đầu ra để thay đổi chƣơng trình đào tạo là
hết sức cần thiết.
Theo quan điểm của cá nhân em, chuẩn đầu ra của ngành kế toán có một
số chỗ em thấy Nhà trƣờng nên điều chỉnh (đây chỉ là quan điểm cá nhân em)
Về kiến thức: “Hiểu và vận dụng đƣợc hệ thống tri thức khoa học về:
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin; tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; chủ

15



xây dựng các chuẩn đầu ra phù hợp trong các chương trình đào tạo đại học
nhằm giúp người học thich nghi với bối cảnh mới khi ra trường, trong đó có
năng lực văn hóa-xã hội và học tập suốt đời, là những năng lực then chốt (key
competence) trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng có nhiều sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các quốc gia và giữa các lãnh vực. Bài viết gợi mở phương thức giúp
sinh viên phát triển các năng lực này một cách hệ thống thống qua việc tích hợp
vào chương trình đào tạo kết quả học tập dự kiến rõ ràng cũng như chiến lược
giảng dạy giúp đạt các chuẩn đầu ra này và phương thức đánh giá phù hợp.
Từ khóa: toàn cầu hóa, năng lực văn hóa-xã hội, học tập suốt đời.
Dẫn nhập
Từ khi Việt Nam bƣớc vào giai đoạn hội nhập khu vực và thế giới, giáo
dục đại học Việt Nam đã từng bƣớc đổi mới về chƣơng trình và phƣơng thức
đào tạo nhằm đào tạo nguồn nhân lực thích ứng với bối cảnh hội nhập. Bốn trụ
cột giáo dục của UNESCO đều đòi hỏi năng lực tự học suốt đời và năng lực văn
hóa-xã hội mới có thể phát triển toàn diện về tƣ duy và nhân cách. Nhƣ vậy, các
kết quả học tập dự kiến hay chuẩn đầu ra của các chƣơng trình giáo dục đại học
không thể thiếu 2 yếu tố này. Những kết quả dự kiến này làm cơ sở cho việc
thiết kế cấu trúc và nội dung chƣơng trình đào tạo (CTĐT), phƣơng thức đào tạo
và đánh giá đƣợc các mức độ đạt đƣợc chuẩn đầu ra của ngƣời học.

17


1. Chƣơng trình đào tạo tích hợp năng lực văn hóa-xã hội và học tập suốt
đời
1.1. Mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra
Mục tiêu chƣơng trình đào tạo là tuyên bố tổng quát về lý do tồn tại của
chƣơng trình, trong đó xác định mục tiêu tổng thể của chƣơng trình bao gồm bối
cảnh, nghề nghiệp, và sự nghiệp tƣơng lai của SV sau khi tốt nghiệp (Đoàn Thị
Minh Trinh 2012: 10).

bùng nổ thông tin toàn cầu.
1.2. Thang phân loại các mức độ năng lực bậc cao
Chuẩn đầu ra phải cụ thể và quan sát đƣợc, đo lƣờng và đánh giá đƣợc với
những tiêu chí rõ ràng theo các cấp độ, đƣợc xây dựng ở cấp chƣơng trình và
cấp môn học.
Do đó, cần tham khảo các thang phân loại mức độ năng lực. Trong ba
loại mục tiêu giáo dục: nhận thức (cognitive), tình cảm/thái độ (affective) và
psycho-motor (tâm lí vận động), thang phân loại các mức độ nhận thức của
Benjamin S. Bloom (1956) gồm 6 mức độ sau: (1) Nhận biết (Knowledge), (2)
Hiểu (Comprehension), (3) Vận dụng (Application), (4) Phân tích (Analysis),
(5) Tổng hợp (Synthesis), (6) Đánh giá (Evaluation). Đối với bậc giáo dục đại
học, cần lƣu ý ba mức độ tƣ duy bậc cao đƣợc mô tả cụ thể với những động từ
nhƣ sau:
- Phân tích: có các động từ thƣờng đƣợc dùng để mô tả khả năng phân tích
bao gồm: phân tích, tổ chức, chọn lựa, suy luận, so sánh, đối chiếu, phân biệt,
kiểm tra, thử nghiệm…
- Tổng hợp: các động từ thƣờng đƣợc dùng để mô tả khả năng tổng hợp
bao gồm: thiết kế, giả định, lập kế hoạch, khái quát hóa, viết, trình bày, thảo
luận, tạo lập, xây dựng,…
- Đánh giá: các động từ thƣờng đƣợc dùng để mô tả khả năng này bao
gồm: xét đoán, ước lượng, đánh giá, phê bình, bênh vực, bảo vệ, thanh minh,
biện luận…

19


Nhận thấy thang trên chƣa thật sự hoàn chỉnh, TS. Lorin Anderson
(1999)1 , một học trò của Benjamin S. Bloom, đã cùng một số cộng sự đề xuất
sự điều chỉnh lại thang phân loại các mức độ nhận thức nhƣ sau: (1) Nhớ
(Remembering), (2) Hiểu (Understanding), (3) Vận dụng (Applying), (4) Phân

ngoài, với thế giới trong các lãnh vực chuyên ngành. Trong một hội thảo liên
quan đến vấn đề quốc tế hóa trƣờng đại học, các chuyên gia giáo dục đã đề xuất
“cần đƣa những chiều kích quốc tế và những so sánh đa văn hóa hội nhập vào
môn học của mình, qua đó giáo dục cho SV về giá trị của những quan điểm khác
nhau, đƣa những kinh nghiệm chuyên môn từ những nền văn hóa khác”
(Vladimir Briller và Phạm Thị Ly: 2008). Các môn học so sánh rất cần thiết,
nhƣ chuyên ngành giáo dục nên có môn học giáo dục so sánh, chuyên ngành địa
lý nên có môn địa lý so sánh, ngành luật có môn luật so sánh, kinh tế có kinh tế
so sánh, văn hóa có văn hóa so sánh... (Phan Thu Hiền: 2010). Thậm chí, trong
cấu trúc chƣơng trình mỗi môn học nên có chƣơng/ phần giới thiệu về các mô
hình, tình hình phát triển của lãnh vực chuyên môn của môn học đó ở các nƣớc
khác, kể cả sự đóng góp của các nhóm dân tộc thiểu số, giúp SV vừa mở rộng
kiến thức vừa phát triển các kỹ năng nhƣ so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá,
liên hệ thực tế, sáng tạo trong vận dụng, phát triển tƣ duy suy xét (critical
thinking),…là những kỹ năng tƣ duy bậc cao.
Ngoài ra, xu hƣớng tích hợp, liên ngành cũng cần đƣợc lƣu ý khi xây
dựng CTĐT vì sẽ giúp SV biết cách giả quyết vấn đề một cách sáng tạo, linh
hoạt, mở rộng tầm nhìn, có động cơ học hỏi thêm những kiến thức, kỹ năng khác
để giải quyết đƣợc những vấn đề thực tiễn vốn đa dạng, phức tạp, đồng thời phát
triển đƣợc khả năng giao tiếp, phối hợp, làm việc nhóm liên ngành. Trong học
chế tín chỉ, SV nên đƣợc tạo cơ hội chọn lựa các môn liên thông với các ngành
khác trong cùng trƣờng hoặc khác trƣờng. Đặc biệt là giáo trình tài liệu phải đa
dạng, cập nhật, khuyến khích SV đọc tài liệu bằng ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh.
Trong các đề cƣơng chi tiết môn học cần có các tài liệu tham khảo dƣới dạng
các websites, các giáo trình và học liệu điện tử, thƣ viện điện tử, các nguồn học
liệu mở, tạp chí chuyến ngành online, các websites của các hiệp hội chuyên
ngành,….

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status