1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bối cảnh quốc tế hiện nay cho thấy rằng hoà bình, hợp tác và phát triển
là xu thế chung. Toàn cầu hóa, khu vực hoá và đa dạng hoá về kinh tế đem lại
nhiều thuận lợi trong quá trình hợp tác về kinh tế, kỹ thuật giữa các nước,
song cũng không ít khó khăn, thách thức. Để tồn tại và phát triển, mỗi quốc
gia sẽ phải tự làm cho nền kinh tế của mình dần thích nghi với xu thế chung
đó, trong đó phát triển KTCK ở các vùng biên giới có vai trò rất quan trọng.
Tiến trình mở cửa và hội nhập theo phương châm "đa dạng hóa, đa
phương hóa" các quan hệ giao lưu kinh tế, đã được Đảng và Nhà nước ta
khẳng định như là một trong những điều kiện quan trọng để đẩy nhanh phát
triển kinh tế đất nước trong giai đoạn tới. Trong điều kiện đặc thù của Việt
Nam, với đường biên giới trải dài bao gồm nhiều cửa khẩu thông thương với
các nước láng giềng, việc tìm ra cơ chế, chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy
các hoạt động kinh tế qua các cửa khẩu biên giới là việc làm hết sức cần
thiết, nhằm mục đích mở cửa nền kinh tế ra nhiều hướng, theo nhiều tầng
nấc khác nhau.
Việt Nam hiện có trên 40 cửa khẩu quốc tế, quốc gia đường bộ và
đường sắt trên địa bàn 25 tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và
Campuchia; trong đó có 25 KKTCK trên địa bàn 19 tỉnh biên giới được Thủ
tướng Chính phủ cho phép thành lập.
Các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện có 22 cửa khẩu quốc tế và
quốc gia trên địa bàn 9 tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc và Lào; trong
đó có 12 KKTCK được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập.
2
Riêng tiếp giáp với Trung Quốc, Việt Nam có 7 tỉnh (Quảng Ninh,
Việt; đưa ra những trở ngại chủ yếu của việc xây dựng đặc khu hợp tác kinh
tế Trung – Việt; kiến nghị một số chính sách mang tính chiến lược đối với các
đặc khu hợp tác kinh tế…Song đây cũng chỉ là tài liệu mang tính tham khảo
vì mới nghiên cứu, đưa ra những vấn đề chung nhất về các đặc khu hợp tác
kinh tế; “Báo cáo nghiên cứu khả thi khu hợp tác kinh tế Lào Cai, Việt Nam Hồng Hà, Trung Quốc” và “Nghiên cứu chiến lược khu hợp tác kinh tế xuyên
biên giới Trung – Việt” của Viện nghiên cứu hợp tác kinh tế mậu dịch quốc tế
- Bộ Thương mại Trung Quốc, báo cáo tại hội nghị Côn Minh tháng 2 năm
2009. Tài liệu đã phân tích sự cần thiết phải xây dựng khu hợp tác kinh tế
xuyên biên giới, nêu ý nghĩa và vai trò của khu hợp tác kinh tế xuyên biên
giới; xác định nội hàm và chức năng của khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới
và đề xuất loại hình phát triển của khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới; kiến
nghị về chính sách đối với khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới. Mặc dù tài
liệu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu khu hợp tác kinh tế ở khu vực biên
giới song đây chính là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển các
KKTCK trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy đây cũng là tài liệu
quan trọng giúp tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Thứ hai, các nghiên cứu trong nước: Ở Việt Nam, liên quan đến vấn đề
này đã có khá nhiều các tổ chức và học giả nghiên cứu, nhiều công trình được
công bố và có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Có thể nêu lên một số
công trình sau:
- Các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung và tác động của nó tới
sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam. TS Phạm Văn Linh, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội năm 2001; đã đề cập đến nhiều nội dung về phát triển các
KKTCK biên giới phía Bắc Việt Nam, phân tích vị trí, tầm quan trọng của
KKTCK trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, hội nhập và mở cửa kinh tế,
thực trạng quá trình hình thành, phát triển và tác động của các KKTCK đến sự
5
dựng hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; đánh giá
thực trạng phát triển thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai –
Hà Nội – Hải Phòng; phân tích tác động của hành lang kinh tế đối với việc
hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc và đưa ra các giải
pháp thúc đẩy phát triển thương mại khu vực hành lang kinh tế Côn Minh –
Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.
- Các giải pháp thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam
với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc); đề tài cấp bộ do TS
Nguyễn Văn Lịch chủ nhiệm, Hà Nội năm 2005, đã phân tích và làm rõ được
vai trò của việc phát triển thương mại giữa Việt Nam và hai tỉnh Vân Nam và
Quảng Tây đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; đánh giá được
thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam với hai tỉnh Vân Nam và
Quảng Tây, Trung Quốc; đề xuất quan điểm, dự báo và một số giải pháp
nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam với hai tỉnh Vân Nam và
Quảng Tây, Trung Quốc.
Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng tải trên các kỷ yếu hội thảo như Kỷ yếu
Hội thảo quốc tế “Hợp tác phát triển hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai –
Hà Nội – Hải Phòng” tại Lào Cai, tháng 11/2005; Kỷ yếu Hội thảo khoa học
giữa Học viện Tài chính (Việt Nam) và Học viện kinh tế tài chính Quảng Tây
(Trung Quốc) “Kinh tế biên mậu Việt Nam – Trung Quốc triển vọng và giải
pháp thúc đẩy”, tổ chức tại Hà Nội, 2006; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Các giải
pháp phát triển hai hành lang một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc
trong bối cảnh mới” tổ chức tại Lào Cai tháng 12/2007…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề lý
thuyết về phát triển các KKTCK biên giới, chỉ ra vị trí, tầm quan trọng của các
KKTCK, tình hình phát triển hoạt động thương mại tại các KKTCK. Tuy nhiên,
một loạt vấn đề mà các công trình nghiên cứu đã công bố chưa được đề cập hoặc
7
8
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, vì phát triển KKTCK có phạm vi rộng, trong luận án này sẽ
tập trung nghiên cứu phát triển KKTCK về không gian lãnh thổ kinh tế -xã
hội và phát triển kinh tế tại các KKTCK trong đó nhấn mạnh đến các hoạt
động giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ dưới tác động của hệ thống cơ chế
chính sách, tổ chức quản lý tầm vĩ mô cũng như sự vận dụng của chính quyền
địa phương đảm bảo cho sự phát triển KKTCK.
Về không gian: Hiện nay các tỉnh Việt Nam có biên giới đất liền tiếp giáp
với Trung Quốc gồm 7 tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào
Cai, Điện Biên và Lai Châu. Tại 7 tỉnh này đã có 8 KKTCK. Trong phạm vi
Luận án này sẽ lựa chọn 6 KKTCK đã và đang hoạt động tại 6 tỉnh để nghiên
cứu. Cụ thể là: KKTCK Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; KKTCK Đồng Đăng, tỉnh
Lạng Sơn; KKTCK Lào Cai, tỉnh Lào Cai; KKTCK Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng;
KKTCK Thành Thủy, tỉnh Hà Giang; và KKTCK Ma Lù Thàng, tỉnh Lai Châu.
Về thời gian: Luận án nghiên cứu phát triển các KKTCK Việt Nam tiếp
giáp với Trung Quốc từ khi nhà nước ta mở cửa biên giới đến nay, số liệu chủ
yếu từ năm 2006 đến 2010; đưa ra quan điểm, định hướng phát triển các
KKTCK biên giới phía Bắc Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc giai đoạn đến
năm 2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận án là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử, trừu tượng hóa khoa học; đồng thời dựa trên quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta trong lĩnh vực kinh tế để xem xét các vấn đề của đề tài.
Luận án sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát thu thập thông tin tài liệu
sơ cấp trên cơ sở phỏng vấn 301 cán bộ quản lý nhà nước cấp trung ương, cấp
tỉnh và các doanh nghiệp tại các KKTCK.
giới để vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa phát triển xã hội vừa đảm bảo
củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh biên giới.
10
Thứ năm, khuyến nghị được hệ thống một số giải pháp chủ yếu nhằm
tiếp tục đẩy mạnh phát triển KKTCK biên giới Việt Nam tiếp giáp với Trung
Quốc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo phát huy hiệu quả về
kinh tế, góp phần ổn định về chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh trên các
tuyến biên giới.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục
có liên quan, nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như
sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển khu kinh
tế cửa khẩu biên giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Thực trạng phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc
Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển khu
kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam
11
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
phi thuế quan (khu bảo thuế), khu thương mại, khu thương mại – công
nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các tiểu khu du
lịch, nghỉ dưỡng, giải trí...
- Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có
ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được hưởng một số
chế độ ưu tiên của Chính phủ hay địa phương do cấp có thẩm quyền quyết
định thành lập.
- Khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chuyên
sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới xác định, không có cư dân sinh sống,
được hưởng một số chế độ ưu tiên đặc biệt của Chính phủ do cấp có thẩm
quyền quyết định thành lập.
- Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ
thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, gồm
nghiên cứu – triển khai khoa học – công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên
quan, có ranh giới địa lý xác định, do cấp có thẩm quyền quyết định thành lập.
- Khu phi thuế quan là khu vực địa lý có ranh giới xác định trong phạm
vi một quốc gia, được ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hàng rào cứng,
có cổng và cửa ra vào bảo đảm điều kiện cho sự kiểm soát của cơ quan Hải
13
quan và các cơ quan chức năng có liên quan, có cơ quan Hải quan giám sát,
kiểm tra hàng hóa và phương tiện ra vào khu.
- Khu hợp tác kinh tế biên giới (khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới): là
mô hình khu kinh tế cửa khẩu đặc biệt, liên kết hai quốc gia, tạo ra vùng lãnh
thổ đặc thù, hai bên có thể thỏa thuận bằng một Hiệp ước, theo đó chỉ ra vùng
lãnh thổ hợp lý, có hàng rào, không có dân cư sinh sống.
+ Hành lang kinh tế là một không gian kinh tế có giới hạn về chiều dài
và chiều rộng, liên vùng lãnh thổ hoặc liên quốc gia, dựa trên việc thành lập
một hoặc nhiều tuyến giao thông kết hợp với những chính sách kinh tế nhất
định để thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn không gian đó. Hành lang kinh tế
thường được thành lập để đẩy mạnh sự hội nhập về kinh tế giữa những vùng
kém phát triển hơn và thường là vùng sâu, vùng xa với những vùng phát triển
hơn và thường là vùng Duyên Hải.
+ Vành đai kinh tế là một không gian kinh tế có giới hạn về chiều dài
và chiều rộng, liên vùng lãnh thổ hoặc liên quốc gia, dựa trên việc thành lập
một hoặc nhiều trục giao thông ven biển kết hợp với những chính sách kinh tế
nhất định để thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn không gian đó. Vành đai
kinh tế thường được thành lập để đẩy mạnh sự hội nhập về kinh tế giữa những
vùng phát triển ven biển, tạo một khu vực kinh tế năng động, có sức thúc đẩy
phát triển kinh tế của cả vùng hoặc quốc gia.
Hai là, khái niệm khu kinh tế cửa khẩu biên giới: Cùng với quá trình mở
cửa hội nhập kinh tế quốc tế, theo đó là sự gia tăng các hoạt động thương mại,
đầu tư, du lịch qua cửa khẩu giữa nước ta với các nước có chung biên giới.
Thuật ngữ KKTCK biên giới được dùng ngày càng nhiều trong các văn kiện
của cơ quan quản lý Nhà nước, xuất hiện nhiều trên các sách, báo và các cuộc
hội thảo trong thời gian gần đây. Đã có một số nghiên cứu có tính chất chuyên
15
đề như hoạt động thương mại ở KKTCK biên giới, thu hút đầu tư, hay là phát
triển các dịch vụ trong KKTCK biên giới… Xung quanh các nghiên cứu về
KKTCK biên giới, có thực tế là cùng đối tượng nghiên cứu nhưng do mục
đích nghiên cứu mỗi chuyên đề không giống nhau, do đó có những cách tiếp
cận đối tượng nghiên cứu khác nhau. Chính vì lẽ đó mà tồn tại những quan
niệm không đồng nhất với nhau về KKTCK biên giới. Ở đây, mới đề cập đến
được xem như là trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế và là động lực thúc đẩy
quan hệ kinh tế đối ngoại.
- Đặc trưng hoạt động kinh tế của KKTCK chủ yếu tập trung vào các
lĩnh vực: thương mại, xuất nhập khẩu, các loại hình dịch vụ (du lịch, tài chính
ngân hàng…), đầu tư, xây dựng, gia công chế biến. Đó là sự khác biệt với các
khu kinh tế khác như KCN, KCX, khu công nghệ cao…
- Được các cấp có thẩm quyền thành lập và Nhà nước quản lý
KKTCK bằng cơ chế, chính sách riêng phù hợp với điều kiện cụ thể, trong
những giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đối với mỗi đối tác nhất định. Rõ
ràng, KKTCK hình thành và đi vào hoạt động không phải là tự phát mà được
tổ chức quản lý bằng cơ chế, chính sách riêng. Vì vậy, chất lượng hiệu quả
hoạt động của KKTCK phụ thuộc rất nhiều vào trình độ năng lực của cơ
quan quản lý Nhà nước.
Những nội dung trên, có thể nhận dạng, định hình được KKTCK, phân
biệt KKTCK với các loại khu kinh tế khác giúp cho các cơ quan hoạch định
chính sách có các cơ chế, chính sách thích hợp. Tuy nhiên những quan niệm
đó không thể được coi là khái niệm khoa học. Như chúng ta biết, một khái
niệm hình thành là kết quả của quá trình trừu tượng khoa học. Về nhận thức,
khái niệm phải phản ánh được mặt bản chất, mối liên hệ bên trong có tính phổ
17
quát và nó thể hiện được những đặc điểm đặc trưng những thuộc tính riêng có
của sự vật đó, để nhận biết nó là cái gì và phân biệt nó với cái khác. Hay nói
cách khác đó là nội hàm của khái niệm.
Ở đây đang xét đến nội hàm khái niệm KKTCK trong khuôn khổ của
đề tài nghiên cứu.
- Trước hết, KKTCK là một phạm trù kinh tế nó phản ánh mặt nào đó
của quan hệ sản xuất, đó là quan hệ tổ chức – quản lý. Trong đó Nhà nước là
ngành, các vùng, các miền của cả nước. Như vậy, KKTCK xét về địa kinh tế,
vừa có ảnh hưởng lan tỏa vừa có sự hội tụ của một trung tâm, đầu mối kinh tế.
Đồng thời, việc xây dựng phát triển các KKTCK ở nước ta hiện nay không
chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có tác động tích cực đến các mặt của
đời sống chính trị - xã hội; giữ vững an ninh nơi biên giới và bảo vệ chủ
quyền quốc gia. Sự phát triển KKTCK gắn liền với quá trình đô thị hóa và
hình thành các khu đô thị ở vùng cửa khẩu biên giới. Xu hướng phát triển các
khu kinh tế hiện đại trên thế giới hiện nay theo mô hình thành phố - trung tâm
kinh tế; vừa tổ chức các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh, dịch vụ vừa
tổ chức đời sống xã hội của bộ phận dân cư sinh sống trong các khu kinh tế
nói chung và KKTCK nói riêng. Ý kiến thứ hai cho rằng: “KKTCK có dân cư
hoặc không có dân cư sinh sống”, đó chỉ là những quy định của cấp có thẩm
quyền ra quyết định thành lập KKTCK phù hợp với điều kiện cụ thể về thời
gian, phạm vi, tính chất hoạt động của KKTCK. Song về cơ bản KKTCK là
không gian tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội.
- Thứ ba, các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trong các KKTCK lấy
giao lưu kinh tế với các quốc gia có cùng chung biên giới làm nòng cốt: như
là thương mại, xuất nhập khẩu, đầu tư kinh doanh, các loại hình dịch vụ. Có
thể coi đây là đặc trưng cơ bản của KKTCK, phân biệt KKTCK với các KCN,
KCX, khu công nghệ cao. Do tính đặc thù của các hoạt động kinh tế, đòi hỏi
19
phải có cơ chế, chính sách quản lý riêng cho các KKTCK. Chúng tôi đồng
tình chia sẻ với các tác giả, các cơ quan nghiên cứu quan niệm này về
KKTCK. Nhà nước quản lý các KKTCK bằng chiến lược, định hướng phát
triển các KKTCK được thể hiện ở quy hoạch, kế hoạch của các cấp, các
ngành và địa phương có cửa khẩu. Trên cơ sở đó ban hành cơ chế, chính sách
phù hợp với hoạt động kinh tế đặc thù của KKTCK. Cơ chế hoạt động của
thành hiện thực được tổ chức tự giác, thông qua hoạt động của KKTCK.
Đồng thời ở nước ta cửa khẩu biên giới ở những nơi xa các trung tâm kinh tế,
văn hóa, kinh tế kém phát triển, cơ sở hạ tầng thấp kém, đời sống nhân dân
còn nhiều khó khăn. Mục đích xây dựng các KKTCK nhằm phát triển kinh tế
- xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo việc làm và thu nhập ổn định cho
người lao động, bảo vệ môi trường và bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Qua những phân tích trên về nội hàm khái niệm KKTCK, dựa trên sự
kế thừa phát triển những quan niệm của một số nhà nghiên cứu. Tổng hợp lại
theo quan điểm của tác giả về KKTCK như sau:
KKTCK biên giới là hình thức tổ chức kinh tế, phản ánh các quan hệ tổ
chức – quản lý. Đó là không gian kinh tế - xã hội gắn liền với cửa khẩu biên
giới, trong đó diễn ra các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, đầu tư kinh
doanh và các loại hình dịch vụ được thực hiện bằng các cơ chế, chính sách
riêng, nhằm nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế đối ngoại và phát triển bền
vững khu vực cửa khẩu biên giới.
Cách hiểu này nêu rõ hai vấn đề cốt lõi của KKTCK biên giới:
1) KKTCK biên giới là một không gian lãnh thổ về kinh tế, đồng thời
cũng là không gian lãnh thổ về dân cư;
2) KKTCK lấy hoạt động giao lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới làm
hoạt động chính.
21
Ba là, phân biệt giữa KKTCK với các KKT khác: qua phân tích, có
thể nhận thấy các khái niệm về KKT tự do, KCN, KCX, khu công nghệ cao,
khu thương mại – công nghiệp, khu phi thuế quan, khu hợp tác kinh tế biên
giới, khu giao lưu kinh tế biên giới, cửa khẩu, khu vực quanh biên giới,
KKTCK... đều là các loại hình của KKT, chúng có những đặc điểm khác
nhau xuất phát từ sự khác nhau về mục đích, đối tượng tham gia hay mối
Phát triển KKTCK là khái niệm phức tạp và còn khá mới mẻ, trong
phần tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài cho thấy, hầu như chưa từng có
công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Vận dụng phương pháp của
kinh tế - chính trị Mácxít và những nguyên lý của kinh tế học phát triển, để
xem xét sự phát triển KKTCK ở các khía cạnh sau đây:
Phát triển KKTCK, trước tiên đó là quá trình kinh tế được nhận thức tự
giác, tổ chức không gian kinh tế thực hiện hoạt động kinh tế đối ngoại với các
quốc gia có cùng chung biên giới. Chúng ta biết, bất cứ quá trình kinh tế nào
diễn ra đều chịu sự chi phối của các quy luật khách quan. Song tính khách
quan của quy luật không đồng nghĩa với tự phát và khách quan không có
nghĩa là không có sự tham gia của con người. Đặc điểm hoạt động của quy
luật kinh tế thông qua hoạt động của con người và con người là thực thể có ý
thức, nhận thức vận dụng tự giác, tổ chức hoạt động kinh tế phù hợp với yêu
cầu của các quy luật kinh tế không được nhận thức vận dụng tự giác, thì quá
trình kinh tế vẫn diễn ra nhưng mang tính tự phát như: “bàn tay vô hình” của
A.Smith hay C.Mác cho rằng đó là “lực lượng đằng sau người sản xuất”.
F.Anghen còn gọi đó là “bà chủ quỷ quái”, nhưng khi đã hiểu được bản chất
của nó, thì có thể biến nó thành “cô đầy tớ trung thành, ngoan ngoãn”.
Do vậy, về nhận thức nếu cho rằng phát triển KKTCK là khách quan
hay chủ quan, hoặc là thế này hoặc là thế kia ở hai thái cực đối lập nhau thì
23
đều là phiến diện. Theo cách hiểu như đã phân tích ở trên, phát triển KKTCK
không còn là khái niệm trừu tượng nữa mà là quá trình kinh tế diễn ra trong
hiện thực. Đó là quá trình nâng cao trình độ, mức độ và chất lượng hoạt động
KKTCK dựa trên những điều kiện tiền đề nhất định về cơ sở hạ tầng kỹ thuật,
xã hội, năng lực, hiệu lực quản lý của Nhà nước, đường lối kinh tế đối ngoại,
quan hệ với đối tác… Phát triển KKTCK là quá trình từ thấp đến cao, từ giản
Mục đích phát triển KKTCK là nhằm mở rộng, nâng cao hiệu quả kinh tế đối
ngoại, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và phát triển không gian kinh
tế - xã hội bền vững khu vực của cửa khẩu biên giới, đảm bảo an sinh xã hội,
bảo vệ môi trường sinh thái, bảo về chủ quyền quốc gia.
Như vậy, phát triển KKTCK đó là quá trình nâng cao trình độ, mức độ,
chất lượng hoạt động của KKTCK dựa trên những điều kiện tiền đề nhất định.
Đó là sự mở rộng không gian kinh tế - xã hội, tăng trưởng thương mại, tăng
thêm kim ngạch XNK, tăng doanh thu các loại dịch vụ… gắn liền với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa và hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm mở rộng, nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại và phát triển bền vững khu vực cửa khẩu biên giới.
Khái niệm phát triển KKTCK biên giới như trên làm rõ hai vấn đề:
1) Nội dung phát triển KKTCK là phát triển không gian lãnh thổ về
kinh tế, không gian lãnh thổ về xã hội (dân cư) và hoạt động trung tâm là giao
lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới.
2) Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của KKTCK
liên quan đến cơ chế, chính sách, tổ chức, quản lý phù hợp với vùng biên giới.
1.1.2. Tính quy luật, điều kiện hình thành và phát triển khu kinh tế cửa
khẩu biên giới
1.1.2.1. Tính quy luật hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu
biên giới
25
Thứ nhất, trình độ phát triển càng cao của lực lượng sản xuất, nhu cầu
trao đổi ngày càng mở rộng làm xuất hiện những hình thức tổ chức, trao đổi
hoạt động kinh tế mới giữa biên giới các quốc gia.
Khi lực lượng sản xuất phát triển làm cho các mối quan hệ kinh tế vượt
qua biên giới quốc gia. Từ chỗ trao đổi tự nhiên trên cơ sở các sản vật sẵn có,