PHẦN I: MỞ ĐẦU
NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN:
1. Tên sáng kiến: “ Một số kinh nghiệm tạo môi trường chữ viết cho trẻ
mẫu giáo 5- 6 tuổi ”.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phát triển ngôn ngữ.
3. Họ và tên tác giả: Lê Thị Huế
- Ngày tháng năm sinh: 15/04/1973.
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường mầm non Tân Dân- Thị xã Chí
Linh- Hải Dương.
- Điện thoại: 01223346851.
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường mầm non Tân Dân- Thị Xã Chí Linh
- Điện thoại : 03203.888.720
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
+ Được sự quan tâm đầu tư của nhà trường.
+ Các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học của lớp mẫu giáo.
+ Sự phối kết hợp của các bậc phu huynh với giáo viên chủ nhiệm.
+ Giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ
+ Tất cả các lớp mẫu giáo 5-6 tuổi trong trường mầm non đều có thể áp dụng
sáng kiến này.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Trong năm 2013-2014 tôi đã áp
dụng thưc tế tại lớp tôi, với đề tài này mang lại thành công và tiếp tục áp dụng
trong năm học 2014-2015.
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Lê Thị Huế
1
- Đối tượng áp dụng sáng kiến: Lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi trong trường mầm non
3. Nội dung sáng kiến:
- Tính mới tính sáng tạo của sáng kiến: Với đề tài sáng kiến: “ Một số kinh
nghiệm tạo môi trường chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” tôi đã tiến hành
việc điều tra thực trạng về chất lượng của học sinh, đồ dùng đồ chơi, để từ đó
đưa ra một số biện pháp như: “Thiết kế đồ dùng đồ chơi tự tạo.” “Tạo môi
trường cho trẻ làm quen chữ viết ở một số góc” “Xây dựng một số trò chơi giúp
trẻ củng cố sự nhận biết chữ cái cách phát âm, cấu tạo và nét chữ” . Tính mới
và sáng tạo của sáng kiến được thể hiện ở chỗ đã lựa chọn các biện pháp mới
và phù hợp với tình hình thực tế của nhóm lớp nên khi áp dụng sáng kiến này
trên trẻ kết quả đạt được rất hiệu quả.
- Khả năng áp dụng của sáng kiến (cách áp dụng sáng kiến): Đề tài này tôi đã
áp dụng thành công biện pháp trong đề tài vào lớp 5- 6 tuổi của tôi và có khả
năng áp dụng rộng cho trẻ mẫu giáo các lớp 5- 6 tuổi trong trường mầm non.
Để áp dụng đề tài có hiệu quả giáo viên cần nắm vững phương pháp dạy học,
cần có sự linh hoạt trong dạy học, có sự sáng tạo trong việc thiết kế đồ dùng đồ
chơi, xây dựng các trò chơi mới lạ, thường xuyên củng cố thay đổi sưu tầm
tranh ảnh cho các góc .
- Với những biện pháp của đề tài đã mang lại ích lợi thiết thực cho cô và trẻ về
phát triển mọi mặt, có khả năng khơi tính tò mò ham tìm hiểu của trẻ được đến
trường, được biết những điều mới lạ, từ đó tạo cho trẻ niềm vui khi đi học. Bên
cạnh đó giáo viên nắm vững được phương pháp đổi mới giảng dạy, mang lại
nhiều kinh nghiệm kiến thức tích lũy cho bản thân.
4.Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến: Sáng kiến này có ý
nghĩa rất lớn trong việc cho trẻ làm quen với chữ viết, và tôi cũng tin và chắc
chắn rằng những biện pháp áp dụng của đề tài đã giúp trẻ phát âm đúng, rõ
ràng và việc nhận biết 29 chữ cái ghi âm tiếng việt theo kiểu chữ in hoa, in
thường, viết thường hứng thú học bài, hăng hái phát biểu, lĩnh hội được kiến
2. Cơ sở lý luận của vấn đề:
Hiện nay có một số quan niệm cho rằng việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một
chủ yếu là do chúng biết đọc, biết viết, vì thế họ bắt trẻ học trước chương trình
lớp một. Việc làm đó là không phù hợp với quy luật phát triển của trẻ dưới 6
tuổi vượt quá khả năng của trẻ, trẻ chưa đủ chín muồi để tập viết sẽ có hại cho
sự phát triển. Buộc trẻ học sớm khác gì hái quả còn xanh mà đem dấm, qủa
xanh đem dấm cũng chín nhưng không ngon, không có mùi thơm. Nói tóm lại
không nên dạy trước những gì mà sau này trẻ được học ở phổ thông, phải bảo
đảm cho trẻ sống đúng lứa tuổi của mình. Để giúp trẻ thích ứng vứi môi trường
hoạt động mới học có kết quả ở trường phổ thông, việc chuẩn bị cho trẻ phải
được tiến hành một cách toàn diện và có cơ sở và khoa học.
Thực tế mà nói, mỗi môn học đều có tầm quan trọng riêng. Vì vậy đòi hỏi
sự sáng tạo của cô giáo trong tiết dạy, giúp trẻ dễ nhớ, khắc sâu kiến thức, đặc
biệt để chuẩn bị cho trẻ đi học lớp một đối với trẻ 5-6 tuổi tôi càng thấy rõ hoạt
động làm quen chữ viết có vị trí quan trọng là cơ hội tốt để sớm hình thành ở
trẻ có kỹ năng tiền biết đọc, biết viết, nhận biêt 29 chữ cái ghi âm, theo kiểu
5
chữ in thường và chữ viết thường, trẻ làm quen và nhận dạng qua các giác
quan, thính giác, thị giác dưới sự hướng dẫn của cô, trẻ tìm ra các chữ cái trong
các từ tương ứng có gắn bên dưới đồ dùng trực quan tranh ảnh, vật thật…hay
các trò chơi nhận chữ, tìm chữ, ghép chữ…Dạy trẻ nhớ được tên âm chữ cái
thông qua thẻ chữ, trò chơi, cô giáo giúp trẻ nhớ được tên chữ cái, đây là cơ sở
ban đầu giúp trẻ chuẩn bị ghép các âm thành vần, thành tiếng ở lớp một, dạy
trẻ chữ cái theo kiểu in thường, chữ viết thường và nhớ được tên âm chữ cái.
Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn làm quen với chữ viết đối
với trẻ mầm non 5- 6 tuổi, với lòng nhiệt tình sáng tạo và trách nhiệm của một
cô giáo mầm non, tôi mong muốn làm điều gì đó để môn học trở lên gần gũi
với trẻ hơn, hấp dẫn trẻ hơn, và giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng
- Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, chỉ đạo giúp đỡ nâng cao
năng lực chuyên môn trong giảng dạy của giáo viên.
- Nhận được sự ủng hộ của các bậc phụ huynh của lớp đã kết hợp chặt chẽ với
cô giáo để cùng giáo dục dạy dỗ trẻ.
- Giáo viên có lòng nhiệt tình yêu nghề, mến trẻ, ham học hỏi kinh nghiệm
3.2- Khó khăn
Bên cạnh những điểm thuận lợi trên, khi thực hiện tổ chức các hoạt động
chăm sóc giáo dục và thực hiện chuyên đề làm quen với chữ viết còn gặp một
số khó khăn sau:
- Nhận thức của trẻ trong lớp là không đồng đều.
- Một số trẻ còn ngọng, chưa mạnh dạn.
- Đồ dùng đồ chơi còn chưa phong phú, chưa hấp dẫn và lôi cuốn trẻ.
- Có một số trẻ chưa có nề nếp, chưa có kiến thức về làm quen chữ viết.
- Một số phụ huynh còn coi nhẹ việc học của con mình.
3.3. Điều tra thực trạng:
Vào đầu năm học, tôi được nhà trường phân công phụ trách lớp 5-6 tuổi,
là một giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy lớp mẫu giáo nhiều năm, với
những kinh nghiệm tích lũy cho bản thân tôi đã khảo sát đầu năm với thực
trạng ban đầu tôi đã xác định được để có hướng điều chỉnh và kết quả như sau:
• Kết quả chất lượng của trẻ:
Năm học
Tốt
Khá
7
Đạt
trẻ một môi trường làm quen với chữ viết một cách nhanh, chính xác hiệu quả,
thoải mái, mà kết quả lại cao. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy trẻ mẫu giáo
5 -6 tuổi, tôi luôn suy nghĩ tìm tòi để có nhiều hình thức giúp trẻ làm quen với
chữ viêt một cách nhanh nhất. Vì thế tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp
vào trong việc tạo môi trường giúp trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi được thường xuyên
làm quen với chữ viết.
4. Các biện pháp thực hiện:
4.1. Biện pháp 1: Thiết kế đồ dùng, đồ chơi tự tạo:
Với bộ môn làm quen với chữ viết là bộ môn rất quan trọng vì nó sẽ trang bị
cho trẻ những kiến thức cần thiết để trẻ chuẩn bị bước vào lớp một được dễ
dàng hơn, tôi tìm tòi sáng tạo để thiết kế ra các đồ dùng đồ chơi từ nguyên liệu
sẵn có ở địa phương để tạo ra các đồ chơi phục vụ cho môn học cho trẻ và tạo
cơ hội để trẻ tham gia trực tiếp vào những việc làm đồ dùng đồ chơi cùng cô.
Muốn có được nhiều đồ chơi tạo phải nói đến nguồn nguyên liệu phong
phú để làm đồ dùng tự tạo. Vì vậy tôi đã tuyên truyền các bậc phụ huynh học
sinh trong lớp thu gom các nguyên liệu đã qua sử dụng để làm đồ dùng cho trẻ
như que kem, vải vụn, vỏ chai nhựa vi na, vỏ chai nước tranh muối, hộp bánh,
hộp kem, sỏi... nói tóm lại là những nguồn nguyên liệu sẵn có từ phía phụ
huynh mang đến cho tôi, với những nghuyên vật liệu như vậy tôi nghiên cứu,
suy nghĩ nguyên liệu này làm được đồ dùng gì, làm như thế nào? làm được đồ
8
dùng đồ chơi gì và đồ chơi đó làm ra để nhằm mục đích gì? Sau đó tôi lên kế
hoạch của từng chủ đề để làm đồ dùng cho phù hợp.
* Ví dụ:
+ Với chủ đề “thực vật ”: Tôi đã cát bìa cứng ra thành các nét chữ( nét sổ
thẳng, cong tròn) để thêm phần hấp dẫn và đảm bảo thẩm mỹ tôi đã cùng với
trẻ tô màu cho những nét chữ đó và để giúp trẻ biết được cấu tạo của chữ cái
thông qua trò chơi “ghép nét chữ” và so sánh điểm giống và khác nhau. Hoặc
trẻ trong việc ôn luyện, củng cố cũng như truyền đạt kiến thức mới về làm quen
chữ viết, hơn nữa với trẻ mẫu giáo, trẻ thường tri giác bằng hình ảnh là chủ
yếu, vì vậy việc trang trí lớp tạo môi trường cho trẻ học toán góp phần quan
trọng trong việc dạy trẻ làm quen với chữ viết. Vì thế tôi đã chú trọng đến việc
trang trí trên các mảng tường xung quanh lớp và sắp xếp các nhóm, góc phù
hợp với chủ đề chủ điểm
* Ví dụ: Góc học tập: Ngoài đồ dùng như sách, vở, bút, phấn... Tôi thường
xuyên trang trí, bổ xung đồ dùng, đồ chơi tự tạo, sưu tầm tranh ảnh, con vật, đồ
vật, làm bảng gài chữ cho trẻ ghép chữ cái, làm bộ sưu tập về chủ điểm để đưa
vào góc, để cuốn hút trẻ trẻ chơi không bị nhàm chán, tôi thường xuyên thay
đổi tranh ảnh theo chủ điểm, với tranh mảng tường ở góc học tập tôi viết dòng
chữ “Bé làm quen với chữ cái” trong tranh tôi dán các hình ảnh đồ vật, con
vật...dưới hình ảnh tôi viết các từ tương ứng. Ví dụ: Viết từ cái ô, con khỉ, con
voi,...và dưới hình ảnh tôi viết mười hai nhóm chữ, khi trẻ chơi góc chơi này
tôi định hướng cho trẻ đọc các từ dưới tranh cùng cô, phát âm chữ cái trong từ,
10
ghép chữ cái giống từ dưới tranh, nối chữ cái, xem sách và tranh ảnh, ghép thể
chữ cái rời...cô hát, hoặc dùng câu đố trẻ về đồ vật, con vật về rau củ quả cô
nói; trong bức tranh hôm nay có nhiều điều bí ẩn dành cho các con, con nghe
cô đố nhé!, cho trẻ đoán, tìm hình ảnh trong tranh: + Dưới tranh có từ và chữ
gì?
+ Cô nhờ hai bạn lên tìm chữ để ghép giống từ dưới tranh nào!
Với hình ảnh và đồ dùng , đồ chơi thường xuyên được củng cố, bổ sung như
vậy đã giúp trẻ có môi trường tốt cho việc làm quen chữ viết.
11
câu chuyện, bài thơ ví dụ câu chuyện, cây tre trăm đốt, quả bầu tiên, làn tiên ốc,
hai anh em...phía dưới tôi cắt dán chữ của tên câu chuyện, bảng gài chữ, thẻ
chữ rời cho trẻ gép chữ cái giống từ trong câu chuyện.
Ngoài các góc ra môi trường xung quanh trẻ như các biểu bảng bé đến
lớp, bé ở nhà, các ký hiệu ca cốc , khăn mặt, ống đựng kem đánh răng... đều
được tôi viết bằng ký hiệu chữ cái cho trẻ củng cố sự nhận biết các chữ cái.
13
Với hình thức tạo môi trường cho trẻ như trên, đã giúp trẻ được thường
xuyên ôn luyện củng cố các kiến thức về các chữ cái và giúp trẻ được thường
xuyên làm quen chữ cái qua các giờ sinh hoạt hàng ngày.
Để giúp cho việc làm quen vói các chữ cái của trẻ tốt hơn, tôi đã trao đổi
với phụ huynh cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình thông qua góc
tuyên truyền với những hình ảnh, với những bài sưu tầm sách báo, bài thơ, bài
hát nội dung chương trình làm bằng những nguyên liệu dễ tìm, có màu sắc hấp
dẫn phong phú, tôi dã nhận được sự ủng hộ của phụ huynh, trong việc ôn luyện,
củng cố cũng như truyền đạt kiến thức mới về môn học cho trẻ làm quen chữ
viết.
4.3. Biện pháp 3: Xây dựng một số trò chơi giúp trẻ củng cố sự nhận biết
chữ cái, cách phát âm và cấu tại nét chữ.
Có thể nói, với trẻ mẫu giáo mầm non được“ học mà chơi, chơi mà học”
trò chơi được sử dụng là phương tiện củng cố tri thức, rèn luyện kỹ năng, nó có
tác dụng kích thích cho trẻ phát huy tính tính cực, tính sáng tạo trong hoạt động
nhận thức nhờ các tình huống chơi hấp dẫn, có rất nhiều trò chơi để giúp trẻ
củng cố sự nhận biết chữ cái và cách phát âm, có thể chia các trò chơi này
thành các nhóm. Trò chơi động , trò chơi tĩnh, và các trò chơi dân gian, xếp hột
hạt theo hình dáng chữ cái, tìm và nối chữ cái, nhằm củng cố sự nhận biết chữ
cái và cách phát âm, vấn đề quan trọng ở đây là cô lựa chọn sáng tạo các trò
Với trò chơi này tôi chuẩn bị dây thừng buộc dây dính ở giữa được dán chữ
cái cho trẻ chơi kéo co, đội nào kéo được nhiều chữ cái đội đó thắng cuộc , khi
kiểm tra kết quả tôi cho trẻ phát âm.
*Ví dụ : Trò chơi: “cặp đôi hoàn hảo”: Để cho trẻ khắc sâu hơn về đặc
điểm cấu tạo nét của chữ cái tôi cắt mảnh bìa cứng để làm các nét chữ rời, tôi
quét màu chữ cho đẹp và hấp dẫn, cách chơi ví dụ củng cố luyện tập nhóm chữ
“u, ư”cô cho hai cặp đôi chơi mỗi trẻ cầm một nét chữ được cắt rời hát một bài
về chủ điểm khi có hiệu lệnh trẻ ghép nét chữ với nhau thành chữ cái.
5. Kết quả đạt được:
Việc áp dụng các biện pháp của đề tài :“ Một số kinh nghiệm tạo môi
trường chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi ” như tôi đã nêu trên cùng với sự
đầu tư giúp đỡ nhiệt tình của ban giám hiệu trường, tổ chuyên môn cùng với sự
ủng hộ chung tay góp sức của phụ huynh học sinh đã cho tôi hoàn thành đề tài.
Bằng những biện pháp hữu hiệu của đề tài có tính mới và sáng tạo trong việc
thiết kế các trò chơi, linh hoạt trong việc giảng dạy bằng hình thức các trò chơi,
câu chuyện, bài thơ để cho trẻ thực sự cuốn hút dài dạy đã mang lại kết quả trên
15
trẻ qua khảo sát thực tế ở lớp tôi đạt được rất đáng mừng. Trẻ rất thích thú,
thoải mái, vui vẻ tự nhiên trong các giờ học làm quen với chữ viết, biết cách
giở sách, biết cách đọc từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, biết cầm bút đúng
cách, tư thế ngồi ngay ngắn, đọc thơ, ca dao, đồng dao. Kể lại sự việc một cách
mạch lạc, rõ ràng, diễn cảm. Kể lại truyện đã được nghe một cách rõ ràng, diễn
cảm. Kể chuyện sáng tạo theo đồ vật, theo tranh, theo chủ đề, theo kinh nghiệm
bản thân kết quả được thể hiện qua bảng so sánh đối chứng sau:
5.1. Kết quả đồ dùng: Trong lớp có nhiều đồ dùng đồ chơi tự tạo do cô và
trẻ tự thiết kế trông đẹp mắt có tính thẩm mỹ cao và được xắp sếp khoa học
trưng bày ở các góc chơi để phục vụ cho các hoạt động .
5.2. Kết quả trên trẻ: Số lượng trẻ 30
cực trong việc phát triển và làm chuyển biến chất lượng học tập của trẻ.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng.
Được sự quan tâm của lãnh đạo trường về đầu tư cơ sở vật chất, có đầy
đủ trang thiết bị hiện đại đắt tiền cho lớp, cùng sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình
đóng góp ý kiến và giúp đỡ về mặt chuyên môn, cùng với sự chung tay góp sức
của phụ huynh học sinh với giáo viên nhiệt tình cần phải có sự nỗ lực biết tích
hợp lồng ghép phù hợp cho đề tài được thành công và nhân rộng cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi trong các trường mầm non.
7. Bài học kinh nghiệm.
Qua những biện pháp thực hiện đề tài “một số kinh nghiệm tạo môi trường
chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” mà tôi đã áp dụng thành công tại lớp mẫu
giáo 5-6 tuổi do tôi phụ trách và tôi đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm
như sau.
16
- Giáo viên phải được trang bị một hệ thống kiến thức khoa học, nắm vững
phương pháp dạy bộ môn làm quen chữ viết, phải năng động sáng tạo, yêu
nghề mến trẻ, nhiệt tình trong công việc.
- Nắm bắt đặc điểm tình hình thực tế của lớp, hiểu rõ được tâm sinh lý của trẻ,
từ đó có hình thức và biện pháp dạy phù hợp.
- Biết tận dụng nguyên vật liệu sẵn có, để làm đồ dùng đồ chơi phù hợp với bài
dạy hấp dẫn với trẻ. Huy động phụ huynh thu gom nguyên liệu sẵn có ở địa
phương để làm đồ dùng tự tạo và khai thác sự tích cực của trẻ trong việc giúp
cô làm đồ dùng tự tạo.
- Khi xây dựng bài dạy phải biết lấy trẻ làm chung tâm
- Có kế hoạch về thời gian để bồi dưỡng cho trẻ yếu.Chú ý đến hệ thống các
câu hỏi ,ngắn gọn dế hiểu, lời nói truyền cảm gây được sự hứng thú cho trẻ,
- Thường xuyên tự học bồi dưỡng năng lực tích lũy chuyên môn của bản thân
bằng nhiều hình thức.
trường tôi rất mong được sự giúp đỡ nhiệt tình ý kiến đóng góp nhiều hơn nữa
của ban giám hiệu trường, hội đồng khoa học để đề tài hoàn thiện và hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Chương trình giáo dục học mầm non
18
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến sáng kiến kinh nghiệm
- Sách giáo trình phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
- Sách hướng dẫn tổ chức các hoạt động làm quen với chữ viết, chương trình
khung dành cho độ tuổi...
MỤC LỤC
19
Những thông tin chung về sáng kiến………………………………..................1
Tóm tắt sáng kiến………………………………..........................................2- 4
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến……………………………………….............5
2. Cơ sở lý luận của vấn đề..............................................................................5-6
3. Thực trạng của vấn đề.................................................................................7- 8
4. Các biện pháp nâng thực hiện...................................................................8-14
5. Kết quả đạt được......................................................................................... 14
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng........................................................15
7 Bài học kinh nghiệm..................................................................................15-16
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận..........................................................................................................17