Phần 1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
“ Sử dụng di sản vào dạy phần giới thiệu bài hát dân ca môn Âm nhạc
lớp 8”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Âm nhạc
3. Tác giả:
Họ và tên: Đặng Việt Nga
Nam (nữ): Nữ.
Ngày tháng/năm sinh: 20/10/1981
Trình độ chuyên môn: Đại học SP Âm nhạc
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên
Trường THCS Cổ Thành-thị xã Chí Linh-Tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0976.712.881
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có) : Trường THCS Cổ Thànhthị xã Chí Linh-Tỉnh Hải Dương.
Điện thoại: 0320.3881.031
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: sách giáo khoa, máy
chiếu đa năng, băng đĩa hình, tài liệu tham khảo...
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 02/2014.
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN)
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Đặng Việt Nga
2
2.2 Thời gian: Sáng kiến được tôi thực nghiệm bắt đầu từ tháng 02 năm
2014, tiếp tục áp dụng từ tháng 09 năm 2014 và kết thúc tháng 12 năm 2014.
3
2.3 Đối tượng áp dụng: Sáng kiến được áp dụng lần đầu tiên đối với phân
môn Học hát lớp 8, cụ thể là phần giới thiệu bài khi dạy các bài hát Lí dĩa bánh
bò (Dân ca Nam Bộ) và bài hát Hò ba lí (Dân ca Quảng Nam).
3. Nội dung sáng kiến
Phân môn Học hát ở trường THCS thường thực hiện các bước đó là: Giới
thiệu bài Nghe mẫu Tìm hiểu bài Khởi động giọng Tập hát từng câu
Hát cả bài Củng cố, kiểm tra.
Trong các bước trên thì bước Tập hát từng câu là bước quan trọng nhất,
bên cạnh đó các phần còn lại cũng không kém phần quan trọng góp phần mang
lại thành công cho bài học đặc biệt là phần giới thiệu bài vì nếu giáo viên giới
thiệu bài tốt sẽ làm cho bài giảng được sâu sắc hơn, mang lại hiệu quả giáo dục
cao hơn, đặc biệt là gây hứng thú cho học sinh ngay từ khi bước vào tiết dạy
bài hát. Trong năm học vừa qua, tôi đã mạnh dạn sử dụng các di sản văn hóa
của dân tộc vào dạy phần giới thiệu bài hát dân ca. Qua các tiết dạy có sử dụng
di sản, tôi nhận thấy học sinh học tập hứng thú, tích cực, chủ động hơn; không
khí lớp học sôi nổi hơn, học sinh nắm bài chắc hơn; đặc biệt là các em nhận
biết và hiểu được các giá trị của di sản văn hóa.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Trong hơn một năm áp dụng sáng kiến, tôi đã thu được kết quả như mong
muốn. Ngoài việc hoàn thành mục tiêu của các tiết dạy học đảm bảo kiến thức
kỹ năng, thái độ và phát triển năng lực chuyên biệt cho học sinh thì bước đầu
tôi đã trang bị cho học sinh tình yêu nghệ thuật truyền thống, hiểu và trân trọng
những giá trị của di sản văn hóa dân tộc góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp
cho các em.
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến
văn hóa bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam.
Di sản văn hóa Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể có sức
sống mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hóa thông qua Luật di sản văn hóa năm 2001 (có
hiệu lực từ 01/01/2002), được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
1.3. Phân loại di sản:
Di sản văn hóa Việt Nam được chia thành hai loại: Di sản văn hóa vật thể
và di sản văn hóa phi vật thể.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật
và bảo vật quốc gia.
5
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc
cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình
diễn và các hình thức khác.
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc
Việt Nam; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian (bao gồm: Âm
nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác); Tập quán
xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong
tục khác; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống...
2. Ý nghĩa của di sản đối với hoạt động dạy học, giáo dục phổ thông
Di sản văn hóa, dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng
trong quá trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ
hoặc là nguồn cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học, giáo dục.
Dưới dạng công cụ, thiết bị dạy học, di sản văn hóa giúp cho quá trình học tập
các mặt khác nhau của hoạt động tư duy, nhờ việc tạo ra những điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển khác nhau của hoạt động tâm lí: tri giác, biểu tượng, trí
nhớ,….cho HS tiếp cận di sản đúng mục đích, đúng lúc với những phương
pháp dạy học phù hợp, với sự hướng dẫn chi tiết mang tính định hướng, kích
thích tư duy, GV sẽ giúp HS phát triển khả năng quan sát, khả năng xử lý thông
tin, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh, qua đó phát triển trí tuệ của các
em.
+ Giáo dục nhân cách HS
Di sản văn hóa là một trong những phương tiện dạy học đa dạng sống
động nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên nó có khả năng tác động
mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của HS. Khai thác
được những giá trị ẩn chứa trong các di sản, chuyển giao cho HS để các em
cũng nhận thức được những giá trí đó, GV giúp hình thành ở HS một hệ thống
các quan điểm, các khái niệm về nhận thức thế giới xung quanh, giúp các em
nhận thức được bản chất và có cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật,
hiện tượng liên quan đến di sản. Tiến hành nghiên cứu di sản một cách nghiêm
túc, kỹ lưỡng cũng chính là rèn cho các em tác phong làm việc nghiêm túc,
khoa học.
+ Góp phần phát triển một số kỹ năng sống ở HS:
7
Dạy học với di sản văn hóa tạo điều kiện phát triển một số kỹ năng sống
như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe tích cực; kĩ năng trình bày suy
nghĩ, ý tưởng, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tư duy phê phán...
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ SỬ DỤNG DI SẢN TRONG DẠY MÔN ÂM
NHẠC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Tính đến năm 2014, nước ta có 18 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
3-4 DSVH
1-2 DSVH
về DSVH
04
05
05
07
09
07
17
16
Từ kết quả khảo sát cho thấy HS không biết đến các DSVH thì không thể
hiểu và cảm nhận được cái hay cái đẹp của DSVH dân tộc. Từ thực tế trên, tôi
đã tiến hành áp dụng đề tài “Sử dụng di sản vào dạy phần giới thiệu bài hát
dân ca môn Âm nhạc lớp 8” với mục đích trang bị cho các em kiến thức về
DSVH, về cái hay và những giá trị tinh thần to lớn của di sản đối với dân tộc
Việt Nam nói riêng và đối với thế giới nói chung.
Di sản văn hóa có thể sử dụng vào các phân môn của môn Âm nhạc ở
trường THCS đó là: phân môn Học hát và Âm nhạc thường thức. Với đề tài
này, bước đầu tôi áp dụng vào phần giới thiệu bài trong phân môn Học hát.
8
+ Thực hành.
IV. HÌNH THỨC SỬ DỤNG DI SẢN VÀ CÁC DI SẢN ĐƯỢC SỬ DỤNG
TRONG DẠY MÔN ÂM NHẠC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1. Hình thức sử dụng di sản trong dạy học môn Âm nhạc
9
Việc sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông coi như là một
phương tiện để dạy học, có nhiều ưu điểm và hiệu quả. Có nhiều hình thức sử
dụng di sản trong dạy học khác nhau. Song đặc trưng nhất vẫn là hai hình thức,
đó là Sử dụng di sản dạy học trên lớp và Dạy học tại di sản.
1.1. Sử dụng di sản dạy học trên lớp:
Đây là hình thức dễ thực hiện và thuận lợi hơn cả, không tốn kém về chi
phí đi lại. Để thực hiện giờ dạy, giáo viên lại rất vất vả vì phải đầu tư về nhiều
về thời gian để tìm hiểu kỹ nội dung bài dạy; tìm hiểu sưu tầm và chọn lọc tư
liệu phù hợp để phục vụ cho bài dạy và phải phù hợp với điều kiện của nhà
trường và của địa phương. Tư liệu về di sản được sưu tầm dưới nhiều hình thức
khác nhau:
- Băng đĩa âm thanh;
- Băng, đĩa video;
- Tranh ảnh;
- Hiện vật cụ thể;
- Các bài báo, bài nói chuyện...
Kết hợp với các phương tiện như: máy vi tính, đầu video, máy chiếu, các
nhạc cụ, loa máy...
Giáo viên cũng nên yêu cầu, giao nhiệm vụ cho HS sưu tầm các tư liệu
cần thiết phục vụ cho bài học và chuẩn bị trước ở nhà.
Trong quá trình thực hiện sáng kiến tôi đã vận dụng hình thức Sử dụng di
sản dạy học trên lớp đã mang lại hiệu quả cao trong tiết dạy âm nhạc cũng như
Nhã nhạc Cung đình Huế là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt
Nam được thế giới công nhận. Trong phần nhận định về nhã nhạc, tổ chức
Unesco đánh giá Nhã nhạc Việt Nam mang ý nghĩa “âm nhạc tao nhã”.
11
Nhã nhạc đã đề cập đến âm nhạc cung đình Việt Nam được trình diễn tại
các lễ thường niên bao gồm các lễ kỉ niệm và những ngày lễ tôn giáo cũng như
các sự kiện đặc biệt như lễ đăng quang, lễ tang hay những dịp đón tiếp chính
thức.
Năm 2003, Nhã nhạc cung đình Huế đã được Unesco công nhận là “Di
sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
2.1.2. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải dài trên 5 tỉnh gồm: Gia
Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Chủ thể của không gian văn
hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau như Ê-đê, Bana, Mạ, Lặc...
Văn hóa cồng chiêng là loại hình nghệ thuật gắn với lịch sử văn hóa của
các dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn-Tây Nguyên. Mỗi dân tộc ở Tây
Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của
riêng dân tộc mình, nhất là vào dịp lễ hội, chào đón năm mới, mừng nhà mới...
Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hóa đặc trưng, đầy
sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên.
Năm 2005, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính thức
được Unesco công nhận là “Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân
loại”.
2.1.3. Dân ca Quan họ Bắc Ninh-Bắc Giang
Dân ca quan họ (còn gọi là dân ca quan họ Bắc Ninh, dân ca quan họ Bắc
Giang hay dân ca quan họ Kinh Bắc) là những làn điệu dân ca của vùng Đồng
12
hát đã được chuẩn bị từ trước hoặc tùy theo khả năng ứng biến của hai bên hát.
Ngày 30 tháng 09 năm 2009, tại kỳ họp thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ
Công ước Unesco Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Quan họ đã được công
nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
2.1.4.Ca trù
Hát ca trù (hay hát “ả đào”, hát “cô đầu”) là bộ môn nghệ thuật truyền
thống của miền Bắc Việt Nam, rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt văn hóa ở
khu vực này từ thế kỷ XV. Ca trù sử dụng ba nhạc khí đặc biệt (không chỉ về
cấu tạo mà còn về cách thức diễn tấu) là đàn đáy, phách và trồng chầu. Về mặt
văn học, ca trù làm nảy sinh một thể loại văn học độc đáo là hát nói.
Hội đồng chuyên môn của Unesco đánh giá về ca trù: Ca trù đã trải qua
một quá trình phát triển ít nhất từ thế kỷ thứ XV cho đến nay, được biểu diễn
trong không gian văn hóa đa dạng gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử khác
14
nhau. Ca trù thể hiện một ý thức về bản sắc và sự kế tục trong nghệ thuật biểu
diễn, có tính sáng tạo, được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác thông
qua các tổ chức giáo phường. Mặc dù trải qua nhiều biến động lịch sử, xã hội
nhưng ca trù vẫn có một sức sống riêng bởi giá trị của nghệ thuật đối với văn
hóa Việt Nam.
Ngày 1/10/2009, ca trù của Việt Nam được Unesco ghi danh vào Danh
sách “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
2.1.5.Hát xoan
Hát xoan là loại hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần, thành hoàng
với hình thức nghệ thuật đa yếu tố: có nhạc, hát, múa; thường được biểu diễn
vào dịp đầu xuân, phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương-Phú Thọ, một tỉnh thuộc
vùng trung du Việt Nam.
nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian. Đờn ca tài tử là loại
hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ. Đây là một loại hình
nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông
thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động.
Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban
nhạc gồm 4 loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau
này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm.
Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau.
Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về
trang phục.
16
Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam được Unesco công nhận
theo các tiêu chí: Đây là loại hình nghệ thuật do cộng đồng 21 tỉnh thành miền
Nam Việt Nam cùng nhau tạo ra. Đờn ca tài tử là một phần bản sắc của người
dân phía Nam và được trao truyền từ đời này qua đời khác, được đảm bảo tính
tiếp nối liên tục.
2.2. Di sản văn hóa vật thể
Có 05 Di sản văn hóa vật thể của Việt Nam được Unesco công nhận đó
là Quần thể di tích Cố đô Huế (năm 1993), Phố Cổ Hội An (năm 1999), Thánh
địa Mỹ Sơn, (năm 1999), Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long (năm
2010) và Thành nhà Hồ (năm 2011). Trong đó Thánh địa Mỹ Sơn có thể sử
dụng vào giảng dạy môn Âm nhạc ở THCS.
2.2.1. Thánh địa Mỹ Sơn
Thánh địa Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng
Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 69 km và cách thành cổ Trà
Kiệu khoảng 20 km, là tổ hợp bao gồm nhiều đền đài Chăm Pa, trong một
thung lũng đường kính khoảng 2 km, bao quanh bởi đồi núi. Đây từng là nơi tổ
chức cúng tế của vương triều Chăm pa cũng như là lăng mộ của các vị vua
về chất liệu gắn kết, phương thức nung gạch và xây dựng. Thông thường người
ta hay so sánh Thánh địa này với các tổ hợp đền đài chính khác ở Đông Nam Á
như Borobudur (Java,Indonesia), Pagan (Myanma), Angkor Wat (Campuchia)
và Ayutthaya (Thái Lan).
Từ năm 1999, Thánh địa Mỹ Sơn đã đượcUNESCO chọn là một trong
các di sản thế giới tân thời và hiện đại tại phiên họp thứ 23 của Ủy ban di sản
thế giới theo tiêu chuẩn C (II) như là một ví dụ điển hình về trao đổi văn hoá và
theo tiêu chuẩn C (III) như là bằng chứng duy nhất của nền văn minh châu Á
đã biến mất.
3. Những lưu ý khi sử dụng di sản trong dạy học Âm nhạc ở THCS
- Di sản là phương tiện để hỗ trợ các nội dung trong chương trình Âm
nhạc hiện hành, chứ không phải dạy về di sản. Như vậy nội dung chương trình,
chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn Âm nhạc không thay đổi, chỉ thay đổi về
phương tiện dạy học...
- Việt Nam có nhiều di sản, nhưng trong dạy học Âm nhạc ở THCS, chủ
yếu là dùng 5 di sản gắn liền với sinh hoạt văn hóa và âm nhạc, đó là: Nhã nhạc
cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ
Bắc Ninh- Bắc Giang, Ca trù và Hát xoan. Ngoài ra, các loại di sản khác cũng
có thể được khai thác và sử dụng sao cho linh hoạt và hiệu quả.
- Các loại tư liệu về di sản:
Tư liệu về
di sản
Hình ảnh về
di sản
Mô tả
- Hình ảnh về kinh đô Huế, dàn nhã nhạc cung đình Huế,
các loại nhạc cụ dùng trong dàn nhã nhạc, ...
- Hình ảnh về không gian văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên: lễ hội, cồng chiêng, nhà rông, ...
- Bài viết, câu chuyện hoặc truyền thuyết về hát xoan.
- Bài viết, thông tin về đờn ca tài tử...
- Thông tin về Thánh địa Mỹ Sơn
- Các nhạc cụ trong dàn nhã nhạc cung đình Huế.
Hiện vật về
di sản
- Cồng chiêng Tây Nguyên.
- Bản nhạc quan họ, trang phục quan họ.
- Các nhạc cụ trong hát ca trù: đàn đáy, phách, trống chầu.
- Lời ca của bài hát xoan, trang phục biểu diễn...
4. Sử dụng di sản dạy phần giới thiệu bài hát dân ca môn Âm nhạc
lớp 8.
4.1. Quy trình dạy một bài hát: Gồm các bước sau
Bước 1: Giới thiệu bài hát
20
Bước 2: Nghe mẫu
Bước 3: Tìm hiểu bài
Bước 4: Khởi động going
Bước 5: Tập hát từng câu
Bước 6: Hát cả bài
Bước 7: Củng cố, kiểm tra.
4.2. Mục đích của giới thiệu bài
- Giới thiệu bài để học sinh biết tên bài hát, xuất xứ hoặc nội dung bài
hát. Lời giới thiệu hay sẽ gợi nên không khí tích cực và hứng thú học hát của
học sinh.
? Đờn ca tài tử Nam Bộ được nhận danh hiệu rất cao quy đó là danh
hiệu gì?
- Di sản văn hóa đại diện của nhân loại
- GV chiếu tranh các tỉnh có Đờn ca tài tử
? Em hãy kể tên các tỉnh có nghệ thuật Đờn ca tài tử?
- HS kể tên
? Em có nhận xét gì về phạm vi của nghệ thuật Đờn ca tài tử?
- Phổ biến rộng rãi ở các tỉnh Nam Bộ, là đặc sản của vùng đất Nam Bộ.
- GV cho HS nghe bản nhạc Đờn ca tài tử Nam Bộ
? Em có cảm nhận gì về Đờn ca tài tử Nam Bộ?
=> HS trả lời, GV gợi y câu trả lời của HS.
? Ngoài Đờn ca tài tử Nam Bộ, em hãy kể tên các loại hình sinh hoạt âm
nhạc được Unesco công nhận là Di sản văn hóa đại diện của nhân loại ử Việt
Nam?
- GV chiếu hình ảnh và cho HS xem video về các di sản văn hóa thế giới
ở Việt Nam.
? Em có nhận xét gì về di sản văn hóa thế giới của Việt Nam?
? Là học sinh em sẽ làm gì để bảo tồn phát huy những giá trị của di sản
văn hóa của dân tộc?
=> HS tự liên hệ.
4.3.2. Tiết 12: Học hát: Bài Hò ba lí (Dân ca Quảng Nam)
Với tiết 12, tôi sử dụng di sản văn hóa vật thể Thánh địa Mỹ Sơn để giới
thiệu bài hát Hò ba lí, cụ thể như sau:
- GV chiếu tranh ảnh về Thánh địa Mỹ Sơn.
GV hỏi: ? Bức ảnh trên giới thiệu với các em địa danh nào của nước ta?
? Em có thể giới thiệu vài nét về khu Thánh địa Mỹ Sơn?
22
=> HS giới thiệu, GV bổ sung và cung cấp thêm thông tin.
- Đàn phím điện tử, máy tính, máy chiếu
23
- Sưu tầm tài liệu, video, đĩa nhạc, tranh ảnh về di sản văn hóa thế giới
tại Việt Nam.
2. Chuẩn bị của HS
- Tìm hiểu trước bài mới ở nhà
- Tìm hiểu về các di sản văn hóa thế giới tại Việt Nam.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Tổ chức: Kiểm tra sĩ số
- Ngày:..............Lớp: 8B:............Sĩ số:......... Vắng:....................................
2. Kiểm tra bài cũ:
- Cả lớp hát tập thể một bài để khởi động
3. Bài mới:
Hoạt động của GV và HS
GV ghi bảng
Nội dung
I/ HỌC HÁT
Bài: LÍ DĨA BÁNH BÒ
HS ghi bài
Dân ca Nam Bộ
1. Giới thiệu bài:
GV thuyết trình:
? Hình ảnh trên nhắc đến loại hình âm
nhạc nào của dân tộc ta?
được Unesco công nhận là Di sản văn
hóa đại diện của nhân loại ử Việt Nam?
- GV chiếu hình ảnh và cho HS xem
video về các di sản văn hóa thế giới ở
Việt Nam.
Dân ca Quan họ Bắc Ninh
Hát xoan Phú Thọ
Nhã nhạc cung đình Huế
25
? Em có nhận xét gì về di sản văn hóa thế
giới của Việt Nam?
? Là học sinh em sẽ làm gì để bảo tồn
Ca trù
phát huy những giá trị của di sản văn
hóa của dân tộc?
=> HS tự liên hệ.
GV mở đĩa nhạc
GV chiếu tranh bài hát.
Cồng chiêng Tây Nguyên
? Em hãy nhận xét về bài hát?
nối 2 câu với nhau.
- Hát nối 2 câu theo nhóm: 1-2 nhóm
6. Hát đầy đủ cả bài
26