LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc. Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề
tài này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương
nơi thực hiện để tài.
Sinh viên
Bùi Thị Ngoan
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận
được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn – Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội đã hết lòng giúp
đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại
trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS. Đinh
Văn Đãn giảng viên bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách - Khoa Kinh tế
và Phát triển nông thôn - Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị làm việc tại
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá
đã tạo điều kiện rất tốt giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tìm hiểu địa phương.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tới gia đình cùng bạn bè – những người luôn
phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp. Huyện đưa ra nhiều giải pháp nhằm
phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp. Trong đó, có phát triển nghề SXĐG là
một trong những giải pháp của huyện. Nghề SXĐG trong huyện khá phát triển và
có xu hướng phát triển hơn nữa trong thời gian tới. Với diện tích đất dành cho
SXĐG trong năm 2009 là 73,5 ha chiếm 6,01% tổng diện tích đất sản xuất kinh
doanh phi nông nghiệp huyện và với 1429 lao động trong huyện tham gia SXĐG
chiếm 6,35% tổng lao động của huyện.
Nhìn chung thực trạng đầu tư vào SXĐG của các cơ sở trong huyện còn
nhiều hạn chế. Các cơ sở SXĐG trong huyện có quy mô sản xuất nhỏ chủ yếu là
quy mô hộ gia đình, có một số cơ sở thành lập nên các công ty TNHH nhưng quy
mô sản xuất cũng không lớn. Số lao động trung bình của một hộ SXĐG trong
huyện là 6 lao động, còn của công ty là 15 trong năm 2009. Vì vậy, vốn đầu tư ít
iii
với tổng số vốn trong năm 2009 của hộ sản xuất là 248,78 triệu đồng của công ty là
554,27 triệu đồng, tuy nhiên con số này của các công ty cung có xu hướng tăng
nhưng tăng chậm, bình quân hàng năm tăng lên 3,24%. Máy móc trang thiết bị của
các CSSX trong huyện nhìn chung đã cũ và lạc hậu, hằng năm các CSSX chỉ sửa
chữa tu bổ mà ít mua mới, nhiều CSSX còn thiếu máy móc nhiều nhất là các hộ
thiếu máy xẻ gỗ. Lao động trong các CSSX có trình độ chưa cao cả về trình độ văn
hoá và trình độ tay nghề: đối với hộ sản xuất không có lao động trình độ đại học,
công nhân kỹ thuật là 1 người, đối với của công ty những con số đó là 3 người và
không thay đổi trong 3 năm đề tài nghiên cứu. Về nguyên vật liệu của các CSSX
còn phụ thuộc nhiều yếu tố và có khả năng thiếu nguyên liệu gỗ trong tương lai.
Thị trường tiêu thụ nhỏ, không tập trung chủ yếu tiêu thụ trong huyện với tỷ lệ tiêu
thụ trong huyện của năm 2009 của hộ sản xuất là 90,15%, của công ty sản xuất là
75,18%. Về phần giá cả sản phẩm của các CSSX ở đây nhìn chung thấp hơn so với
giá của các sản phẩm nơi khác cùng loại.
phía Nhà nước như: chưa có định hướng cụ thể cho việc phát triển công nghiệp và
tiểu thủ công nghiệp, chính sách và các biện pháp để tháo gỡ khó khăn cho các
daonh nghiệp ngoài quốc doanh còn ít, công tác quản lý của các cấp chính quyền
nhất là ở các xã còn buông lỏng…
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả đầu tư SXĐG của các CSSX trong huyện đã có
thêm các giải pháp tác động một cách tích cực và triệt để hơn. Các giải pháp này
được đưa ra dựa trên thực trạng đầu tư SXĐG của các CSSX trong huyện, các giải
pháp đầu tư đã thực hiện, từ việc đánh giá điểm mạnh điểm yếu cơ hội và thách
thức của các CSSX và dựa vào các mục tiêu về vốn đầu tư, trang thiết bị, nguyên
vật liệu, lao động và thị trường tiêu thụ của các CSSX trong huyện trong những
năm tiếp theo. Các biện pháp này tác động chủ yếu vào các yếu tố quan trọng và có
ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đầu tư SXĐG như vốn, trang thiết bị, lao động,
nguyên liệu, thị trường tiêu thụ… nhằm thu được hiệu quả đầu tư SXĐG cao nhất
của các CSSX trong huyện trong những năm sau.
v
MỤC LỤC
vi
DANH MỤC BẢNG/BIỂU
vii
DANH MỤC HÌNH VẼ/SƠ ĐỒ/BIỂU ĐỒ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đang có những bước phát
triển rất mạnh mẽ. Công cuộc đổi mới về nền kinh tế được đánh dấu bằng nghị
quyết Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI, tháng 12/1986. Nghị quyết
khuyến khích phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã tạo động lực mạnh mẽ
thúc đẩy, giải phóng năng lực sản xuất của con người và tạo điều thuận lợi đưa nền
kinh tế nước ta dần đi vào thế ổn định và ngày càng kiện phát triển.
Đi theo xu hướng đó hiện nay, SXĐG là một trong những ngành nghề đang
được nước ta quan tâm sản xuất, ĐG ngày càng được ưa chuộng. SXĐG của nước
ta không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu. Hiện nay, ĐG của
nước ta là một trong những mặt hàng đạt tổng kim ngạch xuất khẩu cao và đứng
thứ 5 sau dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản. Hiện thị phần ĐG xuất khẩu của
Việt Nam trên thị trường thế giới đang có xu hướng ngày càng tăng cao. Sản phẩm
ĐG xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thỗ trên thế
giới, tập trung ở 3 thị trường trọng điểm là Mỹ, EU và Nhật Bản. Ngoài các thị
trường truyền thống trên các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang đẩy mạnh xuất
khẩu các mặt hàng nội thất như: bàn, ghế, giường và tủ sang các thị trường Canada,
Nga và một số nước Đông Âu, Trung Đông.
Thanh Hoá là một trong những tỉnh đang phát triển với nền kinh tế theo
hướng CNH - HĐH một cách mạnh mẽ. Vì vậy, cùng với nông nghiệp phi nông
nghiệp của Tỉnh đang rất được chú trọng phát triển. Thanh Hoá lại là tỉnh có diện
tích rừng tương đối lớn, vì vậy thích hợp cho các ngành sản xuất và chế biến gỗ
phát triển.
Hoằng Hoá hiện đang được đánh giá là một trong những huyện đi đầu của
Thanh Hoá về phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH - HĐH. Vì vậy, Huyện
Hoằng Hoá là huyện có tình hình kinh tế - xã hội phát triển vào loại bậc nhất của
tỉnh Thanh Hoá. Tình hình kinh tế - xã hội của huyện đi theo xu thế chung của tỉnh,
đồng thời với việc phát triển nông nghiệp huyện còn chú trọng phát triển phi nông
1
1.2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung đánh giá thực trạng và giải pháp đầu tư SXĐG đã thực hiện,
mà chủ thể là các cơ sở SXĐG tại huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Từ đó đánh
giá hiệu quả đầu tư SXĐG của các cơ sở này.
1.2.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a) Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu thực trạng SXĐG và các giải pháp đầu tư đã thực hiện
của các CSSX từ đó đánh giá hiệu quả đầu tư SXĐG của các cơ sở này, tìm hiểu
các nguyên nhân, đồng thời đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
của các cơ sở SXĐG ở huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư SXĐG.
b) Không gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở các cơ sở SXĐG gồm: cả quy mô hộ sản
xuất và quy mô công ty TNHH sản xuất trên địa bàn huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh
Hoá.
c) Thời gian nghiên cứu
• Thời gian nghiên cứu đề tài: Đề tài nghiên cứu nghiên cứu trong
khoảng thời gian:
Từ năm 2007 đến năm 2009 đối với các công ty TNHH SXĐG;
Năm 2009 đối với các hộ SXĐG.
• Thời gian thực hiện đề tài: Đề tài được thực hiện trong thời gian từ
ngày 12/01/2010 đến ngày 26/5/2010.
3
PHẦN II
trong mối quan hệ so sánh giữa các kết quả do hoạt động đầu tư tạo ra với chi phí
bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Có nhiều cách để phân loại hiệu quả đầu tư như: phân thành hiệu quả về mặt
định tính và hiệu quả về mặt định lượng hoặc phân thành hiệu quả đầu tư về mặt tài
chính và hiệu quả đầu tư kinh tế - xã hội.
Trong thực tế thì còn nhiều khái niệm hiệu quả đầu tư như hiệu quả đầu tư
lớn nhất, hiệu quả đầu tư nhỏ nhất... (Nguồn: Người dịch Vũ Cương)
c) Khái niệm về sản xuất
Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, có 2 hình thức kinh tế rõ rệt
là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá. Kinh tế tự nhiên là hình thức sản xuất mà
sản phẩm lao động chỉ dùng để thoả mãn nhu cầu của người sản xuất trong nội bộ
đơn vị kinh tế. Đó là kiểu sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất hàng hoá là sản xuất ra
các sản phẩm để bán. Đó chính là hình thức tổ chức sản xuất xã hội trong đó mối
quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất biểu hiện qua thị trường, qua việc mua
bán sản phẩm lao động của nhau.
Sản xuất hàng hoá ra đời dựa trên hai điều kiện:
Một là, có sự phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự
chuyên môn hoá sản xuất, mỗi người chỉ sản xuất một hay một số loại sản phẩm
nhất định nhưng nhu cầu cuộc sống đòi hỏi phải có nhiều loại. Vì vậy, người sản
xuất này dựa vào người sản xuất khác, phải trao đổi sản phẩm cho nhau. Như vậy
phân công lao động xã hội biểu hiện sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho
năng suất lao động tăng lên và làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu.
Hai là, có chế độ tư hữu hoặc các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản
xuất và sản phẩm. Điều này làm cho người sản xuất hàng hoá độc lập với nhau và
có quyền chi phối sản phẩm độc lập của mình trao đổi với sản phẩm của người
khác. Như vậy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc
lẫn nhau, còn chế độ tư hữu lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau. Đây là một
mâu thuẫn, mâu thuẫn này chỉ được thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của
nhau, vì vậy sản xuất ra đời bắt nguồn từ yêu cầu của cuộc sống, (Nguồn: Vũ Thị
có giá trị cao đòi hỏi phải đạt yêu cầu cả về hình thức và chất lượng. Vì vậy, đòi
hỏi những nhà đầu tư SXĐG cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, cần phải có những chiến
lược cho SXĐG một cách phù hợp nhất.
Đầu tư SXĐG rất đa dạng về hình thức do sản phẩm ĐG có nhiều chủng
loại, mẫu mã đa dạng, từ những sản phẩm nhỏ phục vụ cho trang trí đến những sản
6
phẩm có cấu trúc to lớn, cồng kềnh và nặng nên việc vận chuyển cũng tốn rất nhiều
tiền công.
Hoạt động đầu tư SXĐG cũng như các hoạt động đầu tư khác đều hướng
đến mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư SXĐG là hoạt
động mang lại lợi ích kinh tế tương đối cao cho các doanh nghiệp và các đơn vị sản
xuất khác. ĐG là loại mặt hàng có giá trị sử dụng cao, sản xuất với chi phí thấp
nhưng có giá bán cao vì vậy lợi nhuận thu được lớn. Đồng thời SXĐG ít có các tác
động xấu về mặt môi trường nên dễ được mọi người chấp nhận.
Về mặt giá trị sử dụng, sản phẩm ĐG có giá trị sử dụng lâu dài phục vụ cho
cuộc sống sinh hoạt của con người. Vì vậy, hoạt động đầu tư SXĐG cũng mang
tính lâu dài, bền vững do xu hướng dùng ĐG là nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống
của con người.
2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả đầu tư sản xuất đồ gỗ
Từ những đặc điểm của đầu tư SXĐG nêu trên ta thấy được tính đặc thù của
đầu tư SXĐG so với loại đầu tư sản xuất các loại mặt hàng khác. Vì vậy, có rất
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả đầu tư SXĐG như sau:
* Các yếu tố chủ quan:
- Nguyên liệu:
Trong bất kỳ một cơ sở SXĐG nào số lượng nguyên liệu dự trữ trong kho bãi
hay đang trên đường về nhà đóng một vai trò quan trọng quyết định trong chiến
lược đầu tư sản xuất kinh doanh, quy mô sản xuất của doanh nghiệp. Chủng loại
- Yếu tố trang thiết bị và khoa học kỹ thuật – công nghệ:
Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đối với một cơ
sở SXĐG hay một sản phẩm đặc trưng nào đó.
Nó ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và giá
thành sản phẩm tạo ra, từ đó nó tạo ra năng lực cạnh tranh các sản phẩm hàng hoá
cùng loại trên thị trường. Vì vậy, muốn có hiệu quả sản xuất hay nâng cao hiệu quả
đầu tư sản xuất cần phải có trang thiết bị tốt, khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày
càng cao để đáp ứng nhu cầu thị trường.
* Các yếu tố khách quan:
- Khách hàng:
Trong điều kiện hiện nay khi không còn áp dụng phương thức phân phối
hàng hoá thì yếu tố con người có tác dụng rất quan trọng đến công tác bán hàng của
doanh nghiệp. Ngay từ khi xác định cơ cấu sản xuất kinh doanh, xác định mức đầu
8
tư vào sản xuất, người chủ doanh nghiệp đã phải xác định thị trường tiêu thụ cho
sản phẩm, đối tượng phục vụ của doanh nghiệp. Khi thu nhập của mọi người được
nâng cao thì khách hàng quan tâm nhất là chất lượng sản phẩm chứ không phải là
giá bán của sản phẩm đó. Ngược lại ở những vùng kinh tế chưa phát triển, mức thu
nhập của mọi người thấp, người mua lại tính đến số lượng hàng hoá và giá trị của
nó. Như vậy sức mua của khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến kết quả
bán hàng của doanh nghiệp. Do đó người sản xuất cần phải nghiên cứu, tìm hiểu
các thói quen, thị hiếu tiêu dùng của khách hàng để đáp ứng nhu cầu của họ, trên cơ
sở đó mở rộng thị trường tăng khối lượng bán cho doanh nghiệp. Muốn nâng cao
hiệu quả sản xuất hay hiệu quả đầu tư sản xuất cần có các chiến lược chăm sóc
khách hàng phù hợp với từng vùng, từng địa phương để thu hút được nhiều khách
hàng nhất nhằm bán được số lượng hàng nhiều nhất.
- Cạnh tranh:
sản xuất đặc biệt là các nhóm nước công nghiệp phát triển.
Vì vậy sản lượng gỗ sản xuất ra qua các năm không ngừng tăng trên thế
giới. Năm 2008, trị giá của lượng ĐG thế giới đạt khoảng 267 tỷ USD tăng 6,8% so
với năm 2007 (259 tỷ USD), trong đó nhóm các nước công nghiệp phát triển (Mỹ,
Ý, Đức, Nhật Bản, Canada, Anh và Pháp) chiếm 55% tổng giá trị ĐG của toàn thế
giới, và nhóm các nước đang phát triển chiếm 45%, riêng Trung Quốc đã chiếm
14% giá trị này.
Đặc biệt trong những năm gần đây sản lượng ĐG của một số nước tăng
nhanh. Tổng lượng bán lẻ mặt hàng ĐG của Trung Quốc trong ba quý đầu năm
2008 đạt 7.788,6 tỷ NDT, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Lượng bán lẻ của
các sản phẩm nội thất tại khu vực thành thị đạt 5.316,5 triệu NDT, tăng 23,2% so
với cùng kỳ tháng 9/2007. Lượng bán hàng ĐG tại Trung Quốc tăng 28% trong
tháng 9/2008 so với tháng 9/2007. Tuy nhiên Mỹ SXĐG lại có xu hướng giảm
trong những năm gần đây. Thánh 7/2008, đơn đặt hàng đối với các mặt hàng ĐG
trên thị trường Mỹ giảm 17% so với cùng kỳ tháng 7/2007, lượng hàng ĐG nội thất
nhà cửa được giao cũng giảm 10%. Trong 7 tháng năm 2008, đơn đặt hàng ĐG
giảm 10% so với năm ngoái, lượng hàng được giao giảm 8%. Xu hướng này được
dự báo sẽ còn tiếp tục trong những tháng cuối năm 2008.
Những nước SXĐG lớn nhất thế giới bao gồm Mỹ (trị giá 57,4 tỷ USD),
Trung Quốc (37,9 tỷ USD), Đức (18,9 tỷ USD), Nhật Bản (12,4 tỷ USD), Canada
(11,7 tỷ USD), Anh (10,1 tỷ USD) và Pháp (9,2 tỷ USD).
10
Trao đổi thương mại ĐG diễn ra chủ yếu ở 160 quốc gia trên thế giới, trong
đó những nước nhập khẩu ĐG chủ yếu trên thế giới là Mỹ (23,8 tỷ USD), Đức (8,3
tỷ USD), Anh (6,7 tỷ USD), Pháp (5,9 tỷ USD) và Nhật Bản (3,7 tỷ USD). Tổng
kim ngạch nhập khẩu ĐG trên thế giới là 83,9 tỷ USD. Mỹ là nước SXĐG lớn nhất
thế giới tuy nhiên lại là nước nhập khẩu ĐG lớn nhất do dân số đông và nhu cầu
thuận lợi cho ngành nghề SXĐG phát triển. SXĐG nước ta không chỉ phục vụ cho
thị trường nội địa mà đã tham gia vào xuất khẩu sang các nước khác. Kể từ khi
bước sang thế kỷ 21, ngành SXĐG của Việt Nam tiến lên một bước khá dài. với
mức xuất khẩu tăng gấp bội, các sản phẩm ĐG Việt Nam đã tăng từ 219 triệu USD
năm 2000 đến 2 tỷ USD trong năm 2008 và theo dữ liệu thì ĐG Việt Nam vẫn giữ
được mức tăng trưởng cao trong những năm tới. Đến nay cả nước có khoảng 2.000
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu ĐG, tạo
việc làm cho hơn 170.000 lao động, trong đó có nhiều doanh nghiệp sản xuất quy
mô lớn với kim ngạch xuất khẩu hàng chục triệu USD/năm.
Thị trường xuất khẩu ĐG của Việt Nam không ngừng được mở rộng. Hiện
nay sản phẩm ĐG của Việt Nam được xuất khẩu sang 120 quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới, trong đó thị trường chính là Mỹ, EU, Nhật Bản... Riêng thị trường
Mỹ, ĐG của Việt Nam đã chiếm được 6,9% thị phần và Việt Nam hiện là nước
xuất khẩu ĐG nội thất gia dụng lớn thứ 3 vào thị trường này (chỉ đứng sau Trung
Quốc và Canada). Việt Nam đã vượt qua Philippin, Indonexia và Thái Lan vươn
lên vị trí thứ 2 trong khối các nước Đông Nam Á sau Malaixia, trong cuộc đua
chiếm lĩnh thị phần xuất khẩu ĐG nội thất. Hiện nay, thị phần ĐG xuất khẩu của
Việt Nam trên thị trường ĐG thế giới đạt khoảng 0,78%, hơn Philippin 0,24%,
Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp ĐG hàng đầu thế giới với 11,9% thị phần. Đặc
biệt ĐG hiện nay là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt
may, giày dép và thuỷ sản. Đây là một trong những thành quả đáng mừng của
ngành nghề SXĐG của nước ta và trong tương lai còn có xu thế vươn cao hơn nữa.
Hoa Kỳ là một trong những thị trường đầy hứa hẹn với các mặt hàng ĐG
của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu ĐG của Việt Nam sang Hoa Kỳ ngày càng
tăng. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu ĐG của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt khoảng
690 triệu USD, tăng khoảng 80% so với năm 2006. 8 tháng đầu năm 2008, nước ta
xuất vào thị trường Hoa Kỳ 466,6 triệu USD, tăng 31,2% so với cùng kỳ năm 2007.
Trong đó, đồ nội thất dùng trong phòng ngủ đạt 218,7 triệu USD, tăng 49,1%. Về
12
nguyên liệu khác. Tuy nhiên, thế mạnh là lao động rẻ và khéo tay. Một trong những
điểm yếu chung của các doanh nghiệp thuần Việt Nam là quy mô sản xuất nhỏ, khó
13
có khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn hoặc trở thành nhà sản xuất chiến lược cả
các đối tác lớn như Hoa Kỳ… Do vậy, để có thế cạnh tranh và tăng kim ngạch xuất
khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam cần có đầu tư hoặc liên kết để tăng khả năng đáp
ứng các đơn hàng lớn và chuyển hướng sản xuất nhiều hơn hàng dùng trong nhà,
kết hợp các chất liệu khác nhau, phức tạp, sử dụng nhiều lao động khéo tay. Vì vậy,
nhìn chung hiệu quả đầu tư SXĐG của Việt Nam còn thấp.
2.2.3 Tình hình sản xuất đồ gỗ và hiệu quả đầu tư sản xuất đồ gỗ ở tỉnh Thanh
Hoá
Theo tinh thần của Đại hội VII (1991) của Đảng là Nhà nước nhất quán thực
hiện chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử,
không tước đoạt tài sản hợp pháp, không áp đặt hình thức kinh doanh, khuyến
khích các hoạt động có ích cho quốc tế dân sinh. Vì vậy, theo xu hướng phát triển
chung của cả nước, Thanh Hoá phát triển kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích
phát triển các làng nghề phi nông nghiệp nhằm giải quyết việc làm và nâng cao thu
nhập cho các hộ nông dân. Đồng thời, Thanh Hoá là một trong những tỉnh có diện
tích rừng lớn, nên rất thuận lợi cho ngành gỗ phát triển trong đó có sản xuất và chế
biến ĐG. Vì vậy, Thanh Hoá có rất nhiều cơ sở tham gia vào SXĐG trong đó có cả
các doanh nghiệp, các hợp tác xã và thậm chí có cả các hộ SXĐG nhằm nâng cao
thu nhập, cải thiện đời sống.
Tuy nhiên, SXĐG của Thanh Hoá còn mang tính nhỏ lẻ, các doanh nghiệp
sản xuất chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc các xưởng sản xuất và chế
biến ĐG quy mô hộ. Đặc biệt SXĐG của Tỉnh chỉ mới dừng lại ở thị trường trong
và ngoài tỉnh ở trong nước, sản lượng ĐG xuất khẩu của tỉnh còn thấp. Các doanh
nghiệp SXĐG trong tỉnh chỉ tham gia xuất khẩu một số mặt hàng bán thành phẩm
Thứ hai, Công trình nghiên cứu Nguyễn Đỗ Hải Lâm (2008), Tình hình tiêu
thụ sản phẩm ĐG mỹ nghệ tại Công ty TNHH thương mại và xây dựng Cường Việt
Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Luận văn Tốt nghiệp Đại học, Đại học Nông Nghiệp
Hà Nội, Hà Nội. Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề sản
phẩm và tiêu thụ sản phẩm ĐG. Đồng thời đề tài còn nghiên cứu tình hình về vấn
đề tiêu thụ sản phẩm ĐG mỹ nghệ của Công ty TNHH thương mại và xây dựng
Cường Việt là đang tiến triển tốt. Tuy nhiên trong những năm tới sẽ gặp rất nhiều
khó khăn do gặp phải sự cạnh tranh từ các đối thủ là các làng nghề truyền thống.
Đề tài còn nghiên cứu thấy đặc điểm, ưu nhược điểm trong việc tiêu thụ sản phẩm
15
của Công ty. Qua đó có những hướng khắc phục hợp lý cho Công ty trong thời gian
qua.
Thứ ba, Công trình nghiên cứu Vũ Thị Tri (2009), Đẩy mạnh xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ tại công ty Cổ phần sản xuất - Xuất nhập khẩu Ninh Bình
chi nhánh Yên Khánh, Luận văn Tốt nghiệp Đại học, Đại học Nông Nghiệp Hà
Nội, Hà Nội. Đề tài đã nghiên cứu về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn và sản xuất,
tiêu thụ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Đồng thời đi sâu phân tích thực trạng
hoạt động và xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ của công ty Cổ phần sản xuất Xuất nhập khẩu Ninh Bình chi nhánh Yên Khánh. Từ đó nghiên cứu các yếu tố ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu của chi nhánh trong thời gian qua như
nguồn nguyên liệu, nguồn lao động, chất lượng mẫu mã sản phẩm đang là yếu tố
gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất của công ty. Tuy nhiên các yếu tố về thuế quan và
các ưu đãi khi đất nước gia nhập tổ chức thương mại (WTO) lại mở ra những cơ
hội lớn cho xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của chi nhánh. Đồng thời từ việc
phân tích ma trận SWOT để đưa ra các giải pháp phù hợp cho công ty trong thời
gian tới.
Thứ tư, Công trình nghiên cứu Nguyễn Thu Hà (2005), Đánh giá hiệu quả
đầu tư dây truyền chế bản và ra film tại Công ty TNHH Đức Hiếu - Quận Đống Đa