skkn NGHỆ THUẬT tạo HỨNG THÚ CHO HS TRONG dạy học môn địa lý tại TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NGHỆ THUẬT TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ TẠI TRƯỜNG THPT
LONG KHÁNH

Người thực hiện: HOÀNG THỊ THÚY NGA
Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp dạy học môn: ĐỊA LÝ

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm

 Phim ảnh

Năm học: 2014 – 2015

 Hiện vật khác


LÍ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: HOÀNG THỊ THÚY NGA
2. Ngày tháng năm sinh: 23/01/1986
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: tổ 26, Bảo Vinh A, xã Bảo Vinh, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại: 0933 491 517
6. Email: [email protected]

HS

Học sinh

PP

Phương pháp

RLKNS

Rèn luyện kĩ năng sống

SGK

Sách giáo khoa

TBD

Thái Bình Dương

THPT

Trung Học Phổ Thông

3


MỤC LỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ……………………………..…………………..…..…5
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN …………………..……………….…….6


4


NGHỆ THUẬT TẠO HỨNG THÚ CHO HS TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA
LÝ TẠI TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan
trọng trong quá trình hoạt động của con người. Nó là động cơ thúc đẩy con người
tham gia tích cực vào hoạt động đó. Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dù
phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao.
Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng, thực tế cho thấy
hứng thú đối với các bộ môn của học sinh tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các
em.
Bàn về thực trạng học tập môn Địa lý của học sinh Trung học phổ thông
(THPT) nói chung, HS trường Long Khánh nói riêng, bên cạnh những học sinh vui
thích, đam mê với việc học tập thì cũng có một bộ phận không nhỏ các em không
thích học, chán học, nguyên nhân là do chưa có động cơ học tập đúng đắn, mất
hứng thú học tập.
Khi học tiết phương pháp giảng dạy đầu tiên ở giảng đường đại học, cô giáo
đã cho chúng tôi so sánh một giáo viên với một diễn viên. Và cô kết luận: Giáo
viên cũng chính là một diễn viên trên bục giảng. Bài học có cuốn hút học trò hay
không là cả một nghệ thuật. Cũng “nguyên liệu” như nhau, nhưng mỗi “nghệ sĩ”
với sự nhiệt huyết, sáng tạo & hóm hỉnh của mình sẽ tạo ra những “tác phẩm nghệ
thuật” khác nhau.
Do đó, theo tôi để có một bài giảng hấp dẫn là cả một nghệ thuật mà không
phải bài giảng nào mình cũng đã làm thành công, không phải giáo viên nào cũng
làm tốt và tạo hứng thú học tập cho HS.
Bản thân tôi chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, cũng không phải tự
hào là dạy xuất sắc được tất cả HS yêu thích. Nhưng với suy nghĩ muốn nâng cao

1.2. Tầm quan trọng của hứng thú đối với các hoạt động sống và học tập
Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ
thể hoạt động. Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơ
thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó. Trong bất cứ công việc gì,
nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, nó là
động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào hành động đó.
Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽ không đem lại kết
quả cao. Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không
có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí
xuất hiện cảm xúc tiêu cực.
1.3. Khái niệm động cơ
Trong tâm lý học có nhiều cách lý giải khác nhau về động cơ:
- Theo thuyết phân tâm học: Động lực thúc đẩy hoạt động của con người là vô
thức. Nguồn gốc vô thức là những bản năng nguyên thủy mang tính sinh vật và
nhấn mạnh vai trò của các xung năng tính dục.
- Theo thuyết hành vi: Đưa ra mô hình “kính thích - phản ứng”, coi kích thích là
nguồn gốc tạo ra phản ứng - là động cơ.
- Theo J. Piaget: Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp
ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó.
- Theo thuyết tâm lý hoạt động: Những đối tượng nào được phản ánh vào óc ta
mà có tác dụng thúc đẩy hoạt động, xác định phương hướng hoạt động để thỏa
mãn nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động.
Một hoạt động của con người có thể chịu sự chi phối của nhiều động cơ
khác nhau, trong đó có những động cơ chủ đạo và những động cơ thứ yếu. Những
động cơ này nằm trong những mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một hoàn
cảnh hoạt động cụ thể tạo thành một hệ thống gọi là hệ thống động cơ. Động cơ
có thể được phân thành nhiều nhóm theo các tiêu chí khác nhau là phân theo nhu
6




Bình
thường

Không thích

2012-2013

10A

5/39

12/39

17/39

5/39

2013-2014

11B5

6/37

14/37

13/37

4/37


35,4 %

11,5 %

Như vậy, vẫn còn một bộ phận HS cảm thấy thờ ơ với môn Địa lý, thậm chí
một số HS còn thể hiện rõ thái độ chán nản, không hứng thú với môn học.

7


2.2. Thái độ của học sinh đối với việc học môn Địa lý
Năm học

Lớp

Phát biểu nhiều

Có phát biểu nhưng

Không

không nhiều

phát biểu

2012- 2013

10 A

5/39


28

65

100 %

17,7 %

24,8 %

57,5 %

Qua thái độ của học sinh trong giờ học có thể thấy, chỉ có khoảng gần ¼ học
sinh trong lớp là thực sự hứng thú với môn học, một bộ phận sự hứng thú với môn
học không liên tục, một bộ phận bàng quan trong tiết học.
2.3. Động cơ học tập môn Địa lý
Năm học

Lớp

Vì yêu thích
môn học, muốn
khám phá, trau
dồi kiến thức

Học để kiểm tra,
thi đạt điểm cao
(Vì tương lai)


2014-2015

12B6

5/37

14/37

17/37

1/37

113 HS

14

48

45

6

100%

12,4%

42,5%

39,8%


11B5

9/37

14/37

8/37

5/37

1/37

Do cảm thấy
Do môi
Do gia đình
môn học
trường xã
tác động
thiếu hấp dẫn
hội tác động

8


do
khác


2014-2015


37,2%

20,4%

13,2%

4,4%

Tổng số

Như vậy, có nhiều lý do khiến học sinh chán học. Nhưng lý do lớn nhất
khiến tới 37,2% HS không thấy hứng thú học là do cảm thấy môn học thiếu hấp
dẫn. Như vậy, làm thế nào để môn học trở nên hấp dẫn hơn đối với học trò là điều
mà tác giả luôn trăn trở, suy nghĩ.
3. Một số giải pháp nhằm tạo hứng thú cho HS trong dạy học môn Địa lý tại
trường THPT Long Khánh
 Tạo động cơ học tập đúng đắn cho HS, giúp HS có niềm đam mê với môn
học.
 Tạo hứng thú cho HS trong từng khâu lên lớp:
- Mở bài hấp dẫn bằng nhiều cách khác nhau, khơi gợi sự tò mò, ham học hỏi
của HS.
- Trong từng nội dung của bài học: sử dụng nhiều phương pháp sinh động, phát
huy tính tự giác, tích cực của HS, hướng đến dạy học cá thể, sử dụng kiến thức
liên môn trong giảng dạy giúp HS vận dụng kiến thức để giải thích được các
vấn đề thực tế, qua đó rèn luyện kĩ năng sống cho HS; ứng dụng CNTT vào
thiết kế bài giảng, tổ chức các trò chơi,…làm cho tiết học trở nên sôi nổi, HS
cảm thấy hứng thú hơn.
- Tổ chức cho HS đi tham quan ngoại khóa, tổ chức CLB Địa lý tạo sân chơi lành
mạnh cho các em, cung cấp cho các em thêm nhiều kiến thức bổ ích.
III. Tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm tạo hứng thú cho HS trong dạy học

đời của các em.
+ Tất cả những điều này chúng ta sẽ lần lượt được khám phá trong từng tiết học
Địa lý. Cụ thể:
Chương bản đồ chúng ta sẽ thấy được: À để xây dựng được một chiếc bản
đồ không hề đơn giản nhưng cũng không quá khó với sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin. Và chiếc bản đồ quen thuộc không đơn thuần là để xác định vị trí mà hóa
ra ngành nào cũng cần đến nó, thật thú vị!
Đến chương 2 chúng ta sẽ đi khám phá vũ trụ, hệ Mặt Trời và Trái Đất để
hiểu hơn về sự hình thành vũ trụ, để giải thích được tại sao đến nay Trái Đất là
hành tinh duy nhất trong hệ Mặt Trời có sự sống, tại sao trên Trái Đất có ngày
đêm, có các mùa, & giờ mỗi nơi trên TĐ lại khác nhau?
Các chương tiếp theo chúng ta sẽ được khám phá lòng đất, các tầng đá, bầu
khí quyển, sự phân bố đất, và sinh vật trên TĐ,…
Tuy nhiên hứng thú học tập của học sinh được tăng cường phần lớn chịu sự
ảnh hưởng bởi giáo viên. Khi khảo sát động cơ học tập của HS tại trường, ngoài lý
do là học Địa lý để nâng cao kiến thức, thi cử thì tác giả thật sự bất ngờ khi phần
lớn học sinh thích học môn Địa lý, cảm thấy hứng thú trong tiết học vì tiết học
thoải mái, không áp lực, không buồn chán, cô dạy nhiệt tình, dễ hiểu, cô lại vui
tính, thân thiện, gần gũi với HS.
Do đó, giáo viên cần không ngừng trau dồi kỹ năng, phẩm chất đạo đức nghề
nghiệp, cải tiến phương pháp giảng dạy, đảm bảo việc truyền thụ tri thức ngày
càng chính xác, hấp dẫn, có chất lượng. Giáo viên cần giúp cho học sinh thấy được
ý nghĩa và vai trò của các kiến thức môn học đối với cuộc sống; giúp học sinh biết
cách học thích hợp đối với bộ môn, nắm vững lý thuyết, luôn có sự vận dụng các
kiến thức đã học vào cuộc sống và giải quyết các tình huống trong đời sống theo
các khía cạnh khác nhau. Cần có những bài giảng nêu vấn đề, những giờ thảo luận
10


trên lớp, những trò chơi mang tính chất giáo dục để kích thích hứng thú học tập

 Mở bài bằng cách đặt câu hỏi từ chính nội dung của bài:
Dựa vào nội dung bài học, GV đặt ra một số câu hỏi cần giải quyết. Cách
mở bài này “chân phương”, rõ ràng nhưng nếu GV khéo léo cũng sẽ thu hút được
sự chú ý và kích thích sự tò mò của các em.
Ví dụ: Khi dạy bài 27: “Vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến sự
phát triển, phân bố nông nghiệp. Một số hình thức TCLTNN” (Địa lý 10), GV có
thể mở bài như sau: “Tại sao nói hiện nay cũng như sau này không có ngành nào
có thể thay thế được sản xuất nông nghiệp. Ngành nông nghiệp có đặc điểm gì &
sản xuất nông nghiệp trên Thế giới cũng như ở Việt Nam có những hình thức nào.
Các câu hỏi này sẽ lần lượt được sáng tỏ trong bài học hôm na
11


 Mở bài bằng cách sử dụng phương pháp động não:
Dựa vào nội dung của bài, GV nêu một số câu hỏi hay một ý tưởng yêu cầu
HS phát biểu ý kiến cá nhân của mình. Sau đó, GV gom các ý kiến lại hướng vào
nội dung của bài học để tiến hành bài học.
Ví dụ khi dạy bài 22: “Dân số và tình hình tăng dân số thế giới” (Địa lý
10), GV có thể đặt ra các câu hỏi như:
+ Em nào biết dân số TG hiện nay khoảng bao nhiêu, theo em trong tương lai quy
mô dân số sẽ biến động như thế nào (tiếp tục tăng nhanh hay ổn định hoặc giảm
xuống)?
+ Theo em tại sao dân số Thế giới hoặc dân số của một quốc gia, một vùng, một
địa phương nào đó lại luôn biến động?
+ HS lần lượt trả lời, thậm chí còn tranh luận gay gắt về xu hướng biến động quy
mô dân số trong tương lai.
+ GV: Ý kiến của mỗi em đều có lý lẽ riêng của mình, đúng là quy mô dân số hiện
nay rất lớn, đạt trên 7 tỉ người, thời gian vừa qua dân số Thế giới đã tăng rất nhanh,
trong tương lai gần quy mô dân số vẫn tiếp tục tăng nhưng có xu hướng chậm lại,
trong tương lai xa quy mô dân số sẽ dần ổn định, thậm chí có thể giảm. Bởi có

+ Kiến thức lịch sử: GV hỏi HS về các sự kiện lịch sử: Ngô Quyền đánh tan
quân Nam Hán vào năm nào và bằng cách nào. Sau khi HS trả lời chúng ta dẫn dắt:
Thủy triều là gì, nó hình thành và hoạt động như thế nào, tại sao Ngô Quyền lại lợi
dụng được thủy triều để đánh tan quân Nam Hán, chúng ta cùng tìm hiểu trong bài
hôm nay.
2.2. Trong nội dung của bài học
Trong mỗi bài học: cần chọn kiến thức cơ bản, xác định được nội dung trọng
tâm, trình bày bài học một cách trực quan, sinh động, sử dụng nhiều phương pháp
hấp dẫn, phát huy tính tự giác, tích cực của HS, hướng đến dạy học cá thể, sử dụng
kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề, giúp HS vận dụng kiến thức để giải thích
được các vấn đề thực tế, qua đó rèn luyện kĩ năng sống cho HS.
2.2.1. Chọn kiến thức cơ bản của bài học
Đây là điều tưởng như rất đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được. Bởi
giáo viên thường không muốn bỏ sót nội dung nào trong bài học. Càng đến tiết
thao giảng, dự giờ, giáo viên càng đưa vào bài giảng nhiều nội dung. Chính vì vậy,
tiết học thường bị “cháy”. Điều này làm học sinh quá tải, cảm thấy mệt mỏi, chán
học.
Trong bài học: chúng ta nên xác định rõ nội dung cơ bản, trọng tâm, những
kiến thức khó để xoáy sâu vào giải quyết vấn đề. Đối với những nội dung không
quá khó, học sinh có thể tự nghiên cứu ở nhà thì chúng ta không cần phải đưa hết
vào tiết học để tránh bài học bị loãng, quá tải và nhàm chán. Thời gian còn, chúng
ta cần mở rộng vấn đề, dành thời gian cho HS hoạt động, trình bày suy nghĩ, sử
dụng kiến thức bài học để giải quyết các vấn đề thực tế. Qua đó GV vừa đánh giá
được HS đã hiểu bài đến đâu và có tác động kịp thời, vừa cho các em cơ hội để lấy
điểm miệng hoặc điểm cộng trên lớp.
2.2.2. Có thể sắp xếp lại cấu trúc bài dạy trên lớp để làm nổi bật các
kiến thức trong hệ thống bài học
Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy có thể gắn với việc sắp xếp lại
cấu trúc của bài học để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thức
của bài, từ đó làm rõ thêm trọng tâm, trọng điểm của bài. Việc làm này thực sự cần

nhiều đồi, núi, núi lửa.
- Khoáng sản: Dầu mỏ,
than, đồng, khí đốt...

Khí hậu,
sông ngòi

- Nhiệt đới ẩm gió mùa,
- Nhiệt đới ẩm gió mùa
cận xích đạo & xích đạo
- Mạng lưới sông ngòi dày đặc, có
gió mùa
nhiều sông lớn
- Sông ngắn, dốc

Đất, sinh
vật

- Đất đỏ badan và đất phù sa
- Rừng nhiệt đới

- Đất đỏ badan
- Rừng xích đạo, rừng
nhiệt đới

Biển

- Phần lớn các nước giáp biển (trừ
Lào), vùng biển giàu tiềm năng.


niệm: Địa lý là môn phụ, môn học bài, đơn giản. Do đó, vị trí của giáo viên trong
14


lòng các em học sinh cũng chưa thực sự được coi trọng. Đây cũng là một trong
những lý do khiến HS xem nhẹ và mất hứng thú khi học.
Do đó, sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình dạy học chúng ta đã cho
HS một cái nhìn khác, chúng phần nào “thần tượng” giáo viên bởi thầy cô mình có
kiến thức thật sâu rộng, chúng thấy được Địa lý không chỉ có lý thuyết xuông, đơn
giản, học Địa lý không chỉ học để biết, để kiểm tra thi cử mà sử dụng kiến thức Địa
lý với sự hỗ trợ đắc lực của các môn học khác giúp các em nắm chắc kiến thức của
nhiều môn học, có thể sử dụng kiến thức liên môn để giải quyết được nhiều vấn đề
thực tế.
Vấn đề này cũng đã được nhiều GV nghiên cứu, tuy nhiên tác giả thấy bên
cạnh những kiến thức liên môn thể hiện rõ rệt ở 1 số bài học mà GV nào cũng có
thể nhận biết thì mỗi GV lại có những nghiên cứu, sáng tạo riêng. Do đó, trong đề
tài của mình tác giả cũng xin trình bày một số kiến thức liên môn mà tác giả đã sưu
tầm hoặc tự nghiên cứu và đã áp dụng trong quá trình giảng dạy tạo được sự hứng
thú cho HS:
* Sử dụng kiến thức Văn học trong dạy học Địa lý:
 Ca dao, tục ngữ:
Thật tự hào khi được là thế hệ con, cháu, của một dân tộc mà cuộc sống gian
khổ của họ lại được nghệ thuật hóa bằng những câu ca dễ nhớ, dễ nghe, dễ phổ
biến. Những bài học về địa lý sinh động, khắc sâu được kiến thức về khoa học Địa
lý, bằng cách lồng ghép đưa tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam mà còn có ý nghĩa
sâu sắc góp phần hình thành nhân cách cho học sinh trong thời kỳ hội nhập với khu
vực, với thế giới hiện nay. Các em biết tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tiên tiến của
thế giới đồng thời phải biết kế thừa nét văn hóa độc đáo, giàu bản sắc của dân tộc
vào mỗi phần bài học lớp 10.
Ví dụ 1:

lục địa cao hình thành khu áp thấp hút gió (khối khí ẩm) từ Thái Bình dương vào
gây nên những trận mưa lớn cùng với sự xuất hiện của các khí áp thấp gây nên
mưa bão ở Bắc bộ và Bắc trung Bộ.
Nên trong dân gian mới có câu:“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”
Nhưng nếu thấy:
Hay:

“Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”
“Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”

Do ảnh hường của địa hình: dãy Hoàng Liên Sơn ở Bắc Bộ, dãy Trường Sơn
Bắc (Bắc Trung Bộ) nên khi có gió Tây Nam (gió Nam) chỉ gây mưa ở Nam bộ và
Tây Nguyên. Còn ở vùng đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và ven biển Nam
Trung Bộ không có mưa. Tương tự “cơn đàng Bắc...” là ảnh hưởng của khối khí ôn
đới xuất phát từ cao áp lục địa (Xibia) tính chất lạnh và khô nên không gây mưa.
Giáo viên sử dụng các câu ca dao trên bằng nhiều phương pháp :
+ Dùng câu ca dao tục ngữ để gợi mở, gợi ý cho học sinh dễ dàng tìm ra kiến
thức
+ Dạy phần kiến thức xong sau đó đọc câu ca dao để khắc sâu kiến thức để
học sinh dễ nhớ.
Nhằm nâng cao kĩ năng học đi đôi với hành của học sinh giáo viên có thể yêu
cầu học sinh sưu tầm thêm những câu ca dao tục ngữ có liên quan, ý nghĩa gần
tương tự như câu ca dao mà giáo viên cung cấp.
16


+ GV kiểm tra bài cũ, kiểm tra định kì bằng cách cho phân tích, giải thích câu
ca dao tục ngữ.
 Sử dụng thơ trong dạy học Địa Lý:
- Khi dạy bài 6 (Địa lý 12): “Đất nước nhiều đồi núi”, để HS thấy được, cảm


Mục đích tích
hợp

Bài 6 (Tiết - Làm rõ quá
trình mở rộng
1)
lãnh thổ của
I. Lãnh
Hoa Kì
thổ &

Nội dung tích hợp
- Hoa Kì hiện đại có thể coi là được manh nha hình
thành khi người Âu đặt chân và định cư trên đất Bắc
Mỹ.
- Trên những vùng đất thuộc về quý tộc hay tổ chức
17


nào đó dần hình thành các lãnh thổ thuộc địa riêng,
sau này tạo ra 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ với diện
tích khoảng 900 nghìn km2. Cuộc đấu tranh giành
độc lập đã dẫn đến việc hình thành Hợp chúng quốc
Hoa Kì với 13 bang.

VTĐL

- Sau đó Hoa Kì dùng nhiều biện pháp để mở rộng
lãnh thổ:

chiếm tới ½ số dân gia tăng hàng năm của Hoa Kì).
- Sự nhập cư vào Hoa Kì đã thu hút được “nạn chảy
máu chất xám ở các nước thứ ba”.
+ Từ 1974-1979: có 250 nghìn người có chuyên
môn lành nghề (75% chất xám ra đi từ các nước
đang phát triển di cư sang Mỹ). Thập kỉ 70 của
TKXX, 50% bác sĩ làm việc tại Mỹ là từ các nước
đang phát triển. Kết quả là các nước đang phát triển
mất của cải đầu tư để đào tạo những người có
chuyên môn cao, mất tiền để nuôi dưỡng họ để rồi
các nước phát triển được hưởng những nhà chuyên
môn sẵn sàng hành nghề. Theo một công trình được
tiến hành tại Mỹ năm 1974, những nhà chuyên môn
có nguồn gốc từ thế giới thứ 3 này đã tiết kiệm cho
Mỹ khoảng 4 tỉ USD từ 1947 – 1967, vào năm 1971
là 835,5 triệu USD trong lĩnh vực giáo dục và đào
tạo. Đây là hiện tượng chuyển giao kĩ thuật ngược
chiều. Hiện tượng ra đi của chất xám là kết quả của
18


tác động qua lại giữa những nhân tố thúc đẩy bên
trong các nước thứ 3 và những nhân tố lôi cuốn ra
nước ngoài như mức đãi ngộ, lương tháng, thiếu
việc làm, phòng thí nghiệm hoặc thiếu ổn định về
chính trị đã cổ vũ các nhà chuyên môn giỏi rời bỏ
đất nước mình.
+ Bộ luật tháng 10/1990 đã được hiện thực từ tháng
10/1991 cho phép hàng năm nhập cư vào Mỹ
700000 người và 131 000 người tị nạn chính trị. Bộ

giới.
+ Những yếu tố trên hòa với óc thực dụng nhanh
nhạy nắm bắt và áp dụng các thành tựu của tiến bộ
KHKT và khoa học quản lý cùng với đường lối nhất
quán thu hút chất xám của các nước thứ ba và vơ vét
đối với sân sau là khu vực Mỹ La Tinh trong hàng
chục thập kỉ cùng với Châu Phi và Châu Á sau này
đã đưa Mỹ trở thành cường quốc kinh tế số một thế
giới.
- Những quốc gia nào, nhất là những nước mới bước
sang nền kinh tế thị trường như nước ta nhận thức
19


được tầm quan trọng của “nhân tố Mỹ” trong quá
trình phát triển kinh tế như một tất yếu chắc chắn sẽ
tạo ra những điều kiện cần thiết để xây dựng thành
công nền kinh tế thị trường.
* Tích hợp môn Toán trong dạy học Địa lý:
- Chương trình Địa lý 10: Sử dụng kiến thức Toán học để: Tính góc nhập xạ, tính
ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh, tính giờ, ngày, tháng, tính độ cao núi, tính số dân khi
biết tốc độ gia tăng dân số, tính mật độ dân số, tính cán cân thương mại, giá trị
xuất-nhập khẩu,...
- Chương trình Địa lý 11: Sử dụng kiến thức Toán học để tính tỉ trọng GDP của
Trung Quốc so với Thế giới, xử lý số liệu để vẽ biểu đồ, nhận xét bảng số liệu
thống kê,…
- Chương trình Địa lý 12: Sử dụng kiến thức Toán học để tính độ che phủ rừng, thu
nhập bình quân đầu người, sản lượng lương thực bình quân đầu người, năng suất,
sản lượng lúa hoặc xử lý số liệu vẽ biểu đồ, nhận xét bảng số liệu thống kê,…
* Tích hợp môn Hóa học trong dạy học Địa lý

làm tỏa nhiệt nên đã được bù một phần nhiệt đáng lẽ phải dùng để chi cho giãn nở
không khí. Không khí bão hòa khi hạ xuống nóng lên chưa đến 10C do nhiệt phải
chi cho bốc hơi. Không khí bão hòa khi lên cao thường mất độ ẩm do hơi nước
ngưng kết và rơi xuống, trở thành không bão hòa. Không khí chưa bão hòa khi hạ
xuống cứ 100m sẽ tăng 10C.
+ Dùng kiến thức vật lý để giải thích hiện tượng nhiệt độ cực đại và cực tiểu
trong một ngày ở đại dương thường xảy ra chậm hơn so với ở lụa địa: Sự truyền
nhiệt vào trong đất và nước phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt dung thể tích (lượng
nhiệt tính bằng calo cần thiết để đốt nóng 1 cm3 một chất nhất định lên 10C) và tính
dẫn nhiệt của chúng (khả năng truyền nhiệt được đo bằng lượng nhiệt đi qua một
lớp đất có diện tích là 1 cm2 và chiều dày 1 cm, mà nhiệt độ chênh nhau ở 2 mặt
của lớp đó là 10C trong 1 giây). Với lượng nhiệt mặt trời như nhau, đất (hay nước)
có nhiệt dung thể tích lớn hơn thì được đốt nóng nhiều hơn. Nhiệt dung thể tích
của đất, đá nhỏ hơn nhiệt dung của đá 2 lần. Nước có nhiệt dung thể tích lớn hơn
nhưng tính dẫn nhiệt nhỏ hơn so với đất nên nóng lên chậm và mất nhiệt cũng
chậm.
+ Dùng kiến thức vật lý để giải thích hiện tượng đại dương có biên độ nhiệt
nhỏ, lục địa có biên độ nhiệt lớn: Tia sáng Mặt trời đến mặt nước được các lớp
nước trên mặt hấp thu một phần, còn một phần truyền xuống đốt nóng trực tiếp các
lớp nước dưới sâu. Do trao đổi loạn lưu nên sự truyền nhiệt xuống sâu ở nước
nhanh gấp nhiều lần (1000 đến 10 000 lần) so với dẫn nhiệt phân tử ở đất. Tính
linh động của nước càng làm cho sự truyền nhiệt có hiệu quả hơn. Vì vậy ở đại
dương có nhiệt độ cực đại trong ngày thường thấp hơn đất liền và nhiệt độ cực tiểu
trong ngày thường cao hơn đất liền dẫn đến biên độ nhiệt ở đại dương nhỏ, biên độ
nhiệt ở lục địa lớn hơn.
Để kích thích sự tìm tòi, sáng tạo & khả năng vận dụng kiến thức của HS
vào giải quyết các vấn đề trong bài học và trong thực tế, GV không nhất thiết tự
mình sử dụng kiến thức các môn khoa học khác để giải thích các vấn đề trong môn
Địa lý mà có thể khơi gợi, giúp HS tự vận dụng kiến thức liên môn (đã được học
trong các môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Công nghệ, Văn, Sử) để giải quyết vấn đề.

biết đường đi, em sẽ sử dụng những cách nào để tìm được nơi
mình cần đến?

Bài 5
Mục
II.2

- Một bạn HS được học bổng đi du học ở Mỹ. Bạn lên máy bay tại
sân bay Nội Bài (Hà Nội -1050Đ) lúc 13 giờ ngày 4/5/2015, đến
Oa-sinh-tơn (Mỹ - 770T) mất 12 tiếng . Sang đến nơi bạn thấy
đồng hồ tại sân bay vẫn chỉ 13 giờ ngày 4/5/2015. Tại sao thế nhỉ?

- VD 1: Cho HS xem 1 đoạn phim về động đất và sóng thần ở Nhật
Mục II Bản hoặc In-đô-nê-xi-a rồi yêu cầu HS giải thích hiện tượng.
- VD 2: Thời gian gần đây báo chí liên tục đưa tin về trận động đất
ở Nê-pan làm chết và thương vong hàng chục nghìn người. Nhưng
trận động đất mạnh tới 7,8 độ Richter ấy cũng không gây ra hiện
tượng núi lửa, sóng thần như ở Nhật Bản. Tại sao thế nhỉ?
Bài 7

Bài 9
Mục 2
Bài 12
Mục
II.3

- Hình ảnh đá ba chồng ở Định Quán là hình ảnh rất quen thuộc ở
tỉnh Đồng Nai chúng ta (GV cho HS xem hình ảnh đá Ba Chồng).
Theo em đó là sản phẩm của quá trình ngoại lực nào?
- GV cho HS xem bản đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ, yêu cầu HS

tượng này? (HS trả lời)
+ GV bổ sung: ngoài trồng rừng, xây đê biển (đã xây kiên cố ở Trà
Vinh), hợp tác quốc tế cùng cắt giảm khí nhà kính, nâng cao ý thức
người dân, trước khi biển lấn vào đất liền, chúng ta đã chủ động
lớn biển như: xây dựng đô thị lấn biển ở Kiên Giang, Cần Giờ
(TP. HCM),…
- VD2: Hiện trạng ô nhiễm môi trường ở Long Khánh hiện nay
như thế nào, theo em nguyên nhân là gì, hãy đè xuất giải pháp khắc
phục? (Có thể cho HS tự đi khảo sát thực tế).
12

Bài 6

- Đồng Nai có địa hình bán bình nguyên (thuộc Đông Nam Bộ),
dựa vào hiểu biết của bản thân, em hãy phân tích những thuận lợi
và khó khăn của dạng địa hình này đến sự phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh ta?

Bài 10

- Cũng nằm trong khu vực Châu Á gió mùa nhưng khác với miền
Bắc có một “mùa đông lạnh”, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều; Đồng
Nai chúng ta “mùa đông không lạnh”, nóng quanh năm, có 2 mùa
mưa khô tương phản sâu sắc. Em hãy giải thích vì sao?
- Theo em, khí hậu ở Đồng Nai tạo thuận lợi và gây khó khăn gì
cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đề xuất giải pháp khắc phục
những khó khăn do thời tiết, khí hậu mang lại?

Bài 15


Bài 22

- Kể tên các loại cây công nghiệp ở Long Khánh mà em biết. Tại
sao ở đây lại trồng được những loại cây đó? (Cho HS đi khảo sát
thực tế).
- Thực tế chỉ ra rằng: chúng ta không nên chuyên canh một loại
cây nhất định. Em hãy giải thích vì sao?

Bài 31

- Có thể cho HS đi khảo sát các tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng
du lịch để thấy được hiện trạng phát triển du lịch của địa phương.
Nếu không có điều kiện đưa HS đi, chúng ta có thể cho HS xem
hình ảnh & đặt ra các câu hỏi như:
+ Nếu em là hướng dẫn viên du lịch ở Long Khánh, em sẽ đưa
khách du lịch đi tham quan những địa điểm nào của thị xã, vì sao?
+ Em thấy ngành du lịch ở Long Khánh đã phát triển mạnh chưa,
vì sao? Nếu là một trong những người lãnh đạo trong ngành du lịch
của thị xã, em sẽ làm gì để thúc đẩy ngành du lịch của thị xã phát
triển hơn nữa?

 Rèn luyện kĩ năng sống cho HS:
Đây là một khâu rất quan trọng trong tiết học Địa lý. Bởi mục đích cuối
cùng của giáo dục là hình thành nhân cách cho HS, giúp chúng có đủ bản lĩnh để
sống tốt.
Rèn luyện kĩ năng sống cho HS trong tiết Địa lý sẽ khiến HS thấy được ý
nghĩa thực sự của môn học, có động cơ học tập đúng đắn.
Kỹ năng sống biểu hiện ở thái độ, hành vi, lời nói của một người trước
những tình huống phức tạp và đa dạng của cuộc sống. Nó được hình thành và phát
triển cùng với tuổi đời của người đó và có thể thay đổi theo thời gian khi nhận thức

lên bởi không ai có thể sống một mình trong cuộc đời này.
KHỐI 12
Bài 17: Lao - Kĩ năng tự nhận thức: Trình độ của người lao động Việt Nam
động và việc làm chưa được cao, ý thức kỉ luật lại chưa tốt. Theo nhận định của
các nhà kinh tế học: Năng suất lao động của 1 người Nhật Bản
bằng tới 30 người Việt Nam. Vì thế mức thu nhập của phần lớn
lao động nước ta (trong đó có cha mẹ các em) còn thấp, chất
lượng cuộc sống chưa được cải thiện nhiều. Do đó hiện nay các
em đang còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải cố gắng
học để sau này có chất lượng cuộc sống tốt hơn.
- Ngoài ra, chúng ta cần phải có kế hoạch chi tiêu hợp lý, không
ăn quà vặt quá nhiều, không đua đòi & nâng cao ý thức tự học,
giảm việc đi học thêm để tiết kiệm chi tiêu cho gia đình, còn
những bạn nào gia đình khá giả thì có thể giúp đỡ những bạn
hoặc người khác có hoàn cảnh khó khăn hơn mình.
2.2.5. Nghệ thuật sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để tăng hứng
thú học tập của HS
Có nhiều phương pháp giảng dạy: bên cạnh các phương pháp truyền thống:
đàm thoại gợi mở, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp thuyết trình, hiện
nay nhiều phương pháp mới được đưa vào giảng dạy như: phương pháp động não,
phương pháp nghiên cứu, tranh luận, thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai,…
Mỗi phương pháp có ưu - nhược điểm riêng. Việc GV lựa chọn phương
pháp nào để bài giảng trở nên hấp dẫn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: mục đích, nội
dung của bài học, đối tượng HS, phương tiện dạy học, ngoài ra việc lựa chọn
phương pháp dạy học còn phụ thuộc vào năng lực, sở trường của giáo viên.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status