Thực trạng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban Nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Pdf 38

Khoá luận tốt nghiệp

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần
thiết phải tiến hành cải cách hành chính, coi đây là một giải pháp quan trọng góp
phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta đã tiến hành cải
cách hành chính từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích
lệ. Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung: Cải cách
thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính,
trong đó cải cách thủ tục hành chính là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ
giai đoạn đầu của tiến trình cải cách.
Thủ tục hành chính liên quan không chỉ đến công việc nội bộ của một cơ
quan, một cấp chính quyền, mà còn đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ
với Nhà nước. Các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp
hay ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế
nào, về cơ bản, đều phải thông qua thủ tục hành chính do các cơ quan, các cấp
chính quyền nhà nước quy định và trực tiếp giải quyết. Nhận rõ mục đích, ý nghĩa
và tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành
Nghị quyết số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính mà
mục tiêu quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt hơn các công việc của công
dân, tổ chức, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp. Yêu cầu của Nghị quyết là
“nhằm tạo bước chuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc
giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với tổ chức xã hội và
giữa cơ quan nhà nước với công dân”.
Cùng với yêu cầu phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính ở nước
ta đã và đang có những chuyển biến hết sức tích cực. Điều này được thể hiện qua
những quyết sách vô cùng đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Đó là Quyết định số
136/2001/QĐ-TTg ngày 17/09/2001 về Phê duyệt chương trình tổng thể cải cách
1

bộ, công chức tại Bộ phận “một cửa” và tính độc lập trong giải quyết công việc
khiến hiệu quả vẫn chưa đạt như mong muốn. Và để giải quyết những hạn chế trên
2


Khoá luận tốt nghiệp

thì vào tháng 02 năm 2010 dưới sự hướng dẫn và chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Tỉnh
cũng như Thành phố Thanh Hóa, Bộ phận “một cửa” của UBND Thành phố Thanh
Hóa đã phát triển thành “Trung tâm giao dịch hành chính một cửa, một cửa liên
thông” trực thuộc quản lý của Văn phòng HĐND - UBND Thành phố Thanh Hóa
xong hoạt động độc lập, mang lại hiệu quả rất cao, được đông đảo nhân dân đồng
thuận và là một trong những mô hình mẫu của tỉnh Thanh Hóa.
Và trên đây là những lý do để em chọn đề tài: “Thực trạng cải cách thủ tục
hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban Nhân dân
Thành phố Thanh Hóa”.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích
Mục đích của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận về thủ tục hành chính và cải cách
thủ tục hành chính trong công cuộc cải cách nền hành chính Quốc gia. Đồng thời
phân tích thực trạng của công cuộc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một
cửa, một cửa liên thông” tại UBND Thành phố Thanh Hoá.
2.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của đề tài là so sánh lý luận và thực tiễn cải cách thủ tục hành
chính, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cải cách thủ tục
hành chính theo cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” tại UBND Thành phố Thanh
Hoá.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là nghiên cứu về thủ tục hành
chính, đây là các loại thủ tục liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO
CƠ CHẾ “MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG”
1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1. Nước ngoài
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” từ lâu
đã được nhiều nước trên thế giới tiến hành thực hiện. Do có sự khác nhau về đặc
điểm phát triển kinh tế - xã hội nên việc thực hiện cơ chế “một cửa” ở mỗi Quốc
gia này luôn có sự khác biệt về phương pháp, cách thức và nội dung thực hiện. Sau
đây, chúng ta cùng tìm hiểu mô hình cơ chế “một cửa” tại Thụy Điển và các Quốc
gia trong khối WCO (Tổ chức Hải quan thế giới):
1.1.1. Kinh nghiệm thực hiện Cơ chế một cửa Quốc gia tại Thụy Điển
Thụy Điển xây dựng và phát triển Cơ chế một cửa quốc gia từ năm 1989 bắt
đầu với việc Ngành Hải quan phát triển Hệ thống thông tin Hải quan dành cho quy
trình xuất khẩu hàng hóa và gửi thông tin thống kê điện tử cho Tổng cục thống kê.
Đến nay, Cơ chế một cửa quốc gia Thụy Điển đã thu được những kết quả rất tốt
đẹp. Hàng năm, 94% tờ khai hải quan được gửi bằng phương pháp điện tử qua
XML hoặc EDIFACT. Hệ thống thông tin của Hải quan Thụy Điển hiện nay quản
lý hơn 100.000 thông điệp điện tử/ngày.
Thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, doanh nghiệp có thể tiến hành nộp tờ
khai hải quan điện tử, nộp đơn xin giấy phép xuất nhập khẩu và giấy phép đối với
các mặt hàng chiến lược. Tờ khai xuất nhập khẩu có thể được gửi qua Internet hoặc
qua hệ thống EDIFACT của doanh nghiệp. Hiện nay, Cơ chế một cửa quốc gia
Thụy Điển có sự tham gia của Cơ quan Hải quan, Nông nghiệp, Thương mại, Ủy
ban quốc gia về giám sát hàng hóa chiến lược và Cảnh sát. Trong đó, Hải quan là
cơ quan đầu mối quốc gia về Cơ chế một cửa.

5





Khoá luận tốt nghiệp

Quá trình xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia được Thụy Điển
thực hiện một cách tuần tự và có lộ trình, trong đó bắt đầu với việc thực hiện thủ
tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, sau đó đến hàng hóa quá cảnh và cuối
cùng là hàng hóa nhập khẩu. Việc thu thuế và phát triển hệ thống hỗ trợ như biểu
thuế hải quan đã được đưa vào thực hiện phù hợp với yêu cầu triển khai và thực
hiện Cơ chế một cửa quốc gia. Quá trình phát triển cấu phần đầu tiên của hệ thống
Cơ chế một cửa quốc gia đối với hàng hóa xuất khẩu được bắt đầu thực hiện từ
năm 1988 và đi hoạt động từ cuối năm 1989.
Để phục vụ cho việc vận hành hệ thống này, cán bộ Hải quan đã được đào
tạo với thời gian từ 16 đến 32 giờ tùy theo vị trí làm việc của họ. Hải quan Thụy
Điển đã áp dụng phương pháp “đào tạo các nhà đào tạo”. Trước hết, họ tiến hành
đào tạo tập trung các giáo viên và chuyên gia đầu ngành. Sau khi được đào tạo
xong, các giáo viên này sẽ thực hiện đào tạo lại cho cán bộ nghiệp vụ của hải quan
địa phương.
• Những dịch vụ được thực hiện qua Cơ chế một cửa quốc gia.
Bên cạnh những dịch vụ thông thường về thủ tục hải quan, Cơ chế một cửa
quốc gia Thụy Điển còn mang đến những dịch vụ sau:
* Cấp giấy phép nhập khẩu: Dịch vụ này được thực hiện nhờ kết nối giữa hệ
thống của Hải quan với các cơ quan quản lý nhà nước về cấp phép nhập khẩu như:
Nông nghiệp, Thương mại và Cơ quan quốc gia giám sát hàng hóa chiến lược.
* Thống kê ngoại thương: Thông tin thống kê được lấy từ thông tin tờ khai
hải quan. Trên cơ sở đó, Cơ quan Hải quan gửi số liệu thống kê điện tử đến Tổng
cục thống kê.
* Thu thuế VAT nhập khẩu (Thuế giá trị gia tăng): Các khoản thuế này được
Cơ quan Hải quan thu, sau đó chuyển lại cho Tổng cục Thuế.
* Thuế Hải quan: Việc chuyển các khoản thuế hải quan được thực hiện một

từng cơ quan quản lý tham gia vào Cơ chế một cửa quốc gia.
Các dịch vụ doanh nghiệp được hưởng qua Cơ chế một cửa được cung cấp
miễn phí. Tuy nhiên, để có thể sử dụng các dịch vụ tiên tiến của Cơ chế một cửa
quốc gia như nộp tờ khai hải quan điện tử qua EDIFACT, doanh nghiệp phải thực
hiện đầu tư thêm.
8


Khoá luận tốt nghiệp

• Liên hệ và phối hợp
Tại cấp độ chiến lược và chiến thuật, cơ quan Hải quan sẽ đề xuất các Ban
hoạt động chung gồm có đại diện các nhóm doanh nghiệp và các cơ quan khác
nhau. Tại cấp độ chiến thuật, hiện nay Thụy Điển đã thành lập Nhóm làm việc
chung. Nhóm làm việc thứ nhất giải quyết các vấn đề về thủ tục hải quan. Nhóm
làm việc thứ hai giải quyết các vấn đề về nghiên cứu và phát triển công nghệ thông
tin và viễn thông. Nhờ sự hỗ trợ của hai nhóm làm việc này, doanh nghiệp và người
sử dụng dịch vụ Cơ chế một cửa quốc gia có thể tham gia một cách tích cực vào
Cơ chế một cửa quốc gia.
Để vận hành Cơ chế một cửa quốc gia, doanh nghiệp cũng được tạo cơ hội
tham gia vào khóa đào tạo do Hải quan phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước
khác tổ chức.
• Một số điều chỉnh về mặt pháp lý để thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia
Việc tham gia và thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia là hoàn toàn tự nguyện
đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục khai báo điện
tử đối với hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh thì bắt buộc phải khai báo qua
Cơ chế một cửa quốc gia.
Để thực hiện được Cơ chế một cửa quốc gia, Thụy Điển đã thực hiện sửa
đổi, bổ sung hệ thống pháp luật hiện hành. Nội dung sửa đổi, bổ sung đó cho phép
sử dụng chứng từ điện tử, chữ ký số, dán tem, v.v... Thẩm quyền chia sẻ thông tin

“một cửa”,
• Đa số cơ chế “một cửa” bắt đầu được áp dụng sau năm 2000. Ngày càng
nhiều quốc gia áp dụng cơ chế “một cửa” và dự đoán tiếp tục tăng do các nước
thành viên chưa theo cơ chế này được khảo sát đang xây dựng kế hoạch thực hiện.
• Hải quan là cơ quan cung cấp dịch vụ “một cửa” nổi trội hoặc hoạt động một
mình hoặc phối hợp với các cơ quan Chính phủ khác. Tài chính của Chính phủ là
nguồn tài trợ chủ yếu cho duy trì và thực hiện cơ chế “một cửa”. Phí sử dụng và
quan hệ đối tác công tư cũng là một nguồn tài chính.
• Khảo sát khẳng định các cơ quan hải quan nhìn chung thực hiện hệ thống
giải phóng hàng tự động. Hầu hết tờ khai hàng hóa được áp dụng điện tử.
10


Khoá luận tốt nghiệp

• Nhiều nước thành viên hàng hóa dữ liệu “một cửa” theo tiêu chuẩn quốc tế
như: Mô hình dữ liệu WCO, UNTDED và UN/EDIFACT. Tuy nhiên, rất ít thành
viên áp dụng Số Tham chiếu hàng hóa duy nhất của WCO trong cơ chế “một cửa”
quốc gia, do đó cần tập trung nỗ lực để phổ biến mô hình này.
• Các nước thành viên đã phối hợp chặt chẽ hoặc đang xây dựng kế hoạch ứng
dụng XML, Webservice hoặc EDI vào cơ chế “một cửa” quốc gia trở thành chuẩn
mực giao diện. Trong đó, XML là phương pháp phổ biến nhất trong trao đổi thông
tin/dữ liệu thông qua cơ chế “một cửa”. Áp dụng rộng rãi XML góp phần tạo nên
bùng nổ internet.
• Mã số cá nhân (PIN) và Cơ sở hạ tầng khóa công khai (PKI) là các công cụ
được lựa chọn thường xuyên nhất để truy cập cơ chế “một cửa”. Các công cụ xác
nhận khác bao gồm thẻ thông minh, sinh trắc học, thiết bị điện tử xác thực.
Ngoài các Quốc gia nằm trong khối WCO thì Thụy điển là một trong những
nước đi đầu về việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
1.2. Trong nước

chế “một cửa liên thông” theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên
thông” tại cơ quan Hành chính Nhà nước ở địa phương. Quyết định số
93/2007/QĐ-TTg được ban hành trên cơ sở tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định số
181/2003/QĐ-TTg. Ngoài việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quyết định số
181/2003/QĐ-TTg, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg đã quy định nhiều nội dung
mới có tính hoàn thiện hơn nhằm thay đổi phương thức làm việc của cơ quan hành
chính nhà nước các cấp ở địa phương, giảm phiền hà, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước, đem lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp. Thực chất, cơ
chế “một cửa liên thông” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc
trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan Hành chính Nhà nước cùng cấp hoặc
giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả
kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một
cơ quan hành chính nhà nước. Trên thực tế có nhiều loại hồ sơ hành chính có liên
quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cấp, nhiều cơ quan, phải qua nhiều đầu
mối mới có kết quả cuối cùng. Cơ chế “một cửa liên thông” đặt ra yêu cầu các cơ
12


Khoá luận tốt nghiệp

quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp trong quy trình xử lý hồ sơ, không để tổ
chức, công dân cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác. Người dân có nhu
cầu chỉ phải nộp hồ sơ và nhận lại kết quả tại một đầu mối. Những cải cách này đã
giúp cho cơ quan hành chính nhà nước phục vụ ngày càng tốt hơn những nhu cầu
của người dân.
Triển khai thực hiện Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ, các địa phương đã tích cực, khẩn trương ban hành văn bản chỉ đạo, quán triệt
triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, bố trí, thành lập các cơ quan, đơn
vị chủ trì, chỉ đạo cơ quan Hành chính các cấp tại địa phương nghiêm túc triển khai

đó đã giảm đáng kể thời gian thông quan. Công tác kiểm tra thực tế hàng hóa xuất,
nhập khẩu được chuyển sang áp dụng phương pháp quản lý rủi ro, kiểm tra có
trọng điểm, kiểm tra sau thông quan và đang thí điểm thông quan điện tử tại một số
địa phương.
Thực hiện cơ chế “một cửa” đã cơ bản thay đổi bộ mặt của cơ quan Hành
chính các cấp, nâng cao chất lượng hiện đại hóa công sở Hành chính theo chủ
trương của Chính phủ. Ở nhiều tỉnh, thành phố, bộ phận “một cửa” đã được hiện
đại hóa với việc ứng dụng công nghệ thông tin, người dân, cán bộ có thể kiểm tra
được quá trình giải quyết thủ tục tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả một cách
thuận tiện, đơn giản qua hệ thống máy vi tính, phần mềm tra cứu thủ tục và thời
gian giải quyết hồ sơ.
Trong công tác quản lý tài chính, thực hiện cơ chế “một cửa”, chúng ta đã
xác lập trật tự, kỷ cương mới trong quản lý thu phí và lệ phí. Quy định công khai và
minh bạch nguyên tắc thu, mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng đối với các
loại phí, lệ phí tại bộ phận “một cửa” của cơ quan hành chính các cấp. Trong giai
đoạn I (2001 - 2005) thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước, chúng ta đã rà soát, bãi bỏ 140 loại phí do Trung ương và 203 loại phí, lệ phí
do các địa phương ban hành, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi đến làm thủ tục
hành chính tại bộ phận “một cửa”.
Kỷ cương hành chính cũng có những tiến bộ quan trọng. Thông qua sự chỉ
đạo sâu sát, kiên quyết của Thủ tướng Chính phủ thời gian vừa qua về chấn chỉnh
14


Khoá luận tốt nghiệp

kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của cơ quan Hành chính, về rà soát, đơn giản hóa
và công khai các thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa” với chất lượng tốt
hơn đã nâng cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan Hành chính, bằng các việc
làm cụ thể ở các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp đã khẳng định sự

hiện quan liêu trong xử lý công việc.
Việc triển khai thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” còn thiếu
đồng bộ, thủ tục giải quyết một số loại hồ sơ hành chính còn bị cắt khúc theo cấp
hành chính, chưa tạo thành quy trình giải quyết thống nhất từ Trung ương đến địa
phương nên còn gây phiền hà cho tổ chức, công dân khi thực hiện các giao dịch
hành chính. Quan hệ phối hợp trong giải quyết hồ sơ giữa các cấp, các ngành tuy có
tiến bộ, nhưng còn tồn tại nhiều thiếu sót, ý thức cộng đồng trách nhiệm giữa các
bên chưa cao, còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Công tác tuyên truyền về cải
cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tiến hành
chưa mạnh và thiếu chiều sâu, chưa tạo ra những chuyển biến căn bản trong nhận
thức về trách nhiệm thực hiện công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức và hiểu biết
của nhân dân về cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của bộ phận “một cửa”
của cơ quan hành chính các cấp tại một số địa phương chưa được quan tâm hỗ trợ
đầy đủ. Công khai thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa” ở một số địa phương
chưa được tốt theo yêu cầu, như không đầy đủ, thiếu thông tin, không cập nhật kịp
thời các quy định mới, nhiều nơi công khai thủ tục nhưng lại thiếu mẫu đơn, mẫu tờ
khai.
Nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ chế “một
cửa”, “một cửa liên thông”, cơ quan hành chính các cấp cần quan tâm thực hiện
những giải pháp sau:
Thực hiện đồng bộ cải cách thủ tục hành chính với triển khai cơ chế “một
cửa”, “một cửa liên thông”. Rà soát lại hệ thống thủ tục, đánh giá mức độ phù hợp
của các thủ tục và kiểm soát việc định ra các thủ tục mới của các bộ, ngành và địa
phương. Nhanh chóng đưa vào thực hiện tại bộ phận “một cửa” của cơ quan hành
chính các cấp những thủ tục hành chính đã được rà soát, công khai tại giai đoạn I
của Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà
16



17


Khoá luận tốt nghiệp

giữa các cơ quan hành chính Nhà nước với tổ chức và các nhân công dân. Nó giữ
vai trò đảm bảo cho công việc đạt được mục đích đã định, phù hợp với thẩm quyền
của cơ qaun Nhà nước hoặc của các cá nhân, tổ chức được uỷ quyền trong việc
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước”.1
2.1.2. Đặc điểm của thủ tục hành chính
So với hệ thống các loại thủ tục trong ngành lập pháp và tư pháp, thủ tục
hành chính có những điểm khác biệt sau:
1) Thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện hoạt động quản lí Hành chính
Nhà nước
Thủ tục hành chính được thực hiện bởi các chủ thể quản lí Hành chính Nhà
nước. Các chủ thể quản lí Hành chính Nhà nước bao gồm các cơ quan Nhà nước,
các tổ chức xã hội, cá nhân được nhà nước trao quyền; Trong đó quan trọng nhất
phải kể đến các cơ quan hành chính, các cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan
này. Ngoài cơ quan Hành chính, các cơ quan Nhà nước khác cũng tiến hành thủ tục
hành chính khi thực hiện hoạt động quản lí Hành chính Nhà nước như khi các cơ
quan đó xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ; Các cơ quan tổ chức, các
nhân khi tiến hành các hoạt động quản lí Hành chính được Nhà nước trao quyền
trong các trường hợp cụ thể do pháp luật quy định.
2) Thủ tục hành chính do quy phạm pháp Luật hành chính quy định
Căn cứ vào mối quan hệ được điều chỉnh, quy phạm pháp luật hành chính
được chia thành quy phạm nội dung và quy phạm thủ tục. Quy phạm thủ tục quy
định cách thức thực hiện quy phạm nội dung, là yếu tố cần thiết và chiếm phần lớn
trong các quy phạm pháp luật hành chính bởi vì:
Thứ nhất, các quan hệ thủ tục hành chính là đối tượng điều chỉnh của Luật
hành chính.

phù hợp và hiệu quả với tình hình xã hội đương thời. Khả năng thay đổi theo nhu
cầu của thủ tục hành chính nhanh hơn các thủ tục khác.
2.1.3. Ý nghĩa của thủ tục hành chính
 Thủ tục hành chính bảo đảm cho các quy định nội dung của Luật hành chính
được thực hiện;
 Thủ tục hành chính còn đảm bảo cho các quy phạm nội dung của các ngành
luật khác đi vào cuộc sống;
19


Khoá luận tốt nghiệp

 Thủ tục hành chính bảo đảm cho việc thi hành các quyết định hành chính
được thống nhất;
 Làm giảm sự phiền hà, củng cố được quan hệ giữa Nhà nước và công dân;
 Công việc sẽ có thể được giải quyết nhanh chóng, chính xác theo đúng yêu
cầu cơ quan Nhà nước, góp phần chống được tệ nạn tham nhũng, sách nhiễu;
 Thủ tục hành chính khi được tạo lập một cách hợp lý, sẽ tạo khả năng mang
lại kết quả thiết thực trong việc thực hiện các quyết định quản lý, góp phần nâng
cao hiệu lực và hiệu quả cho hoạt động quản lý nhà nước, thúc đẩy sự tăng trưởng
và phát triển nền kinh tế xã hội.
2.2. Cải cách thủ tục hành chính
2.2.1. Nội dung chính của cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2011 – 2020
Theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 18/11/2011 của Chính phủ về Phê
duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.
Thì nội dung chính về cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn này bao gồm
những vấn đề sau:
1. Cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh
vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân, doanh
nghiệp;

2.2.2.1. Mục tiêu cải cách thủ tục hành chính
- Phát hiện và xóa bỏ những thủ tục hành chính thiếu đồng bộ, chồng chéo,
rườm rà, phức tạp. Đặc biệt là loại bỏ những thủ tục đã lỗi thời, không phù hợp với
tình hình mới.
- Xây dựng và ban hành các thủ tục hành chính giải quyết công việc đơn
giản, rõ ràng thống nhất, đúng pháp luật và công khai.
Từ đó hướng tới sự đồng bộ thống nhất của thủ tục hành chính trên cả nước.
2.2.2.2. Phương thức cải cách thủ tục hành chính
Cải cách thủ tục hành chính đặt ra những yêu cầu sau:
• Đơn giản hóa thủ tục hành chính
• Mẫu hóa các văn bản
21


Khoá luận tốt nghiệp

• Giải quyết các thủ tục hành chính theo hướng nhanh gọn, linh hoạt, công
khai và có hiệu quả.
Theo đó cải cách thủ tục hành chính tức cần phải tiến hành các công việc
sau:
1. Rà soát lại toàn bộ các quyết định hiện hành về thủ tục hành chính, phí và
lệ phí thuộc lĩnh vực của mình phụ trách. (Theo báo cáo số 01 của Ban chỉ đạo cải
cách hành chính của Chính phủ ngày 27/04/2006, sau 5 năm triển khai tổng thể cải
cách hành chính 2001- 2010, tất cả các thủ tục hành chính đều đã được rà soát lại).
2. Loại bỏ những thủ tục không cần thiết, bổ sung thêm những thủ tục mới có
tính linh hoạt và phù hợp hơn với tình hình mới. Đồng thời, tiến hành hệ thống hóa
lại các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận dụng vào trong thực
tế và cho công tác nghiên cứu khoa học.
3. Công bố, công khai hóa hệ thống các thủ tục hành chính cho mọi người
dân, tổ chức cùng biết, giải thích thống nhất những từ ngữ, thuật ngữ chuyên ngành

3.1.1. Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa, một cửa
liên thông”
Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa, một cửa liên
thông” được mô tả theo trình tự 5 bước:
• Bước 1: Hướng dẫn, tiếp nhận ( trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức
thuộc Bộ phận tiệp nhận và trả kết quả hồ sơ).
• Bước 2: Chuyển giao hồ sơ giữa Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả với cán bộ,
công chức và phòng ban chuyên môn: Mô tả đầy đủ các công việc, trách nhiệm liên
quan, thời gian hoàn thành, thời gian phản ánh. Xử lý lỗi thiếu sót trong quá trình
thụ lý hồ sơ, trách nhiệm trả lời với tổ chức, công dân khi sai hẹn.
• Bước 3 : Nhận kết quả từ cơ quan chuyên môn ( công chức Bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả).
• Bước 4 : Thu phí, lệ phí ( nếu có).
• Bước 5 : Trả kết quả cho các tổ chức, công dân (công chức Bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả).
23


Khoá luận tốt nghiệp

Sơ đồ 1
Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa, một cửa liên thông”
Nộp hồ sơ
Phòng
tiếp dân
Phòng
tiếp dân
Trả hồ sơ
Nhận kết quả

Văn phòng ký

Trưởng phòng


3.1.2. Yêu cầu trong giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa, một
cửa liên thông”
• Thống nhất sắp xếp quy định quy trình giải quyết từng thủ tục hành chính lần
lượt ghi theo thứ tự ghi trong danh mục thủ tục hành chính công bố công khai và
phần mềm quản lý thủ tục hành chính.
• Xác định rõ trách nhiệm của cán bộ, công chức Bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả của cán bộ, công chức phòng chuyên môn, quy trình, thời gian khắc phục lỗi
trong quá trình nhận hồ sơ.
3.2. Mục đích và nguyên tắc trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo
cơ chế “một cửa, một cửa liên thông”
3.2.1. Mục đích
• Giảm phiền hà cho tổ chức, công dân khi có yêu cầu giải quyết công việc tai
cơ quan hành chính nhà nước.
• Góp phần chống tệ qan liêu, cửa quyền, tham nhũng của một bộ phận cán bộ,
công chức.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status