VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ HẢI LÝ
LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THI HẢI LÝ
LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI
Chuyên ngành :Công tác xã hội
Mã số :60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HÀ THỊ THƯ
HÀ NỘI, 2016
tuổi ở Việt Nam ........................................................................................................ 41
2.2. Các lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam
.................................................................................................................................. 48
2.3. Thực trạng về lý luận công tác xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam.............. 54
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VIỆC NGHIÊN CỨU LÝ
LUẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM........ 72
3.1. Định hướng........................................................................................................ 72
3.2. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu lý luận công tác xã hội đối với
người cao tuổi ở Việt Nam hiệu quả ........................................................................ 72
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 81
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXH
CÔNG TÁC XÃ HỘI
DVYT
DỊCH VỤ Y TẾ
NB
NHẬT BẢN
NCT
NGƯỜI CAO TUỔI
cao tuổi, 65% người cao tuổi hiện đang sống ở các nước nghèo, đang phát triển; tới
năm 2050 sẽ có 80% NCT sống tại các quốc gia này. Cùng với sự gia tăng tỷ lệ già
hóa, số người cao tuổi sống trong hoàn cảnh khó khăn cũng ngày càng tăng, đặc biệt
là tại các nước nghèo và có chiến tranh. Nghèo đói, bệnh tật, chiến tranh, ô nhiễm
môi trường, lối sống lạc hậu v.v. chính là những nguyên nhân khiến nhiều người
cao tuổi trên thế giới còn sống nghèo khổ, không được chăm sóc, bị ngược đãi, bị
mất quyền quyết định...
Ở Việt Nam, tỷ lệ người cao tuổi đang ngày một tăng cao: năm 2010, số
NCT Việt Nam là 8,15 triệu trong tổng số 86,75 triệu người, chiếm 9,4% dân số cả
nước. Người cao tuổi ở Việt Nam còn có những khó khăn như: 79% không có lương
hưu hoặc trợ cấp bảo trợ xã hội; có rất ít chương trình vì lợi ích người cao tuổi;
người cao tuổi khó tiếp cận được nguồn vốn tín dụng; rất ít bệnh viện hoặc cơ sở y
tế, khoa lão khoa, giường bệnh dành cho người cao tuổi; thiếu các trung tâm và cơ
sở chăm sóc người cao tuổi; 90% người cao tuổi chưa được kiểm tra sức khỏe định
kì; 50% người cao tuổi không có thẻ Bảo hiểm y tế…[http://www.baomoi.com/].
Có thể thấy người cao tuổi còn sống trong tình trạng khó khăn và cần được quan
tâm, chăm sóc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.
1
Về mặt lý luận, trong những năm vừa qua ở Việt Nam đã có nhiều chuyên
gia và các học giả nghiên cứu về cơ sở lý luận của công tác xã hội đối với người cao
tuổi. Đa phần những công trình đó được tiếp cận dựa trên nhiều phương diện khác
nhau dưới góc độ chuyên môn và nghề nghiệp họ đang đảm nhận, qua đó góp phần
xây dựng và thử nghiệm các phương pháp, mô hình thực hành đối với người cao
tuổi ở Việt Nam và cho những kết quả nhất định. Nhưng nhìn chung về quy mô và
số lượng các nghiên cứu vẫn còn ở mức độ hạn chế. Một mặt, vì công tác xã hội là
một ngành-nghề mới được xác lập ở Việt Nam trong mấy năm trở lại đây, nên các
giáo trình giảng dạy và tài liệu chuyên khảo còn khan hiếm. Mặt khác, đội ngũ giáo
viên và các nhà nghiên cứu có chuyên ngành công tác xã hội chưa nhiều, nên các
Năm 1999, tác giả Nguyễn Hữu Dương với đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn
việc xây dựng chính sách xã hội với người già”, nghiên cứu chỉ ra một số vấn đề lý
luận liên quan đến người gia/người cao tuổi; các mốc xác định và các chỉ số đánh
giá người già. Trên cơ sở đó, đề xuất các chính sách nhằm trợ giúp cho người già tại
cộng đồng [16, tr. 6]. Nghiên cứu này đã đưa ra khái niệm người cao tuổi, tác giả
cho rằng người cao tuổi hay còn gọi là người già là những người từ 60 tuổi trở lên.
Năm 2009, tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh với giáo trình “Người cao tuổi và các
mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam”, tác giả trình bày khá chi tiết những
vấn đề về lý luận liên quan đến người cao tuổi, chăm sóc người cao tuổi và cách
thức tiếp cận dựa trên nhiều phương diện khác nhau. Trên cơ sở đó, nghiên cứu còn
chỉ ra các mô hình trợ giúp người cao tuổi và các dịch vụ xã hội trợ giúp các đối
tượng [18, tr. 15]. Trong tác phẩm này, tác giả xác định người cao tuổi là những
người từ 60 tuổi trở lên và đồng thời chỉ ra một số mô hình rất hiệu quả để chăm sóc
người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay.
Năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa với giáo trình “Công tác xã hội
trợ giúp người cao tuổi”, nội dung của giáo trình tập trung nghiên cứu các vấn
đề như: kiến thức chung về người cao tuổi; những mô hình trong nước và kinh
nghiệm quốc tế trong chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi; hệ thống các lý thuyết
và kỹ năng, phương pháp ứng dụng trong công tác xã hội với người cao
tuổi…Thông qua đó, cung cấp những kiến thức, kỹ năng từ khái quát đến cụ
thể, từ học thuật hàn lâm đến thực hành trong công tác xã hội với người cao
tuổi [12]. Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện, bởi bên cạnh chỉ ra
3
những khái niệm về người cao tuổi thì nó còn đưa ra những cách tiếp cận khá
mới mẽ về công tác xã hội đối với người cao tuổi.
Năm 2013, tác giả Phạm Vũ Hoàng với đề tài “Một số giải pháp nâng cao
chất lượng chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam” đã cho rằng người cao tuổi là
tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cũng như những giải pháp cho việc xây
dựng chính sách và chiến lược nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi
như mục tiêu mà đề tài đã đưa ra [26, tr. 40].
Năm 2014, tác giả Phùng Văn Nam với luận văn thạc sĩ “Phát triển dịch vụ y
tế cho người cao tuổi ở xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An”, nghiên cứu
cũng cho thấy, có nhiều nguồn lực ở địa phương có thể vận dụng để phát triển
DVYT phù hợp với người cao tuổi như: các chính sách chăm sóc y tế của Nhà
nước; nhân lực y tế; cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế; kiến thức và kỹ năng chăm
sóc sức khỏe của người cao tuổi… Trên cơ sở những nguồn lực của địa phương, tác
giả đã đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị để phát triển DVYT phù hợp với người
cao tuổi, góp phần nâng cao sức khỏe, đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi
hiện nay [22, tr. 69].
Năm 2014, tác giả Man Khánh Quỳnh với đề tài “Hỗ trợ xã hội đối với
người cao tuổi từ thực tiễn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” đã phân tích được
thực trạng đời sống NCT và hoạt động hỗ trợ xã hội đối với NCT sống cùng gia
đình tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tuy nhiên tác giả mới chỉ nghiên cứu
hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT tại đây và đưa ra một số giải pháp chăm sóc
sức khỏe [26, tr. 71].
Thứ tư, nghiên cứu pháp luật và chính sách đối với người cao tuổi
Trong nghiên cứu “Người già cô đơn và những vấn đề đặt ra trong chính
sách xã hội” của Mạc Tuấn Linh [10]: trong hệ thống an sinh xã hội của bất kỳ
quốc gia nào, an sinh người cao tuổi giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Để xây dựng
chính sách xã hội cho người cao tuổi cần hiểu biết về đặc tính về nhân khẩu, cơ cấu
xã hội và vai trò của lớp người này trong cộng đồng xã hội, đồng thời phải tìm hiểu
tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của họ trong cuộc sống. Trong bài nghiên cứu này
đề cập đến một bộ phận trong lớp người cao tuổi, đó là người già cô đơn [21, tr. 57].
Trong nghiên cứu “Hệ thống an sinh xã hội đối với người có tuổi” của Bùi
Thế Cường đã nêu vai trò quan trọng của hệ thống an sinh xã hội trong quá trình
5
6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Các quan điểm về người cao tuổi và công tác xã hội đối với nguời cao tuổi
trên thế giới và Việt Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu lý luận công tác xã hội đối với người cao tuổi liên quan đến
nhiều yếu tố, thành phần xã hội, điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội và bối cảnh lịch
sử khác nhau. Vì vậy, để nghiên cứu vấn đề này có hiệu quả, tác giả đã vận dụng
một số quan điểm của triết học Mác-Lênin làm cơ sở phương pháp luận khoa học
cho đề tài, đó là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử tất cả các hiện tượng nảy sinh trong xã hội
đều có quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển. Trong các thời kì khác nhau, các
hình thái kinh tế xã hội khác nhau sẽ có sự biến đổi khác nhau. Việc sử dụng chủ
nghĩa duy vật lịch sử là đặt các hiện tượng xã hội, các quá trình xã hội trong hoàn
cảnh lịch sử của đời sống xã hội. Dựa trên quan điểm đó có thể thấy việc nghiên
cứu về NCT và lý luận công tác xã hội đối với NCT cần phải đặt nó trong điều kiện
cụ thể về tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá của địa phương cũng như trong điều kiện
chung của cả nước. Mặt khác, tùy vào từng giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước
mà vấn đề của NCT có thể khác nhau, do đó, cần có những cách tiếp cận phù hợp.
Phương pháp duy vật biện chứng coi một sự vật hay một hiện tượng trong
trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện
tượng khác.Người cao tuổi là một tầng lớp trong xã hội, có quan hệ chặt chẽ với
nhiều cá nhân con người trong xã hội và chịu sự tác động qua lại lẫn nhau với nhiều
Chương 1: Quá trình hình thành, phát triển và thực trạng về lý luận công tác
xã hội đối với người cao tuổi trên thế giới
Chương 2: Quá trình hình thành, phát triển và thực trạng về lý luận công tác
xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp thúc đẩy việc nghiên cứu lý luận công
tác xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam
8
Chương 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG VỀ LÝ
LUẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của lý luận công tác xã hội đối
với người cao tuổi trên thế giới
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển lý luận công tác xã hội đối với
người cao tuổi trên thế giới
Khi nói đến lịch sử công tác xã hội, các tác giả và sách báo về chủ đề này
đều cho rằng nghề Công tác xã hội và công tác xã hội với với người cao tuổi có
nguồn gốc xuất xứ từ các nước phương Tây mà cụ thể là Anh và Mỹ. Các khái
niệm, thuật ngữ và lý thuyết thực hành do vậy đều chịu ảnh hưởng của văn hóa
phương Tây.
* Lịch sử của công tác xã hội và công tác xã hội đối với người cao tuổi
Phần lớn các sách báo viết về lịch sử của Công tác xã hội đều cho rằng nước
Mỹ là nơi khởi nguồn của các phương pháp thực hành công tác xã hội, kể từ khi
Mary Richmond xuất bản những cuốn sách đầu tiên về Công tác xã hội là Friendly
Visiting Among the Poor (Những cuộc viếng thăm thân thiện đến người nghèo,
1899), “Social Diagnosis” (Chuẩn đoán xã hội, 1917), The Good Neighbor in the
Modem City (Láng giềng tốt trong các thành phố hiện đại, 1907) and What is Social
Casework? An Introductory Description (CTXH với trường hợp cá nhân là gì?
hành CTXH đối với người cao tuổi gắn liền với các mốc lịch sử như sau:
Năm 1843
Hiệp hội Cải thiện các Điều kiện của Người Nghèo được ra đời ở New York
(the Association for Improving the Condition of the Poor -AICP) tìm cách giải
quyết vấn đề nghèo đói theo cách tiếp cận cá nhân. Hiệp hội này đã áp dụng nguyên
mẫu các hình thức tiếp cận với cá nhân những người nghèo của các tổ chức từ thiện
ở nước Anh vào việc giúp đỡ người nghèo trong quá trình cải cách đô thị ở New
York, và đã đem lại được nhiều thành công đáng kể trong việc nâng cao đời sống
tinh thần của người nghèo ở thành phố này.
Năm 1869
Hiệp hội Các Tổ chức Từ thiện (Charity Organization Society - COS) đầu
tiên được thành lập ở Luân Đôn, Anh Quốc. Những ý tưởng của Thomas Chalmers,
sau 50 được bắt đầu bằng những hoạt động tiên phong của ông ở Glasgow, đã được
những nhà hoạt động từ thiện ở Anh đón nhận. Họ kết hợp cả hai ý tưởng, cá nhân
hóa sự giúp đỡ và giúp đỡ các nhân trong quan hệ cộng đồng, vào hoạt động tiếp
cận mà họ áp dụng trong việc giúp đỡ những người nghèo. Hiệp hội các tổ chức từ
10
thiện London đã vận hành một chương trình cứu trợ dựa trên ý tưởng của Chalmer,
đặt nền móng cho sự phát triển của CTXH cá nhân như là một phương pháp cho
việc giúp đỡ người nghèo.
Năm 1877
Hiệp hội các Tổ chức Từ thiện (Charity Organization Society -COS) đầu tiên
của Mỹ được thành lập ở Buffalo, New York và cũng hoạt động theo mô hình của
Hiệp Hội Các Tổ chức Từ Thiện ở Anh. Tổ chức này hoạt động dưới hình thức một
tổ chức thiện nguyện, và cũng thúc đẩy thêm việc tiếp cận theo cá nhân và CTXH
với các trường hợp riêng biệt với các cá nhân. Khoảng một thập kỷ tiếp theo sau đó,
hàng loạt Các Hiệp hội Tổ chức Từ thiện như vậy cũng được thành lập ở các thành
đỡ khách hàng (thân chủ).
Những tình nguyện viên xã hội này cũng lo lắng rằng việc chấp nhận các
khoản cứu trợ cộng đồng sẽ là suy giảm lòng tự trọng của những người cần sự trợ
giúp và làm cho họ trở nên phụ thuộc vào sự trợ giúp. Vì vậy, các tình nguyên viên
xã hội cho rằng những người nghèo cần phải nỗ lực để tự giải quyết vấn đề của
mình và họ đã có những kế hoạch điều tra hoàn cảnh từng cá nhân riêng lẻ để xác
định nhu cầu và có biệp pháp hỗ trợ hợp lý. Ngoài ra, các tình nguyện viên đã được
yêu cầu là phải tạo được những ảnh hưởng tốt về phương diện đạo đức đối với
người nghèo, do vậy người nghèo cũng được tư vấn để thay đổi thái độ và hành vi.
Các Tổ chức Từ thiện ngày càng trở nên phổ biến ở Anh và đã hoạt động hiệu quả
thông qua việc sử dụng những khách thăm viếng thân thiện này và để điều tra hoàn
cảnh, xác định nhu cầu. Những hoạt động theo phương pháp này đã đặt nền móng
cho công tác xã hội với cá nhân (làm việc với trường hợp cá nhân).
Sự ra đời của lý luận về CTXH với người cao tuổi trải qua các mốc thời gian
cụ thể như sau:
Giai đoạn trước năm 1920
Trong giai đoạn này, Mary Richmond, tác giả của tác phẩm Chuẩn đoán Xã
Hội (1917) đã cung cấp cho các nhà hoạt động tình nguyện này một mô hình lý
thuyết công tác xã hội. Lý thuyết này cho rằng việc thu thập thông tin cẩn thận sẽ
giúp những người tình nguyện viên xã hội hiểu rõ được các nguyên nhân của vấn đề
và từ đó có thể đưa ra biện pháp khắc phục. Vào thời điểm đó, xã hội học đã có
những ảnh hưởng lớn đối với các kiến thức công tác xã hội. Những giải thích của
tâm lý học vào thời điểm này chưa xuất hiện. Sự ra đời của của trường đào tạo nhân
viên xã hội đầu tiên ở Mỹ vào năm 1898 – Trường New York School of
Philanthropy (tạm dịch là Trường Bác Ái của New York) sau này đổi tên thành
12
Columbia University School of Social Work (Trường CTXH của Đại học
Giai đoạn 1930-1945
Do tác động của suy thoái kinh tế, vấn đề nghèo đói và lệch lạc xã hội đã
được nhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau. Những vấn đề xã hội không còn
được xem là sản phẩm của những khiếm khuyết của cá nhân mà còn là do ảnh
hưởng của hoàn cảnh xã hội của môi trường mà họ sống.
Cách tiếp cận theo chức năng được phát triển trong những năm 1930 bởi các
giảng viên của Trường đào tạo Công tác xã hội ở Pennsylvania. Khái niệm này đã
được giới thiệu bởi Jessie Taft, trong khi đó Virginia Robinson xác định các kỹ
năng cần thiết cho các phương pháp tiếp cận. Theo cách tiếp cận này, nhân viên xã
hội và khách hàng (thân chủ) cùng quyết định nếu xem thử họ có thể phối hợp làm
việc với nhau trên cơ sở những vấn đề/nhu cầu/vấn đề của khách hàng (thân chủ) và
các chương trình hoặc dịch vụ có sẵn tại cơ sở xã hội hay không. Sự sử dụng những
chức năng của cơ sở xã hội cũng là một phần không thể tách rời của những kỹ năng
công tác xã hội.
Năm 1937, Gordon Hamilton đã công bố một báo cáo về cách tiếp cận chuẩn
đoán và chủ yếu là dựa vào lý thuyết của Freud trong tìm hiểu các vấn đề trong
những mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân. Báo cáo chuẩn đoán này thường
mang tính diễn giải và dự kiến. Nó có thể bao gồm cách thức giải quyết những sự
khiếm khuyết/thiếu hụt bằng các nguồn lực xã hội, bằng việc sửa đổi chương trình,
điều chỉnh nguồn lực cũng như việc tư vấn hoặc điều trị.
Những nhân vật hàng đầu đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển của trường
phái tư tưởng tâm lý xã hội bao gồm Richmond, Charlotte Towle, Annette Garrett
và một số người khác. Cách tiếp cận tâm lý xã hội là xem xét các cá nhân trong
hoàn cảnh của họ, tức là, xem xét các cá nhân trong sự tương tác với những người
khác trong các gia đình, cộng đồng, nhà thờ, trường học và các hoàn cảnh xã hội
khác. Phương pháp này cố gắng huy động nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài
của khách hàng (thân chủ) để giúp họ thực hiện những chức năng của cá nhân và
tương tác với người khác có hiệu quả hơn. Các hoạt động giúp đỡ khách hàng (thân
bên trong những tình huống vấn đề của khách hàng; mối quan hệ chuyên nghiệp
được xem là một yếu tố quan trọng trong quá trình này và khái niệm về vấn đề rắc
rối, đã chuyển từ khái niệm bệnh lý sang khái niệm là một phần bình thường trong
cuộc sống.
15
Giai đoạn 1961-1975
Trong giai đoạn này, lý thuyết CTXH tập trung vào việc tiếp tục phát triển
các phương pháp truyền thống, phát triển các cách tiếp cận tổng quát hoặc tích hợp
trong thực hành và phát triển các cách tiếp cận mới trong thực hành để sử dụng
trong các dịch vụ hỗ trợ cho các nhóm khách hàng (thân chủ) cụ thể như phân tích
sự giải quyết vấn đề, sự điều chỉnh hành vi, sự trị liệu thực tế, sự giải quyết khủng
hoảng và cách làm việc với các nhân thông qua cách giao nhiệm vụ. Trong những
năm 1960, cả hai cách tiếp cận chuẩn đoán (giờ đây được gọi là cách tiếp cận tâm lý
xã hội bởi Florence Hollis) và cách tiếp cận chức năng đã được tiếp tục mở rộng và
cập nhật. Các hệ thống xã hội và lý thuyết giao tiếp đã được áp dụng trong thực
hành công tác xã hội.
Trong những năm 1970, các phương pháp tích hợp hoặc thực hành tổng quát
được phát triển cho một nghề nghiệp công tác xã hội đồng nhất và để đáp ứng các
vấn đề/nhu cầu phức tạp của khách hàng (thân chủ). Các tác giả sau đây đã có
những đóng góp vào sự phát triển của thực hành tổng quát: 1) Carol Meyer với cuốn
sách “Thực hành Công tác Xã hội, Sự phản ứng trước khủng hoảng đô thị”: Bà đã
coi quá trình chuẩn đoán là một công cụ đánh giá và can thiệp, có nhiều khả năng
được biết đến như là hành động can thiệp. 2) Harriet Bartlett và cuốn sách “Cơ sở
chung của thực hành công tác xã hội”, cùng với những nỗ lực của Hamilton bà đã
đưa ra một khuôn khổ thống nhất về khái niệm (bao gồm mục đích, các giá trị, sự
thừa nhận, kiến thức và các kỹ năng thông thường) để giúp phát triển những quan
điểm tổng quát về công tác xã hội. 3) Allen Pincus vào Anne Minahan với cuốn
(NCT) ở trên thế giới kể từ khi CTXH được xem xét là một khoa học, một nghề
chuyên môn. Phần lớn các nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng nước Mỹ là nơi
khởi nguồn của các phương pháp thực hành CTXH, tiếp đến là một số nước ở Châu
Âu và Mỹ latinh, Châu Á và Châu Phi.
1.1.2.1. Sự hình thành lý luận công tác xã hội đối với người cao tuổi ở Hoa Kỳ
Tháng ba năm 1865, hai tháng trước khi chấm dứt nội chiến, nước mỹ phải
đối mặt với hàng loạt vấn đề nảy sinh trong xã hội như: hàng triệu quả phụ và trẻ
mồ côi; cựu binh tàn phế; nô lệ vừa được giải phóng, vô học, không nghề nghiệp,
lang thang khắp miền Nam tìm kiếm việc làm và sự trợ giúp… Vì vậy nhu cầu cần
giúp đỡ làm cho hệ thống từ thiện từ bị choáng ngộp, và nhà nước bắt buộc phải
17
tham gia công cuộc cứu tế trên quy mô lớn. Từ nhu cầu và thực tiễn của xã hội, ở
nước Mỹ bắt đầu xuất hiện một đội ngũ những người làm công việc giúp đỡ những
người thiệt thòi, khó khăn. Đó là những hoạt động có tính chất CTXH nguyên
thủy.Trong bối cảnh đó, những người gặp khó khăn đã nhận được sự giúp đỡ của
các tình nguyện viên. Những tình nguyện viên này hoạt động trong các tổ chức xã
hội như: ủy ban từ thiện Quốc gia [3].
Tới những năm 1870, nước Mỹ lại rơi vào khủng hoảng kinh tế đã khiến cho
hàng triệu người bị thất nghiệp, phong trào bãi công nổ ra khắp nơi, tình trạng mất
ổn định xảy ra khắp nơi. Trước tình hình đó, các tổ chức từ thiện phải nổ lực mở
rộng hoạt động cứu trợ nhằm khắc phục những hậu quả của cuộc khủng hoảng và
tái thiết lập lại trật tự xã hội. Những nhà hoạt động từ thiện đã thay đổi cách thức
hoạt động mới, họ không cứu trợ trực tiếp như trước mà tích cực áp dụng các
phương pháp khoa học vào việc hỗ trợ người khó khăn và tạo ra mạng lưới trao đổi
giữa những người này. Năm 1877, Hiệp Hội Các Tổ Chức Từ Thiện
(HCTCTT)/Charity Organization Society và nguyên lý từ thiện khoa học được ra
đời. Những khách hàng của COS chủ yếu là những người do thái, thiên chúa giáo và
đời . Tác phẩm gồm 500 trang của Mary Richmond cống hiến độc giả một mô tả chi
tiết tất cả các hoàn cảnh sống có thể xảy ra cho khách hàng của CTXH, và phương
pháp khoa học bà đã sử dụng để thu thập thông tin cá nhân để định bệnh cho mỗi
trường hợp. “Định Bệnh Xã Hội” thoả mãn tất cả các đòi hỏi về khoa học kể cả
những đòi hỏi do chính Abraham Flexner đề ra. Tác phẩm vì vậy nhanh chóng
chứng minh một cách không thể chối cãi CTXH là một nghề chuyên môn.
Năm 1920, để ấn định một tiêu chuẩn chung cho giáo dục CTXH Bắc Mỹ
(Mỹ và Canada), Hội Trường Đào Tạo CTXH Chuyên Nghiệp được thành lập. Sau
một số lần đổi tên, từ 1952 tổ chức này được gọi là Hội Đồng Giáo Dục
CTXH/Council on Social Work Education, có nhiệm vụ ấn định và duy trì tiêu
chuẩn cho các môn học và chứng nhận cho các trường CTXH hội đủ tiêu chuẩn cấp
bằng Cử Nhân và Cao Học.Năm 1955, Hội Những Nhân viên CTXH Quốc Gia
(NASW) được thành lập. Hội có trụ sở trung ương tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, có
hơn 150.000 hội viên, là hội CTXH chuyên nghiệp lớn nhất thế giới. Hội Những
Nhân viên CTXH Quốc Gia ghi trên địa chỉ mạng: Hội hoạt động “để gia tăng sự
19
phát triển và trưởng thành về chuyên môn của hội viên, để tạo dựng và duy trì tiêu
chuẩn nghề nghiệp và để cổ vũ cho những chính sách xã hội đúng đắn”. Nội Quy
Đạo Đức của Hội cung cấp tiêu chuẩn cho nghề CTXH và để bảo vệ quần chúng.
1.1.2.2. Sự hình thành lý luận công tác xã hội đối với người cao tuổi ở Anh
Tại Anh, do bị ảnh hưởng của các cuộc Cách mạng Công nghiệp nên đã phải
đối đầu với những vấn đề xã hội trầm trọng. Sự thất nghiệp của hàng vạn công nhân
khi các xí nghiệp, công xưởng, hầm mỏ bị phá sản, người lao động tại các đô thị bị
thiếu ăn, nghèo đói, bệnh tật, nhà ở tồi tàn, các tệ nạn xã hội, bóc lột lao động ở trẻ
em và phụ nữ dã man, trong khi đó ở các vùng nông thôn, tình trạng này cũng
không khấm khá hơn. Nhiều gia đình thiếu đất canh tác do chính sách phát triển