Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG HUY

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã
hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. LÊ THỊ QÚY

Phản biện 1: TS. Trần Thị Minh Thi
Phản biện 2: TS. Phạm Trường Giang

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội, hồi ...... ,ngày .... tháng..... năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội





bộ công nhân viên hưu trí” tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả các
nghiên cứu cho thấy, tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần là nhu
cầu cấp thiết đối với NCT.
Sau Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/03/2010 về phê
duyệt Đề án phát triển nghề CTXH, đã có thêm nhiều nghiên cứu mới
CTXH với NCT, tiêu biểu là: Nguyễn Thị Kim Hoa (2012), Giáo
trình “CTXH trợ giúp NCT”. Tác giả đã trình bày một cách tổng quan
về CTXH với NCT. Đây là cơ sở để NVXH vận dụng vào thực hành
trợ giúp NCT, tuy nhiên cuốn sách chưa tìm hiểu được nhiều mô hình
trợ giúp CTXH với NCT, chưa nêu ra được các phương pháp tiếp cận
làm việc với tường nhóm đối tượng cụ thể trong CTXH với NCT.
Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu về NCT từ trước tới
nay cho thấy, đề tài nghiên cứu về CTXH đối với NCT còn ít, những
nghiên cứu trên chỉ tiếp cận ở khía cạnh chủ yếu như: tìm hiểu về
chăm sóc sức khỏe hoặc phân tích thực trạng của NCT hay đánh giá
hiệu quả của chính sách xã hội… Cho đến nay chưa có đề tài nào
nghiên cứu về CTXH đối với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà
Nam. Vì thế, đề tài “CTXH đối với NCT từ thực tiễn Trung tâm
CTXH tỉnh Hà Nam” sử dụng phương pháp “CTXH cá nhân đối
với NCT” là đề tài khá mới mẻ và sẽ bổ sung thêm vào những nghiên
cứu về NCT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn (thông qua thực
tiễn tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam) CTXH cá nhân đối với NCT.
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả CTXH đối với NCT từ
thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ

3


thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các
yếu tố có liên quan như CTXH cá nhân đối với NCT, các chế độ,
chính sách đối với NCT ở Trung tâm...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích các tài liệu liệu
về NCT để tìm ra những ý nghĩa của số liệu đó phục vụ cho nghiên
cứu.
5.2. Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp tri giác
có mục đích, có kế hoạch nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ
thể, đặc trưng của NCT.
5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thông qua các cuộc phỏng
vấn để tìm hiểu những thông tin về NCT. Thông qua những câu hỏi
và trả lời trực tiếp giữa nhân viên CTXH với NCT, lãnh đạo, nhân
viên Trung tâm và người thân của NCT.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Những kết quả thu được từ thực tế sẽ đóng góp thêm vào
nguồn tham khảo cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận của
CTXH cá nhân đối với NCT.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác chăm sóc NCT
ở Trung tâm cũng như trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
Bản thân sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến
thức về CTXH nói chung và CTXH đối với NCT nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn

nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao
năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng
thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ

5


nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa
các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội”.
1.1.3. Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Theo Nguyễn Thị Vân, trong cuốn giáo trình CTXH với NCT
định nghĩa “CTXH cá nhân với NCT là phương pháp của CTXH
nhằm giúp đỡ, hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác
định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực
tự giải quyết vấn đề. Quá trình giúp đỡ là quá trình khoa học và
chuyên nghiệp, trong đó NVXH vận dụng nền tảng kiến thức khoa
học tâm lý xã hội, xã hội học, các khoa học xã hội liên quan khác và
các kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp sát cánh cùng NCT hỗ trợ họ tự
giải quyết vấn đề của mình và hướng đến vượt qua những vấn đề
khác có thể xẩy ra trong tương lai”.
Như vậy, căn cứ vào các khái niệm CTXH, CTXH cá nhân
chúng ta có thể định nghĩa CTXH cá nhân với NCT như sau: CTXH
cá nhân với NCT là quá trình NVXH sử dụng các kiến thức, kỹ năng
chuyên môn để giúp đỡ, hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn, giúp họ
đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiến tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng
cao năng lực tự giải quyết vấn đề.
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết hệ thống sinh thái
Lý thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh sự can thiệp bất cứ
thời điểm nào trong hệ thống cũng ảnh hưởng hoặc tạo ra sự thay đổi

1.3.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng
Sau khi Hội NCT Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban
Bí thư TW đã ban hành chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc NCT”.
Trong các Báo cáo chính trị tại Đại hội IX; Đại hội X; Đại hội XI của
Đảng và Thông báo số 12-TB/TW ngày 13/6/2001 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng đều khẳng định: “NCT là nền tảng của gia đình, là
tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội. Vì thế,

7


chăm sóc và phát huy tốt vai trò NCT là thể hiện bản chất tốt đẹp của
chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh” .
1.3.2. Văn bản pháp luật của Nhà nước
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 ghi
rõ: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì
được giúp đỡ”; Luật NCT được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11
năm 2009 đã thể hiện sâu sắc sự quan tâm của Đảng, nhà nước và xã
hội đối với NCT; Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013
của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng
bảo trợ xã hội.
1.4. Vai trò của nhân viên xã hội đối với người cao tuổi:
Người kết nối nguồn lực
Nhân viên xã hội là người tạo khả năng; người điều phối-kết
nối dịch vụ; người giáo dục; người biện hộ; người tạo môi trường
thuận lợi; người đánh giá và giám sát.
1.5. Các dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi

công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nam
thực hiện chức năng phòng và điều trị rối nhiễu tâm trí; cung cấp các
dịch vụ CTXH cho các đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng
khác do Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà
Nam quy định.
2.1.2.2. Nhiệm vụ
Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bao
gồm: Đối tượng bảo trợ xã hội; Con của người tham gia hoạt động

9


kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị tàn tật nặng và cung cấp
các dịch vụ cộng tác xã hội.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Trung tâm
Trung tâm có 04 phòng chức năng gồm: Phòng Tổ chức Hành chính - Kế toán; Phòng CTXH; Phòng Y tế và Phòng Quản lý Chăm sóc đối tượng.
Năm 2016, Trung tâm đã tiếp nhận quản lý, chăm sóc và nuôi
dưỡng 141 đối tượng, trong đó NCT là 77 đối tượng. Mức ăn hàng
tháng

của

đối

tượng

1.080.000đồng/người,

tiền


2.3.1. Vài nét về hoàn cảnh của TC
Ông Nguyễn Văn T sinh năm 1950, trong một gia đình nghèo,
từ nhỏ đã bị tật khèo chân bẩm sinh, gia đình có 5 anh chị em. Bố và
anh trai đã mất, mẹ tuổi cao sức yếu hiện nay đang ở với gia đình
người em út. Từ nhỏ đến lớn ông sống cùng với bố mẹ. Năm 30 tuổi
ông lập gia đình, nhưng lấy nhau được khoảng 3 năm thì vợ ông bỏ
đi. Ông bị mắc bệnh hen phế quản, đau khớp mãn tính. Do hoàn cảnh
gia đình nhiều khó khăn, năm 2014 ông xin vào sống ở Trung tâm.
2.3.2. Tiếp cận TC:
Việc thiết lập mối quan hệ tốt và tạo ra sự tin tưởng đối với
NCT là khâu quan trọng nhất trong bất cứ hoạt động trợ giúp nào, là
điều có ý nghĩa sống còn trong quá trình giúp đỡ và can thiệp giải
quyết vấn đề của NCT. Có được mối quan hệ tích cực với NCT,
NVXH giúp NCT đạt được sự đồng thuận trong giải quyết vấn đề của
chính mình, đây sẽ là nền tảng cho việc hình thành mối quan hệ tin
cậy và hợp tác giữa NVXH và NCT trong suốt quá trình hỗ trợ.
Để thiết lập được mối quan hệ tốt với ông T, NVXH phải sử
dụng các kỹ năng như: Kỹ năng quan sát; kỹ năng thấu cảm; kỹ năng
đặt câu hỏi; kỹ năng tự bộc lộ; kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng khuyến
khích làm rõ ý v.v. Nhờ sử dụng những kỹ năng trên, NVXH đã có
được những thông tin sơ lược về tên, tuổi, quê quán, hoàn cảnh gia
đình, những tâm tư, lo lắng, nguyện vọng của ông T.
2.3.3. Xác định vấn đề của thân chủ

11


Thứ nhất: Ông T đang bị khủng hoảng tâm lý vì lo lắng về
tình hình sức khỏe của bản thân bởi ông thấy mình cứ bị ho dai dẳng
mãi và cả bị đau khớp chân nữa khiến ông cảm thấy người lúc nào

pháp dựa trên sự giúp đỡ của NVXH.
2.3.7. Trị liệu
Để thực hiện việc trị liệu các vấn đề khủng hoảng tâm lý cho
ông T, NVXH phải căn cứ vào nhu cầu của ông, những điểm mạnh,
điểm yếu của ông để tác động vào những đối tượng có liên quan.
NVXH đã đưa ra cách thức trị liệu dựa vào những kiến thức,
kỹ năng nghề nghiệp đã được học để tiến hành can thiệp trực tiếp với
ông T:
* Tham vấn tâm lý:
Trong quá trình tham vấn tâm lý, NVXH phải đảm bảo giúp
ông đạt được những yêu cầu sau:
- Giải quyết được vấn đề: Giúp ông T ổn định về mặt tinh thần,
giảm bớt những cảm xúc tiêu cực trong hoàn cảnh khó khăn, giúp
ông đạt tới mức độ thích hợp về tư tưởng, tình cảm, thái độ hành vi
ứng xử phù hợp với chuẩn mực xã hội. Giúp ông có kiến thức, thông
tin về chăm sóc sức khỏe.
- Giúp cuộc sống, mối quan hệ của ông T với môi trường xung
quanh, gia đình được tốt hơn.
- Giúp ông T thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi, lối sống theo
hướng tích cực.
Để giúp ông T giải quyết vấn đề, NVXH không chỉ tiến hành
trị liệu với chính ông, mà việc cùng với người thân, gia đình; qua
việc lồng ghép việc kể những câu truyện về những tấm gương NCT
mắc khuyết tật, gặp khó khăn trong cuộc sống sẽ giúp quá trình trị
liệu đạt hiệu quả tốt hơn.
* Huy động nguồn lực hỗ trợ

13





Vấn đề thứ hai: Ông T là NCT bị khuyết tật bẩm sinh, bản
thân đang bị bệnh tật, ốm đau di chuyển khó khăn, nhưng NVXH đã
kể những tấm gương NCT khuyết tật nỗ lực vượt khó qua đó đã giúp
cho ông có sự tự tin, tích cực vận động đi lại, tham gia tích cực vào
hoạt động văn hóa, văn nghệ, bước đầu tham gia một số buổi lao
động trị liệu: nhặt cỏ ở vườn.
Vấn đề thứ ba: Mong muốn của ông T được về thăm mẹ già,
thăm gia đình đã được NVXH đáp ứng, qua đó đã giúp ông yên tâm,
không còn cảm giác buồn phiền lo, lắng.
Vấn đề thứ tư: Ông T là NCT khuyết tật, bản thân đang bị ảnh
hưởng do bệnh tật cả về mặt tinh thần lẫn thể xác, những nguồn lực
hỗ trợ được cung cấp đã giúp ông giải quyết được vấn đề của mình.
2.4. Những hạn chế, thiếu sót trong CTXH cá nhân đối với
NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam và nguyên nhân
2.4.1. Những hạn chế, thiếu sót trong CTXH cá nhân đối với
NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam
Thứ nhất, Hành lang pháp lý đối với ngành nghề CTXH chưa
được đầy đủ chặt chẽ, còn mang tính bao quát chung và chưa được
Luật hóa.
Thứ hai, Công tác thông tin, tuyên truyền về nghề CTXH nói
chung và hoạt động CTXH cá nhân với NCT còn hạn chế cả về chất
lượng và số lượng. Nhận thức của người dân về nghề CTXH còn hạn
chế. Nhiều gia đình có người thân là NCT đang được nuôi dưỡng ở
Trung tâm có tâm lý ỉ lại, chưa hợp tác với Trung tâm để thực hiện
các hoạt động chăm sóc, can thiệp, trợ giúp NCT khi gặp vấn đề khó
khăn trong cuộc sống.
Thứ ba, Đội ngũ cán bộ, viên chức làm nhiệm vụ CTXH ở
Trung tâm còn thiếu, chưa có kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ,

chế.
Quá trình lão hóa của NCT dẫn đến sự suy giảm về sức khỏe,
thị lực, thính giác, phần lớn NCT là người cô đơn không nơi nương
tựa, ít được học hành nên trình độ nhận thức của NCT hạn chế.

16


Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TẠI
TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM
3.1. Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động CTXH đối với
NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam
3.1.1. Về nguồn nhân lực
Trung tâm phải tiếp tục kiện toàn về tổ chức, bộ máy và hoạt
động của đơn vị theo hướng bổ sung thêm biên chế cho các vị trí ở
Phòng CTXH, Phòng y tế, tuyển dụng thêm cán bộ được đào tạo về
các chuyên ngành: y tế (bác sĩ, điều dưỡng, lão khoa), CTXH, tâm lý
học... Trung tâm cũng phải tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng
nâng cao kiến thức, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ
NVXH hiện có; đào tạo, bồi dưỡng thêm chuyên môn, nghiệp vụ về
CTXH cho đội ngũ cán bộ không có chuyên môn về CTXH để
chuyển đổi sang làm CTXH, kể cả các cấp quản lý.
3.1.2. Về chế độ, chính sách đối với NCT đang được chăm
sóc, nuôi dưỡng ở Trung tâm
Trung tâm cần tham mưu cho Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành định mức tiền ăn, tiền
thuốc cao hơn định mức hiện nay để đáp ứng tốt các nhu cầu, yêu cầu
chăm sóc NCT.


18


KẾT LUẬN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “CTXH đối với NCT từ
thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam” và sử dụng phương pháp
“CTXH cá nhân đối với NCT” học viên rút ra một số kết luận sau:
Mô hình, phương pháp hoạt động của CTXH cá nhân thực sự
phù hợp và cần thiết cho việc trợ giúp NCT trong Trung tâm CTXH
tỉnh Hà Nam.
Học viên thực hành CTXH cá nhân với NCT với các bước hoạt
động chuyên môn, nghiệp vụ nhằm hỗ trợ NCT tăng cường năng lực
tự giải quyết vấn đề với một tiến trình gồm các bước: Xác định vấn
đề; thu thập thông tin; chẩn đoán, đánh giá vấn đề; xây dựng kế
hoạch trị liệu; thực hiện kế hoạch trị liệu; cuối cùng là lượng giá quá
trình trị liệu.
Qua nghiên cứu thực trạng CTXH đối với NCT tại Trung tâm
CTXH chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về dịch vụ CTXH tại đơn vị
này. Từ thực trạng và nhu cầu của NCT, học viên đã đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXH đối với NCT từ thực tiễn
Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam để từng bước phát triển nghề CTXH
thành một nghề chuyên nghiệp, góp phần đắc lực vào đảm bảo công
tác an sinh xã hội và sự phát triển của đất nước./.

19


20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status