VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN HUY
QUẢN LÝ TRƢỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN HUY
QUẢN LÝ TRƢỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. NGUYỄN HỮU CHÍ
QUẢNG NINH .......................................................................................................... 34
2.1. Thực trạng về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu ................................ 34
2.2. Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ
côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh .................................... 44
2.3. Những kết quả đạt được của hoạt động quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ
côi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ................................................................................ 53
2.4. Những hạn chế trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi của Trung tâm
Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh ................................................................................ 56
Kết luận chương 2 ....................................................................................................... 59
CHƢƠNG 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
QUẢN LÝ TRƢỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH ............................... 61
3.1. Quan điểm chỉ đạo ............................................................................................... 61
3.2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động quản lý trường hợp
đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh ....... 64
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 73
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng,
biểu
Nội dung
Trang
2.1
2.6
Tỷ lệ trẻ em mồ côi được quản lý trường hợp theo các năm
45
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xã hội là một nghề mới ở Việt Nam, được ra đời theo Quyết định số
32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát
triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (sau đây gọi tắt là Đề án 32). Sau
khi Đề án 32 được phê duyệt, các hoạt động công tác xã hội đã được các cơ quan và
các tổ chức xã hội quan tâm thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, điều đó đã
góp một phần hỗ trợ quan trọng cho các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương giải
quyết khó khăn và hòa nhập với cuộc sống của cộng đồng. Trong các hoạt động
công tác xã hội đó thì công tác hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng như hỗ trợ
trẻ em mồ côi luôn được quan tâm, đặt lên hàng đầu.
Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được các cơ quan
ban ngành, các tổ chức quần chúng và cộng đồng thực hiện với nhiều hoạt động, đã
góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt nói chung và nhóm trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi nói riêng.
Hiện nay, tỷ lệ trẻ em mồ côi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là 881 trẻ, chiếm
30% trong cơ cấu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Trong số đó có 52 trẻ em mồ côi
(chiếm 5%) trong cơ cấu trẻ em mồ côi đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo
trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Như vậy phần lớn các em sống tại cộng đồng,
cùng với đó bản thân các em gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống như không
đảm bảo được các quyền cơ bản của trẻ em cũng như bản thân các em gặp phải rất
nhiều các vấn đề về tâm sinh lý và đặc biệt là gặp phải các vấn đề xã hội như vi
của cả nhân loại trong đó có Việt Nam. Nhận thức được tầm ảnh hưởng sâu sắc của
vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em tới sự ổn định và phát triển xã hội, các nhà
khoa học, các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều cuộc khảo
sát, đánh giá, đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
Trong thời gian gần đây có 02 tài liệu đề cập đến tình hình, nguyên nhân, cũng
như đánh giá các hoạt động mô hình hỗ trợ, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam. Đó là: “Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn
2011 - 2015” do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề xuất với Chính phủ và Báo
cáo “Tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010” của UNICEF.
2
“Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015” cũng đã chỉ ra
những nỗ lực của địa phương trong việc triển khai thí điểm các hoạt động cung cấp
dịch vụ bảo vệ trẻ em theo 3 cấp độ: cấp độ I là phòng ngừa; cấp độ II là phát hiện,
can thiệp sớm để loại bỏ nguy cơ; cấp độ III là trợ giúp, phục hồi hòa nhập cộng
đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng cũng
được nhiều địa phương quan tâm. Việc tổ chức cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em cũng
rất chú trọng tới việc “kết nối dịch vụ bảo vệ trẻ em liên tục” nhằm đáp ứng nhu cầu
cấp bách và bảo đảm an toàn của trẻ em. Các hoạt động tư vấn, vận động, giáo dục
đến tận gia đình, cộng đồng; tư vấn tại Trung tâm Công tác xã hội, thực hiện quy
trình “quản lý trường hợp có nguy cơ cao” tại cộng đồng đã được triển khai thí điểm
ở các địa phương, góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu các nguy cơ dẫn đến trẻ
em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, nguy cơ thất học, bỏ học, nguy cơ lang thang, lao
động kiếm sống [5, tr. 8].
Báo cáo “Tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010” của UNICEF đã thừa
nhận “Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan
trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động chăm sóc dựa vào cộng đồng cho trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ mồ côi và bị bỏ rơi. Việt Nam đã đưa vào thực
thi các chính sách quốc gia nhằm khuyến khích và hỗ trợ các gia đình” [25, tr. 214].
chưa được đề cập đến.
Mặc dù vậy, những tài liệu, nghiên cứu đã được công bố nói trên luôn là
những tài liệu quan trọng để em đi sâu nghiên cứu và thực hiện nghiên cứu “Quản
lý trường hợp với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh
Quảng Ninh”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nghiên cứu công tác xã hội trong hoạt động quản lý trường hợp trẻ em mồ
côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh, từ đó có những đề xuất
các giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động này đối với nhóm trẻ em mồ côi
nhằm đưa ra những cách thức tổ chức thực hiện có hiệu quả nhất để thực hiện tốt
công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em.
4
3.2. Nhiệm vụ
Phân tích, đánh giá làm sáng tỏ thực trạng trẻ em mồ côi tại tỉnh Quảng
Ninh, thực trạng các dịch vụ được cung cấp trong hoạt động quản lý trường hợp đối
với trẻ em mồ côi của Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh.
Đánh giá kết quả của hoạt động công tác xã hội trong quản lý trường hợp đối
với trẻ em mồ côi tại tỉnh Quảng Ninh;
Chỉ ra những tồn tại, hạn chế, những thiếu sót, bất cập của hoạt động, đồng
thời chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót đó;
Đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt
động công tác xã hội trong quản lý trường hợp đối với nhóm trẻ em mồ côi từ thực
tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh.
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016.
Không gian nghiên cứu: Tỉnh Quảng Ninh.
thứ cấp là chủ yếu:
Phương pháp phỏng vấn: Bao gồm phỏng vấn đối tượng/người nuôi dưỡng
đối tượng được đưa vào diện quản lý trường hợp và phỏng vấn nhân viên quản lý
trường hợp.
Phương pháp quan sát: Quan sát các biểu hiện, các hoạt động của trẻ em mồ
côi; Quan sát hoạt động can thiệp, trợ giúp của nhân viên quản lý trường hợp đối
với trẻ em mồ côi của Trung tâm Công tác xã hội.
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Trên cơ sở các kế hoạch triển khai
thực hiện cũng như các báo cáo kết quả thực hiện hoạt động quản lý trường hợp đối
với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh,
trên cơ sở báo cáo công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em của Sở Lao động Thương binh
và Xã hội tỉnh Quảng Ninh, đồng thời trong thực tiễn khi triển khai nhiệm vụ tại
Trung tâm là những cơ sở quan trọng giúp em thực hiện nghiên cứu này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, nghiên cứu làm rõ thêm về phương pháp trợ giúp trẻ em mồ
côi dễ bị tổn thương dưới cách tiếp cận công tác xã hội trong việc quản lý trường
hợp.
6
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức của các cấp
các ngành và toàn xã hội về vai trò của nghề công tác xã hội, các nhân viên công tác
xã hội, cũng như vai trò của dịch vụ công tác xã hội trong hoạt động quản lý trường
hợp với trẻ em mồ côi nói riêng. Những phân tích và đề xuất của nghiên cứu sẽ làm
cơ sở cho việc hoạch định cơ chế chính sách và xây dựng các chương trình, kế
hoạch, đề án, chiến lược bảo vệ trẻ em, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội chuyên
nghiệp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em mồ côi tại tỉnh Quảng Ninh trong
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; đồng thời xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ công
tác xã hội từ tỉnh đến cơ sở để có thể đáp ứng nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ, góp
phần thực hiện tốt nhất các quyền cơ bản của trẻ.
những điểm chung và thống nhất là căn cứ vào tuổi đời để xác định số lượng trẻ em.
Quốc tế đã đưa ra khái niệm chung là: “trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ
khi lập pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn”. Khái niệm này đã lấy tuổi
đời để định nghĩa trẻ em và lấy mốc là dưới 18 tuổi. Khái niệm này cũng được mở rộng
cho các quốc gia có thể quy định mốc tuổi dưới 18.
Ở Việt Nam xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau của các khoa học cũng
như từ bản chất chính trị - xã hội và thực tiễn truyền thống văn hóa, khả năng nguồn
lực của Nhà nước mà đưa ra khái niệm cụ thể về trẻ em. Điển hình ngành khoa học
lao động đã căn cứ tâm sinh lý của con người để xác định những người đủ 15 tuổi
trở lên để xếp vào lực lượng lao động nhưng vẫn khuyến khích các em độ tuổi từ
15-18 đến trường. Tiếp cận theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt
Nam năm 2004, trẻ em là người dưới 16 tuổi [11, tr. 1]. Tiếp cận khía cạnh pháp
luật có qui định thêm tuổi vị thành niên 16-18 tuổi.
Như vậy, khái niệm trẻ em có thể được hiểu là: Trẻ em là những người dưới
16 tuổi, người từ 16 tuổi đến 18 tuổi coi là vị thành niên và trong một số trường hợp
như làm trái pháp luật, nghiện ma túy, mại dâm và cũng được coi như trẻ em và có
biện pháp giải quyết đặc thù riêng.
Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
8
Trong quá trình vận động và phát triển xã hội luôn tồn tại một bộ phận trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ
em khuyết tật, bên cạnh đó cũng có nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chỉ tồn tại
và phát triển trong thời kỳ nhất định. Ở nước ta trong số 10 loại đối tượng trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt thì có loại tồn tại từ rất lâu như trẻ em mồ côi không nơi nương
tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, song cũng có loại mới xuất hiện và đề cập
tới vào những năm cuối thập kỷ 80 cho đến nay như trẻ em phải làm việc xa gia
đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma túy…Nếu
phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội nước ta thì quá trình phát sinh đó là do mặt trái
Trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng đang phải chịu những tác động
mạnh mẽ bởi rất nhiều yếu tố tiêu cực của môi trường xung quanh, điều đó có thể
dẫn đến những vấn đề nguy hại với tâm lý và sự hình thành nhân cách của trẻ.
Chúng ta biết rằng, ở trẻ em, quá trình xã hội hóa diễn ra mạnh mẽ và liên tục.
Chính quá trình xã hội hóa này hình thành nên nhân cách của trẻ. Trong quá trình xã
hội hóa đó, trẻ tương tác với những cá nhân khác, nhóm khác, chịu ảnh hưởng của
những hệ thống khác nhau. Nhận thức và hành vi của trẻ chi phối lẫn nhau trong
mối quan hệ biện chứng. Cả nhận thức và hành vi của trẻ đều nằm trong phạm vi tác
động của môi trường xung quanh, của sự tương tác xã hội trẻ tiếp xúc hằng ngày.
Cũng chính từ đó, trẻ có thể hình thành những nhận thức sai lầm về bản thân qua
quá trình xã hội hóa, hoặc hệ thống giáo dục gây sức ép quá lớn tới trẻ dễ khiến trẻ
khủng hoảng tâm lý. Bên cạnh đó, trẻ còn phải đối mặt với nhiều sức ép, ảnh hưởng
tiêu cực của hoàn cảnh, các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy, tình trạng lang
thang, lạm dụng trẻ em... Tất cả những điều này khiến cho quá trình xã hội hóa của
trẻ bị đảo lộn theo hướng không mong đợi, dễ làm méo mó nhận thức, hành vi và
nhân cách của trẻ. Hệ quả của những vấn đề này để lại trong tâm lý của trẻ rất sâu
sắc và có tính ảnh hưởng lâu dài, nghiêm trọng.
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là nhóm trẻ không được sống và lớn
lên trong điều kiện bình thường như các trẻ em khác. Các em phải trải qua, phải
chịu đựng và phải đối phó với những biến cố đặc biệt xảy ra trong giai đoạn trẻ thơ
của mình. Những biến cố này tác động không nhỏ đến cuộc sống, tâm sinh lý và sự
10
trưởng thành của các em. Ngoài các đặc điểm tâm lý chung như đã nêu trên thì trẻ
em mồ côi có những đặc điểm tâm lý riêng mang tính đặc thù như:
Khó diễn tả cảm xúc bằng lời: Có thể do trẻ bị choáng ngợp bởi chính tâm
trạng của mình và muốn đè nén những tâm trạng đó hoặc trẻ chưa bao giờ được
khuyến khích để tự nói về mình và không có đủ lời để diễn tả tâm trạng.
đủ cha mẹ đẻ, anh chị em ruột luôn luôn là khao khát của các em;
Nhu cầu được giải trí vui chơi (nhu cầu phát triển), học tập, thông qua những
hoạt động này đưa trẻ được hòa mình vào xã hội tự khẳng định mình;
Nhu cầu được tôn trọng, trẻ luôn đòi hỏi nhu cầu này từ người lớn, ở bạn bè
và ở cha mẹ. Sự tôn trọng này sẽ làm tăng sự tự tin, nghị lực của trẻ;
Nhu cầu cao nhất của trẻ là tự khẳng định mình, chứng minh rằng mình có
năng lực, mình có thể làm được mọi việc.
Nhu cầu đặc thù:
Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi rất cần có một môi
trường, người chăm sóc tốt, yêu thương gắn bó để trẻ vượt qua được những khó
khăn, mặc cảm của chính mình; trẻ cần có kỹ năng, kiến thức để tự chăm sóc, bảo
vệ, cần có đủ dinh dưỡng để phát triển bình thường như những trẻ em khác, được
học hành, tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí và các hoạt động xã hội khác để
hoà nhập với bạn bè và cộng đồng. Người chăm sóc trẻ cần được hỗ trợ để có kiến
thức, kỹ năng nuôi dạy trẻ, giúp trẻ phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần.Trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi đến tuổi trưởng thành cần được
định hướng nghề nghiệp, được hỗ trợ học nghề, tạo việc làm để tự lập.
1.2. Lý luận về quản lý trƣờng hợp đối với trẻ em mồ côi
1.2.1. Một số khái niệm: Khái niệm quản lý trường hợp, quản lý trường hợp đối
với trẻ em mồ côi
Khái niệm quản lý trường hợp
Quản lý trường hợp (tiếng Anh là Case Management) còn được gọi là quản
lý ca. Ở một số nước, quản lý trường hợp được sử dụng trong các lĩnh vực cung cấp
dịch vụ an sinh cho con người (quản lý trường hợp trong y tế nhằm chăm sóc sức
khỏe cho bệnh nhân; quản lý trường hợp với người nghiện ma túy, người nhiễm
HIV, v.v.) và cả trong lĩnh vực luật pháp (luật sư tư vấn luật cho các khách hàng).
12
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý trường hợp. Về cơ bản có thể hiểu quản
với trẻ em mồ côi
Ngoài những nguyên tắc tổng quát trong công tác xã hội như tôn trọng,
không phán xét, bí mật, thu hút sự tham gia, dành quyền tự quyết cho đối tượng.
Trong quản lý trường hợp đối với trẻ mồ côi nhấn mạnh một số nguyên tắc đặc
trưng sau:
Dịch vụ toàn diện
Nguyên tắc này đảm bảo rằng trẻ em mồ côi sẽ được nhận đầy đủ các dịch
vụ để đáp ứng nhu cầu của mình. Mỗi trẻ em mồ côi trong quản lý trường hợp
thường gặp nhiều vấn đề. Để giải quyết được triệt để các khó khăn, hỗ trợ trẻ phục
hồi và phát triển toàn diện, trẻ cần được đáp ứng nhiều nhu cầu. Ví dụ khi quản lý
trường hợp một trẻ mồ côi bị khuyết tật do tai nạn thương tích, các dịch vụ cần cung
cấp cho trẻ thường là: Khám và điều trị bệnh tật, chăm sóc sinh hoạt hàng ngày, hỗ
trợ phương tiện đi lại hoặc hỗ trợ giáo dục và hỗ trợ tâm lý cho trẻ… Ngoài ra các
dịch vụ hỗ trợ gia đình để tạo ra môi trường an toàn cho trẻ cũng cần phải được
quan tâm. Bỏ qua việc đáp ứng một nhu cầu bất kỳ nào trong kế hoạch trợ giúp này
sẽ có thể tác động đến kết quả trợ giúp của các dịch vụ khác. Ví dụ như dịch vụ hỗ
trợ tâm lý không được quan tâm tới, tâm lý khủng hoảng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe
thể chất, thậm chí có thể dẫn đến các hành vi gây tổn hại bản thân của trẻ.
Dịch vụ liên tục
Cung cấp dịch vụ liên tục là nhấn mạnh đến dịch vụ không bị gián đoạn
trong kế hoạch đáp ứng nhu cầu cho trẻ em mồ côi. Mục tiêu của dịch vụ liên tục là
cung cấp đầy đủ cho trẻ những dịch vụ giúp trẻ/người nuôi dưỡng ổn định cuộc
sống và có khả năng quản lý tốt cuộc sống của mình. Không vì một lý do khách
quan hay chủ quan nào đó mà nhân viên công tác xã hội thực hiện quản lý trường
hợp cho phép mình dừng cung cấp dịch vụ khi thấy dịch vụ đó vẫn cần thiết cho trẻ.
Dịch vụ liên tục sẽ hỗ trợ trẻ phục hồi ổn định và tiến tới tự quản lý cuộc sống của
mình bằng năng lực khai thác tiềm năng bản thân và các nguồn lực từ các mối quan
hệ của trẻ và gia đình/người nuôi dưỡng trẻ trong hệ thống gia đình mở rộng cũng
14
15
trình độ chuyên môn của bản thân có đáp ứng yêu cầu của công việc được giao (tức
là cần nhận biết được trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn của mình tới đâu).
Khi gặp trường hợp quá phức tạp và vượt quá giới hạn khả năng cá nhân thì nhân
viên quản lý trường hợp phải biết chuyển giao trường hợp đang thụ lý cho nhân
viên quản lý trường hợp khác có trình độ chuyên môn cũng như có điều kiện phù
hợp hơn để giúp đỡ. Tự nhận thức về bản thân là một trong những nguyên tắc
không thể thiếu được đối với nhân viên quản lý trường hợp đối với các đối tượng.
Nó giúp nhân viên quản lý trường hợp biết giới hạn về quyền lực của mình và có ý
thức hoàn thiện bản thân để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao phó. Đồng thời việc
nhận thức về bản thân nhân viên quản lý trường hợp còn đảm bảo cho lợi ích cũng
như quyền lợi của thân chủ trong trường hợp vấn đề của trẻ vượt quá khả năng của
nhân viên quản lý trường hợp và cần chuyển tuyến. Việc ý thức được yếu tố này
giúp cho nhân viên quản lý trường hợp trung thực trong công việc, trung thực với
khả năng của bản thân.
Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp
Nhân viên quản lý trường hợp cần có phẩm chất đạo đức, tác phong nghề
nghiệp, những hành vi thể hiện mối quan hệ nghề nghiệp như: tôn trọng quan điểm
giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp; không lợi dụng cương vị công tác của mình để đòi
hỏi sự hàm ơn của khách hàng, tuyệt đối không để có quan hệ nam nữ trong khi
thực hiện sự trợ giúp. Mối quan hệ giữa nhân viên quản lý trường hợp và trẻ/gia
đình, người nuôi dưỡng trẻ cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song
khách quan và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn. Nguyên tắc này giúp cho nhân
viên quản lý trường hợp đảm bảo tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ, đảm bảo sự công bằng trong giúp đỡ.
Trao quyền cho đối tượng:
Trao quyền trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi là việc tôn trọng
sự khác biệt của mỗi trẻ dành quyền tự quyết cho trẻ hoặc người chăm sóc, nuôi
Thứ hai, nhân viên công tác xã hội khi thực hiện quản lý trường hợp cần có
niềm đam mê nghề nghiệp, sự cam kết với nghề nghiệp. Nếu không có yếu tố phẩm
chất này họ sẽ dễ dàng từ bỏ nghề nghiệp bởi tính chất công việc trợ giúp, đặc biệt là
trợ giúp trẻ em mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì luôn có nhiều trở ngại và
17
phức tạp. Sự tâm huyết nghề nghiệp giúp cho họ có niềm tin, có ý chí để vượt qua
những giai đoạn khó khăn trong quá trình giúp đỡ đối tượng.
Trung thực là một yếu tố đạo đức quan trọng mà nhân viên công tác xã hội
khi thực hiện nhiệm vụ quản lý trường hợp cần có. Đây là một phẩm chất nhân cách
không thể thiếu được ở người tham gia vào hoạt động trợ giúp;
Thái độ cởi mở cũng được xem như một yếu tố nhân cách cần có đối với
nhân viên công tác xã hội khi thực hiện nhiệm vụ quản lý trường hợp bởi đó là yếu
tố tiên quyết tạo nên niềm tin và sự chia sẻ từ phía trẻ và người chăm sóc, nuôi
dưỡng đối với nhân viên quản lý trường hợp;
Nhân viên công tác xã hội khi thực hiện quản lý trường hợp cần có tính kiên
trì, nhẫn nại. Trong hoạt động quản lý trường hợp, không phải trường hợp quản lý
nào cũng thành công. Không ít trường hợp sự thất bại của trẻ hoặc người chăm sóc,
nuôi dưỡng cũng bị xem như sự thất bại của chính nhân viên quản lý trường hợp;
Nhân viên công tác xã hội khi quản lý trường hợp cần có lòng vị tha, sự rộng
lượng. Làm việc với những đối tượng là trẻ em mồ côi có hành vi lệch chuẩn nếu
nhân viên xã hội không có sự độ lượng thì dễ có thành kiến làm xuất hiện cảm xúc
tiêu cực trong quan hệ trợ giúp. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới hiệu quả của quá
trình giúp đỡ.
Để đảm bảo cho sự thành công khi tiếp xúc, trợ giúp cho đối tượng là trẻ em
mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì nhân viên công tác xã hội cũng phải đảm
bảo các nguyên tắc sau: Dùng tình cảm chân thành; không thương hại, né tránh;
không khinh ghét, thị uy; tôn trọng tự do và nhu cầu của trẻ; chú ý điểm mạnh của
trẻ; luôn luôn thành thật; không hứa những việc không thể thực hiện được; tuyệt đối
viên quản lý trường hợp sử dụng các kỹ năng đặc thù nhưng trong quản lý trường
hợp với trẻ mồ côi thì cần chú trọng đến một số kỹ năng như:
Kỹ năng thiết lập mối quan hệ: Kỹ năng này có vai trò hết sức quan trọng,
bởi nó là yếu tố quyết định đến quá trình thành công hay thất bại của trường hợp đó,
có tạo lập được mối quan hệ tố thì trẻ/gia đình, người nuôi dưỡng trẻ mới tin tưởng
và hợp tác với nhân viên quản lý trường hợp.
Kỹ năng đặt câu hỏi và kỹ năng lắng nghe tích cực: Đây là kỹ năng thường
được sử dụng để thu thập thông tin và xác định vấn đề của trẻ và gia đình gặp phải.
19
Kỹ năng vận động, kết nối, điều phối nguồn lực hỗ trợ, đây là những kỹ năng
sử dụng trong quá trình can thiệp hỗ trợ, để thực hiện được kỹ năng này, nhân viên
quản lý trường hợp phải có hiểu biết và có cách thức kết nối với các cá nhân, tổ
chức cung cấp các nguồn lực hỗ trợ một cách phù hợp.
1.3. Nội dung hoạt động công tác xã hội quản lý trƣờng hợp đối với trẻ em mồ
côi
Cho đến nay, các văn bản quy phạm pháp luật thì có hai thông tư quy định về
các nội dung trong quản lý trường hợp đó là Thông tư 23/2010/TT-LĐTBXH ngày
16/8/2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Quy định quy trình can thiệp,
trợ giúp trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục và Thông tư 01/2015/TT-BLĐTBXH
ngày 06/01/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Hướng dẫn về quản lý
trường hợp với người khuyết tật.
Bên cạnh đó cũng không có nhiều các tài liệu nói về các nội dung công tác
xã hội trong quản lý trường hợp. Trong các tài liệu đó, các nội dung công tác xã hội
trong quản lý trường hợp có thể phân chia thành 5, 6 hoặc 7 bước tùy theo các tác
giả khác nhau, có những tác giả đã hợp nhất một vài bước vào thành một, nhưng
theo em thì cho dù là 5 bước hay 7 bước cũng đều cần phải đảm bảo tính xuyên suốt
từ quá trình thu thập thông tin đến kết thúc quá trình quản lý trường hợp. Trong đề
tài này em đưa ra 5 bước để trình bày về các nội dung công tác xã hội trong quản lý