TIỂU LUẬN TRIẾT học tư TƯỞNG về vấn đề CHUYỂN hóa TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY vật - Pdf 39

TƯ TƯỞNG VỀ VẤN ĐỀ CHUYỂN HÓA TRONG
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Phép biện chứng là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất về tự
nhiên - xã hội và tư duy. Phép biện chứng ra đời và phát triển từ khi triết học ra
đời, đỉnh cao của nó là phép biện chứng mácxít. Phép biện chứng mácxít dựa trên
truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, nó vạch ra những đặc trưng
chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến của
sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy. Nó là chìa khoá
giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới. Nắm vững những nguyên tắc,
phương pháp luận của phép biện chứng duy vật không những là một nhân tố cơ
bản để hình thành thế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện tiên quyết cho sự
sáng tạo của chính đảng cách mạng. Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cách mạng cho
ta thấy, khi nào chúng ta nắm vững lý luận phép biện chứng, biết vận dụng các
nguyên tắc, phương pháp của nó một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ
thể, biết “ ứng bất biến, dị vạn biến” - như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói - thì hiệu
quả cải tạo tự nhiên, biến đổi xã hội được tăng cường. Nếu chủ quan duy ý chí,
siêu hình sẽ dẫn đến sai lầm, gây tổn thất cho cách mạng và quá trình phát triển xã
hội. Vì vậy, nghiên cứu sự hình thành và phát triển phép biện chứng trong lịch sử
là hết sức cần thiết. Không những nắm vững phép biện chứng duy vật, từ đó thấu
suốt những nguyên tắc phương luận của nó, mà còn giúp chúng ta nắm được bức
tranh toàn cảnh, hiểu được nguồn gốc của sự hình thành phát triển của nó. Lịch
sử đã tồn tại hai phương pháp đối lập nhau trong việc xem xét và cải tạo thế
giới. Đó là, phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình. Phương pháp
siêu hình xem xét các sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới một cách cô
lập tách rời, không có mối liên hệ ràng buộc tác động lẫn nhau; và nếu có thì
chỉ là sự liên hệ giản đơn, hời hợt, bên ngoài. Phương pháp biện chứng xem xét
các sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ ràng buộc và tác động ảnh hưởng lẫn
nhau, đó chính là biện chứng khách quan của thế giới. Biện chứng khách quan
này được con người phản ánh gọi là biện chứng chủ quan (tư duy biện chứng).


sc ph bin. Phộp bin chng i lp vi phộp siờu hỡnh ch nú khng nh
mi s vt, hin tng luụn vn ng v bin i. Khỏi nim chuyn hoỏ õy
dựng ch s bin i ca s vt ny sang s vt khỏc, ca hin tng ny thnh
1 Mác - Ăngghen: toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2004, t20, tr.38.
2 Sđd, tập 20, tr. 694.


3

3

hin tng khỏc. iu ny nh lut chuyn hoỏ v bo ton nng lng ó chng
minh. Trong gii t nhiờn cú s chuyn hoỏ t vụ c thnh hu c, t ng vt
bc thp n ng vt bc cao .v.v... Khi chng minh s vn ng phỏt trin ca
xó hi loi ngi, ngghen ó khng nh v vai trũ ca lao ng trong s
chuyn hoỏ t vn thnh ngi. V vn ny Lờnin cho rng: Trong s thay
th, s ph thuc ln nhau ca tt c cỏc khỏi nim, trong tớnh ng nht ca tt
c cỏc mt i lp ca chỳng, trong nhng chuyn hoỏ ca nhng khỏi ca mt
khỏi nim ny sang mt khỏi nim khỏc, trong s thay th, s vn ng vnh vin
ca nhng khỏi nim, Hờghen ó oỏn c mt cỏch ti tỡnh chớnh mi quan h
nh vy, ca s vt, ca gii t nhiờns chuyn hoỏ ca nhng khỏi nim t cỏi
ny sang cỏi kia. S chuyn hoỏ ca tt c mi khỏi nim khụng tr khỏi nim
no1.Nh vy cú th khng nh s chuyn hoỏ l vụ cựng, vụ tn din ra
trong mi iu kin hon cnh, mi lnh vc ca th gii. õy ch yu tp trung
bn n s chuyn hoỏ ca cỏc nguyờn lý, quy lut, cp phm trự ca phộp bin
chng. Trong thc tin, ta ó vn dng nguyờn lý v s chuyn húa vo rt
nhiu trng hp khỏc nhau, mi thi im lch s, mi tỡnh hung, u cn
c vo tỡnh hỡnh thc t, xem xột, gii quyt s chuyn húa mt cỏch hi hũa,
linh hot v em li hiu qu cao. Khi mõu thun c bn c gii quyt, mt
mt i lp mt i thỡ ng thi mt kia cng khụng cũn na. S vt c mt i,

ln nhau1.
* S chuyn hoỏ cỏc mt i lp trong cỏc quy lut ca ch ngha duy
vt bin chng
Vi t cỏch l khoa hc trit hc, phộp bin chng duy vt nghiờn cu
nhng quy lut chung nht tỏc ng n mi s vt, hin tng, mi quỏ trỡnh,
ca th gii khỏch quan. Nhng quy lut ny phn ỏnh quỏ trỡnh vn ng, bin
i v phỏt trin ca c gii t nhiờn, xó hi v t duy. Trong ú, quy lut mõu
thun (thng nht v u tranh ca cỏc mt i lp) lm sỏng t ngun gc v
ng lc ca mi s vn ng, bin i v phỏt trin; quy lut lng - cht
(chuyn hoỏ t nhng thay i v lng thnh nhng thay i v cht v ngc
li) phn ỏnh phng thc v trng thỏi ca quỏ trỡnh vn ng, bin i v phỏt
trin; quy lut ph nh ca ph nh ch rừ khuynh hng ca quỏ trỡnh vn
ng, bin i v phỏt trin ca th gii khỏch quan.
Quy lut thng nht v u tranh ca cỏc mt i lp
Mõu thun l mt trong nhng vn trung tõm ca trit hc. Khụng phi
ngu nhiờn m ngay t thi c i, Denon (490 - 430 trc cụng nguyờn) ó a
11 Lê nin toàn tập, tập 29 nhà xuất bản tiến bộ Mát-xcơ-va, 1981, tr. 116.


5

5

ra những Aporia nổi tiếng: “Achille và con rùa”, “Mũi tên bay”. Sau này Cantơ
lại day dứt trước những Antinômi (nghịch lý) của lý trí. Còn nhà tư tưởng bách
khoa Hêghen đã xây dựng nên phép biện chứng của mâu thuẫn một cách tài tình
trong “thế giới ý niệm”. Triết học mácxít, vấn đề mâu thuẫn đã trở thành cội
nguồn sinh động của toàn bộ phép biện chứng. Lênin viết: “Có thể định nghĩa vắn
tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là
nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những

bất cứ cuộc đấu tranh nào cũng hướng tới phá vỡ sự thống nhất cũ để thiết lập sự
thống nhất mới cao hơn. Tuy nhiên suy đến cùng tất cả đều là sự chuyển hóa của
các mặt đối lập trong sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng. Trong mỗi cách
tiếp cận, khai thác khác nhau, trong những quy luật và phạm trù khác nhau…thì các
mặt đối lập có sự chuyển hóa khác nhau. Tư tưởng về mâu thuẫn biện chứng với
tính cách là quá trình thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập trong
một chỉnh thể được thể hiện rõ trong bộ “tư bản” của Mác. Trong khi phân tích
thuộc tính của hàng hoá Mác chỉ ra: Sản phẩm với tư cách là giá trị sử dụng mâu
thuẫn với chính bản thân mình với tính cách là giá trị. Ở chỗ khác, Mác đã vạch ra
mâu thuẫn của chính quá trình xuất hiện tư bản: Tư bản xuất hiện trong lĩnh vực
lưu thông và đồng thời lại ở ngoài lĩnh vực lưu thông. Đấu tranh của các mặt đối
lập biện chứng là quá trình các mặt đối lập liên hệ, tác động, bài trừ, phủ định lẫn
nhau, làm cho sự vật luôn vận động, biến đổi và phát triển.
Trong lĩnh vực quân sự, tồn tại một hệ thống các mâu thuẫn: mâu thuẫn
của chiến tranh; mâu thuẫn của đấu tranh vũ trang và mâu thuẫn của xây dựng
quân đội. Trong mâu thuẫn của các cuộc chiến tranh có mâu thuẫn cơ bản và
không cơ bản. Thực chất mâu thuẫn cơ bản của chiến tranh là các bên tham
chiến đều muốn đạt mục đích chính trị của mình bằng các phương thức đấu
tranh vũ trang. Do bản chất của chiến tranh là sự kế tục chính trị, cho nên mâu
thuẫn cơ bản của chiến tranh trước hết là do tính chất kinh tế - xã hội của nhà
nước quy định, nó xuất hiện dưới dạng khả năng ngay trong thời bình. Khi tiến
hành xây dựng quân đội phải chú ý đến tính đặc thù của hoạt động quân sự. Xây
dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt, trong đó xây dựng, giáo dục chính trị là
trọng tâm, chống quan điểm phi chính trị hoá quân đội của các thế lực thù địch.
Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại. (quy luật lượng - chất)
Là quy luật phản ánh cơ chế, cách thức của quá trình phát triển đi từ những
biến đổi dần dần về lượng đến giới hạn nhất định, vượt quá điểm nút, phá vỡ hạn độ,
sự vật thực hiện bước nhảy về chất làm cho sự vật trở thành chất mới với lượng mới.


trọng trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới là
quá trình mang tính cách mạng sâu sắc và triệt để trên tất cả các lĩnh vực của
1 S®d, tËp 29, tr. 133.
2 S®d, tËp 29, tr. 240.
3 C Mac vµ Ph¡ng ghen toµn t©p NXB CTQG H. 1999 tËp 4 trang 357


8

8

i sng xó hi. Quỏ trỡnh ú ũi hi chỳng ta phi kiờn trỡ tớch lu v lng,
chun b cho nhng bc nhy vt cc b trong tng lnh vc (kinh t, chớnh
tr, xó hi, vn hoỏ, tinh thn) tng bc tin n bc nhy vt ton b xõy dng thnh cụng ch ngha xó hi nc ta. Chỳ ý chng mi biu hin
bo th, trỡ tr, hu khuynh v bt k s núng vi ch quan duy ý chớ u
gõy tn tht cho cỏch mng, cn tr cụng cuc i mi ca t nc.
Quy lut ph nh ca ph nh
Quy lut ph nh ca ph nh ch ra khuynh hng phỏt trin ca s vt
hin tng. Ph nh bin chng l khỏch quan, t thõn, l quỏ trỡnh k tha cỏi
tớch cc t cỏi c, l mt khõu trong quỏ trỡnh dn ti s ra i ca cỏi mi cao hn,
tin b hn. Lờnin vit: S phỏt trin hỡnh nh din li nhng giai on ó qua,
nhng di mt hỡnh thc khỏc, mt trỡnh cao hn ph nh ca ph nh; s
phỏt trin cú th núi l theo ng trụn c ch khụng theo ng thng 1. Mi s
vt hin tng u bao hm trong mỡnh nhng mt i lp . S tỏc ng bin
chng gia cỏc mt i lp lm cho s vt vn ng, phỏt trin n mt trỡnh
nht nh, khi cú iu kin chỳng ph nh ln nhau lm cho s vt c mt
i,s vt mi ra i.
Lch s phỏt trin ca xó hi loi ngi ó chng minh rng, ch
cng sn nguyờn thu khụng cú giai cp, khụng cú búc lt. Nú ó b ph nh

chủ nghĩa tư bản, cho nên phải có quan điểm, hình thức, bước đi, sự kế thừa của
phủ định biện chứng.
Đại hội X của Đảng xác định: đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có
bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực
hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh; bảo
đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế. Đó là sự chuyển hóa của các mặt đối lập trong quy luật phủ
định của phủ định phù hợp với tình hình thực tiễn của cách mạng nước ta đã
được lịch sử lựa chọn.
Trong xây dựng quân đội cần tính đến những đặc điểm của phủ định biện
chứng. Trước hết, đó là sự phủ định của cái mới đối với cái cũ trên cơ sở vì lợi ích
của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, tốc độ và quy
mô của quá trình phủ định biện chứng trong xây dựng quân đội phụ thuộc trực


10

10

tiếp vào trình độ phát triển của sản xuất và khoa học công nghệ. Thứ ba, quá trình
phủ định biện chứng trong xây dựng quân đội dựa trên cơ sở sự nhận thức và tính
toán của các chủ thể về cuộc chiến tranh trong tương lai. Thứ tư, chu kỳ thay thế
cái cũ bằng cái mới của quá trình phủ định biện chứng trong xây dựng quân đội
ngày càng rút ngắn.
Như vậy, trong quá trình vận động của một mâu thuẫn sự chuyển hóa của
các mặt đối lập chỉ xảy ra với những điều kiện nhất định, chứ không phải lúc nào

Cặp phạm trù cái riêng, cái chung và cái đơn nhất
Theo quan niệm của phép biện chứng duy vật, nhận thức bắt đầu từ sự phản
ánh thế giới khách quan. Việc thực hiện sự chuyển hoá giữa cái chung, cái riêng
được Lênin nói đến “sự chuyển hoá từ cái riêng thành cái chung”. Người đã lấy ví
dụ về những mệnh đề đơn giản nhất như sau: “lá cây đều xanh; “Ivan là một con
người”, v.v…thì ngay ở đó người ta đã thấy có phép biện chứng rồi. Phép biện
chứng duy vật khẳng định, cái riêng, cái chung và cái đơn nhất tồn tại khách quan
và giữa chúng có mối liên hệ gắn bó với nhau.
Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, trong điều kiện nhất định
cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hoá cho nhau. Vì trong hiện thực cái mới
thường nảy sinh trong lòng cái cũ dưới dạng đơn nhất và lúc đầu không bao giờ
xuất hiện đầy đủ, nó phải trải qua quá trình đấu tranh gay gắt với cái cũ. Nhưng,
theo quy luật phát triển nhất định cái mới sẽ chiến thắng cái cũ và nó sẽ phát triển
thành cái chung phổ biến. Trái lại, cái cũ không phù hợp với điều kiện mới nên
mất dần vai trò của nó và trở thành cái đơn nhất. Sự chuyển hoá lẫn nhau giữa cái
đơn nhất và cái chung phản ánh quá trình phát triển của sự vật theo chu kỳ phủ
định biện chứng theo con đường “xoáy ốc” tiến lên phía trước. Do đó nếu không
nắm được những nguyên lý chung (lý luận) thì sẽ rơi vào hoạt động mù quáng.
Trong thực tiễn, con người cần chủ động nhạy bén phát hiện cái đơn nhất (cái
mới) và tạo điều kiện cho cái đơn nhất (cái mới) phát triển thành cái chung phổ
biến. Đồng thời, biến cái chung (đã lỗi thời lạc hậu) thành cái đơn nhất. Như vậy,
sự chuyển hoá giữa cái chung thành cái riêng và cái riêng thành cái chung trong
cặp phạm trù chung - riêng cũng thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa các mặt
đối lập. Đó là sự chuyển hoá liên tục không ngừng của thế giới khách quan.
Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả
Trong hiện thực, nguyên nhân và kết quả có mối liên hệ qua lại, quy định
lẫn nhau và trong điều kiện nhất định chúng có thể chuyển hoá lẫn nhau. Nguyên
nhân là cái sinh ra kết quả nên luôn có trước kết quả; khi kết quả xuất hiện nó tác



hợp tất cả những mặt, những yếu tố tạo nên sự vật. Hình thức là phương thức tồn
tại và phát triển của sự vật; là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa
các yếu tố của sự vật. Nội dung và hình thức cũng luôn có sự chuyển hoá lẫn
1 C.M¸c vµ Ph.¡ngghen, toµn tËp, tËp 20, Nxb, CTQG, Hµ Néi, 1994, tr.38.


13

13

nhau. Nhng khụng phi l ni dung tr thnh hỡnh thc, ngha l ni dung mt i
hỡnh thc ra i hay ngc li. Trong hin thc khỏch quan ni dung v hỡnh
thc l hai yu t cu thnh s vt. Tu theo tng mi liờn h m xỏc nh õu l
ni dung, õu l hỡnh thc. Lờnin ó vit: u tranh ca ni dung vi hỡnh thc
v ngc li. Vt b hỡnh thc, ci to ni dung1. õy cú s chuyn hoỏ ca
ni dung v hỡnh thc vi ý ngha l ni dung phỏt trin n no ú thỡ mõu
thun vi hỡnh thc c lỳc ny ó li thi, lc hu kỡm hóm s phỏt trin ca ni
dung, ni dung phỏt trin ũi hi phi b hỡnh thc c v thay bng hỡnh thc
mi phự hp vi nú. Nh vy, hỡnh thc c c thay bng hỡnh thc mi v ni
dung cng khụng cũn gi nguyờn nh c m nú tr thnh ni dung mi. S
chuyn húa c thc hin thụng qua s bin i khụng ngng ca ni dung, dn
n s thay i ca hỡnh thc cho phự hp vi ni dung mi.
Cp phm trự bn cht v hin tng
Khi cú c nhn thc tng i y v nhng mt, nhng mi liờn h
tt yu v nhng c tớnh riờng ca s vt, thỡ nhn thc ú vn cha phn ỏnh
y v s vt. nhn thc ỳng s vt, t cỏc hin tng phong phỳ, nhiu
v, phi tng hp cỏc hin tng nghiờn cu bn cht ca s vt. Bn cht l
tng hp tt c nhng mt, nhng mi liờn h tt nhiờn tng i n nh bờn
trong, quy nh s tn ti, vn ng v phỏt trin ca s vt. Hin tng l nhng
biu hin bn cht ca s vt ra bờn ngoi.

ra đúng như thế này hay thế khác. Cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên cũng có sự
chuyển hóa lẫn nhau. Sự chuyển hóa đó được biểu hiện theo hai nghĩa: Thứ nhất,
có cái là ngẫu nhiên trong mối liên hệ này, nhưng lại là cái tất nhiên trong mối
liên hệ khác. Thứ hai, có hiện tượng từ chỗ là cái ngẫu nhiên phát triển thành cái
tất nhiên và ngược lại. Sự chuyển hóa này cũng giống như sự chuyển hóa của cái
riêng và cái chung. Lênin đã viết: “ khoa học tự nhiên chỉ cho chúng ta …giới tự
nhiên khách quan với cùng những tính chất như vậy của nó, sự chuyển hóa từ cái
riêng thành cái chung, từ ngẫu nhiên thành tất yếu, những chuyển hoá, mối liên hệ
lẫn nhau của các mặt đối lập”2.
Cặp phạm trù khả năng và hiện thực
Xét sự chuyển hóa giữa khả năng và hiện thực, trong sự vận động phát
triển của các mặt đối lập đó thì sự chuyển hóa được vận động từ khả năng trở
thành hiện thực. Trong quá trình vận động của thế giới khách quan, cái cũ
mất đi, cái mới ra đời thay thế cái cũ. Cái mới bao giờ cũng ra đời từ trong
lòng cái cũ, lúc đầu nó chỉ xuất hiện dưới dạng khả năng, sau đó lớn lên trở
thành hiện thực. Khả năng và hiện thực luôn tồn tại trong mối quan hệ chặt
1 S® d, tËp 29, tr.268.
2 S® d, tËp 29, tr. 382.


15

15

chẽ với nhau, không tách rời nhau, luôn chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình
tồn tại và phát triển của sự vật. Hiện thực được chuẩn bị từ khả năng, còn khả
năng hướng tới hiện thực. Hiện thực này trong quá trình phát triển nội tại của
mình, lại sinh ra các khả năng mới, các khả năng mới ấy trong những điều
kiện thích hợp lại biến thành hiện thực mới, v.v. Khả năng trở thành hiện
thực, sự vật mới ra đời, trong bản thân nó lại bao hàm khả năng mới của sự

chủ, văn minh”




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status