Đề tài "Nâng cao hứng thú học tập môn Ngữ văn cho học sinh" - Pdf 39

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong lý luận giáo dục chung của con người, từ xưa cho đến nay, mối
quan hệ giữa con người với con người vẫn luôn là một đề tài khiến không ít các
nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm, bởi con người là tổng hòa của các mối quan
hệ xã hội và để thực hiện sứ mệnh thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội thì
con người phải thực hiện rất nhiều hoạt động trong đó có hoạt động giao lưu,
giao tiếp. Nhìn một cách toàn diện, để hoạt động giao lưu, giao tiếp của con
người có được hiệu quả cao thì mỗi người phải tự mình cố gắng vươn lên làm
chủ hoạt động giao lưu, giao tiếp của mình với người khác. Tuy nhiên hoạt
động đó muốn đi tới sự hoàn mỹ và toàn diện thì mỗi người phải biết tạo ra cho
mình một sự hứng thú khi tham gia trong tất cả các mặt hoạt động của đời sống,
bởi vì hứng thú có ý nghĩa rất lớn trong việc kích thích hoạt động đi tới hiệu
quả cao. Có rất nhiều loại hứng thú : hứng thú làm việc, hứng thú vui chơi,
hứng thú trong tình cảm, hứng thú trong học tập… Hứng thú trong học tập là
một trong những hứng thú rất quan trọng trong cuộc đời mỗi con người bởi
phần lớn tuổi trẻ của chúng ta là dành cho việc học tập. Có hứng thú trong học
tập thì kết quả học tập của mỗi người mới cao hơn, có hứng thú học tập sẽ có
tác động đến sự phát triển về mọi mặt.
Hiện nay trong hệ thống giáo dục, trong các nhà trường thì việc khơi gợi
hứng thú học tập nói chung cho học sinh đã và đang được quan tâm đáng kể.
Trong số các môn học thì môn Ngữ văn là môn học mang tính nhân văn khá
cao. Đây không chỉ là môn học có tính nghệ thuật, thẩm mỹ mà nó còn là bộ
môn phản ánh hiện thực cuộc sống một cách sinh động và chân thực nhất thông
qua ngôn ngữ. Đồng thời nó cũng là môn học có giá trị bồi dưỡng những tình

1


cảm cao đẹp của con người như: lòng yêu quê hương, đất nước, lòng tự tôn dân
tộc, tình yêu thương đồng loại…Và hơn thế nữa nó hình thành những kỹ năng

mê . Đồng thời các thầy cô phải giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, tìm
mọi cách không chỉ là phát huy tính tích cực mà còn khơi gợi được hứng thú
cho học sinh, phải làm cho học sinh tiếp cận tác phẩm văn chương nhìn từ góc
độ xã hội và truyền thống. Đó là một nghệ thuật khó khăn mà yêu cầu người
làm thầy dạy môn Ngữ văn phải làm cho được.
Như vậy có thể nhìn nhận lại vấn đề là việc tạo hứng thú học tập nói
chung và học tập môn Ngữ văn nói riêng là một đòi hỏi cần thiết của lý luận và
thực tiễn dạy học. Với những vấn đề trên, qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy
môn Ngữ văn, cùng với mong muốn trao đổi, đóng góp một chút kinh nghiệm
dạy học, tôi đã nghiên cứu và trình bày đề tài:
“Nâng cao hứng thú học tập môn Ngữ văn cho học sinh ở trường THCS”
Với đề tài này, dù không phải là một vấn đề mới mẻ nhưng tôi cũng hy
vọng góp thêm vào việc hình thành nên hứng thú học tập môn Ngữ văn trước
tình hình thay đổi của xã hội nói chung và nhu cầu học tập của học sinh nói
riêng trong giai đoạn hiện nay. Thực hiện đề tài này, tôi chủ yếu vẫn dựa trên
những kinh nghiệm cá nhân được đúc kết trong quá trình giảng dạy mà tôi đã áp
dụng trong những năm học vừa qua tại trường THCS Đông Phú, huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang và đã đem lại những kết quả tốt.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Thực hiện mục đích là đem tới cho học sinh hứng thú khi học tập môn
Ngữ văn, từ đó thấy được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để tìm ra
những điều kiện tốt nhất, đề ra những biện pháp hữu hiệu nhất giúp tất cả các
em học sinh tìm ra hứng thú học tập môn học này cho mình, nâng cao chất
lượng bộ môn nói riêng và thành tích học tập của các em nói chung. Đồng thời,

3


thông qua việc nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng sẽ mang đến những ý tưởng
tốt đẹp để bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em học sinh, để cho tâm hồn

- Phương pháp thống kê
- Phương pháp đối chứng.
- Phương pháp kiểm tra.
VI. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về các biện pháp nâng cao hứng thú học
tập môn Ngữ văn ở trường THCS với những nội dung chính:
+ Những biểu hiện của hứng thú học tập môn Ngữ văn.
+ Các biện pháp gây hứng thú cho học sinh.
+ Nghệ thuật lên lớp của giáo viên.
+ Lồng ghép một số hoạt động tổ chức các hoạt động dạy và học môn
Ngữ văn ở trường THCS.
VII. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này được thực hiện tại trường THCS Đông Phú, huyện Lục Nam,
tỉnh Bắc Giang từ năm học 2013-2014. Sau khi đề tài được hoàn thành, tôi đã
thông qua tổ chuyên môn và Ban giám hiệu nhà trường để xem xét và đóng góp
ý kiến từ đó điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường. Từ
năm học 2013-2014, đề tài của tôi đã được tổ chuyên môn triển khai đến toàn
thể giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn để áp dụng thực hiện. Qua hơn một năm
thực hiện, kết quả học tập môn Ngữ văn của các em học sinh trường THCS
Đông Phú, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã tăng lên đáng kể, đặc biệt các
em đã có hứng thú học tập môn học này.
VIII. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI:
* PHẦN I: MỞ ĐẦU.
* PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ.

5


Gồm 3 chương:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú và huy động sinh lực để cố
gắng thực hiện” và “Hứng thú là sự ham thích”.
Qua cách định nghĩa về khái niệm trên ta có thể thấy rằng: Hứng thú có
nghĩa là tâm trạng vui vẻ, thích thú, hào hứng của con người đối với một hoạt
động nào đó.
Như vậy có thể thấy rằng khi một người nào đó tìm được cho mình một
niềm say mê, một sự thích thú thì người ấy sẽ trở nên phấn chấn trong tâm trạng
và đương nhiên những việc làm của họ sẽ có hiệu quả cao hơn, dễ đi đến thành
công và có thể thành công nhanh hơn. Có thể dễ dàng hiểu được điều này đó
chính là hứng thú đã tạo ra động lực để thúc đẩy hoạt động của con người, nó đi
vào nhận thức của con người một cách tự nhiên, thấm sâu vào bên trong chứ
không phải chỉ dừng lại ở bên ngoài hời hợt, nó khiến cho con người phải chủ
động, tích cực tìm tòi và sáng tạo ra những tri thức mới hoặc sâu sắc hơn. Trong
mỗi một lĩnh vực khác nhau, hứng thú cuãng mang lại những tác dụng khác
nhau:
+ Trong đời sống hàng ngày:
- Hứng thú mang lại niềm vui, nó xóa đi những mệt nhọc, ưu tư hay đúng
hơn là những xúc cảm mang tính tiêu cực trong con người, nó ổn định tâm lý
con người thông qua việc duy trì những trạng thái tâm lý tỉnh táo của con
người.
- Hứng thú góp phần xác định và duy trì tâm lý, đặc biệt là ổn định trạng
thái tích cực trong con người, khiến con người chịu khó tìm tòi và sáng tạo.

7


- Hứng thú còn có một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và
phát triển nhân cách con người, nó làm cho khả năng hoạt động trí tuệ, thẩm mỹ
và các hoạt động khác cũng được gắn kết và phát triển một cách tích cực.
- Hứng thú trong cuộc sống cũng là cơ hội để con người gắn bó và gần

vất vả trong cuộc sống cũng như trong học tập để vươn lên đạt được những kết
quả tốt nhất trong học tập và trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện. Có được
nguồn động lực đó, các em sẽ tích cực, chủ động tìm và tiếp nhận tri thức trong
sự hào hứng mà không có một rào cản hay sự ép buộc nào.
Những biểu hiện của học sinh khi có được hứng thú trong học tập:
- Trong các giờ học, các em tích cực, hăng hái phát biểu xây dựng bài
thông qua việc trả lời các câu hỏi của thầy cô, đồng thời, khi câu trả lời của các
bạn trong lớp chưa đúng hoặc còn thiếu, các em sẽ chủ động phát biểu bổ sung
câu trả lời của bạn. Tóm lại, các em thích được phát biểu ý kiến của mình trước
lớp và trước những vấn đề mà bài học và thầy cô nêu ra.
- Các em thường xuyên chủ động nêu ra những thắc mắc về những vấn
đề còn chưa hiểu một cách thấu đáo và có những yêu cầu, đòi hỏi phải được
thầy cô, bạn bè giải thích một cách cụ thể, rõ ràng mới thôi.
- Có ý thức vận dụng những kiến thức kỹ năng đã được học vào việc tìm
hiểu các kiến thức mới, luôn chú ý quan tâm vào những vấn đề đang học, đang
tìm hiểu.
- Dù ở trên lớp hay ở nhà, các em luôn kiên trì hoàn thành những bài tập
đã được giao hoặc những bài tập khó.
Khi có hứng thú học tập, học sinh sẽ chủ động, tích cực học tập theo
những cấp độ từ thấp đến cao:
- Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hành động của thầy cô, bạn bè.

9


- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải
quyết khác nhau về một vấn đề...
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.
Có thể nói, làm khơi dậy hứng thú cho học sinh là một việc làm khó
nhưng khi các em đã có hứng thú với học tập thì giờ học sẽ có được một không

tới tình trạng trên. Cụ thể có thể tóm lược trong những nguyên nhân cơ bản
sau:
+ Về chương trình sách giáo khoa:
Hiện nay mặc dù chương trình sách giáo khoa đã có sự đổi mới đáng kể
so với trước kia, học sinh đã được tiếp cận với những nội dung rất mới, phong
phú về thể loại và phương thức biểu đạt nhưng trong quá trình giảng dạy nhiều
năm, tôi nhận thấy (và đây cũng là ý kiến của rất nhiều đồng nghiệp thông qua
các buổi sinh hoạt chuyên môn trường, cụm, huyện.): chương trình sách giáo
khoa của chúng ta còn có những phần hơi nặng so với lứa tuổi học sinh THCS
hoặc so với đặc trưng vùng miền. Ví dụ trong chương trình sách giáo khoa Ngữ
văn 7, toàn bộ phần văn nghị luận, phần văn học với các tác phẩm Thơ Đường,
đây là phần kiến thức mà khi chuyển tải đến học sinh, giáo viên rất vất vả cũng
như học sinh, các em phải khó khăn lắm mới tiếp nhận được nội dung của các
tri thức trên, đó là chưa kể đến các em học sinh ở các vùng nông thôn, trung du,
miền núi. Cũng có những tín hiệu đáng mừng là trong những năm gần đây, Sở
GD&ĐT Bắc Giang đã có những kế hoạch xây dựng khung chương trình và
phân phối chương trình cho phù hợp với từng địa phương, nhà trường, tạo điều

11


kiện tốt nhất để giáo viên và học sinh chủ động tìm ra những điểm hợp lý trong
chương trình giáo dục và sắp xếp cho giờ dạy đảm bảo kiến thức và đảm bảo
yêu cầu giảm tải.
+ Về phía địa phương, nhà trường và đồ dùng dạy học:
Trường THCS Đông Phú là một trường nằm trên địa bàn xã Đông Phú,
huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Dù chỉ cách trung tâm huyện khoảng 8km
nhưng đời sống nhân dân trong xã vẫn còn rất khó khăn. Cả xã có 3 thôn nằm
trong diện đặc biệt khó khăn, các thôn khác trên 90% nhân dân sống chủ yếu
nhờ sản xuất nông nghiệp nên kinh tế chưa thực sự phát triển, văn hóa, giáo dục

+ Về phía học sinh:
Do thực tế địa phương, một số học sinh con em đồng bào dân tộc thiểu số
trình độ nhận thức chưa cao nên dù đã học đến bậc THCS nhưng nhiều em chữ
viết còn xấu, viết còn chậm, sai lỗi chính tả, đọc còn ngọng, thậm chí còn yếu
về việc đọc. Đây được xem như một rào cản không chỉ làm các em thiếu tự tin
trước bạn bè mà còn thiếu tự tin trong giờ học. Đó là trở ngại lớn cho việc học
môn Ngữ văn, bởi học văn là phải đào sâu, tìm tòi, khám phá những kiến thức
ẩn sâu trong những văn bản, phải thực hành hình thành nên văn bản. Vậy với
nhận thức của các em như thế việc học môn Ngữ văn vô cùng khó khăn. Một
thực tế nữa là hầu hết các em khi được hỏi đều nói không thích hoặc ngại học
môn văn, trong giờ học môn Ngữ văn các em cảm thấy không có hứng thú.
Đối với học sinh trường THCS Đông Phú, so với các đơn vị bạn, các em
được đánh giá ngoan ngoãn, có ý thức tốt nhưng do đặc điểm địa phương và gia
đình nên sau giờ học hầu hết các em đều phải phụ giúp gia đình công việc đồng
áng do đó có phần nào ảnh hưởng đến việc học tập. Đa số các em còn hạn chế
về tư duy logic, tư duy sáng tạo. Việc học các môn học khác trong nhà trường
đối với các em đã khó khăn chưa kể đến môn học nghệ thuật kích thích trí

13


tưởng tượng, sáng tạo như môn Ngữ văn. Bởi môn học này sử dụng thứ chất
liệu đặc biệt đó là ngôn từ với những hàm nghĩa sâu xa nên việc tiếp nhận đối
với các em càng khó khăn hơn. Ngoài ra, các em có thói quen thụ động, quen
nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện một cách máy móc những gì giáo viên
truyền đạt. Điều này đã thủ tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của các em, biến mình
thành những người quen suy nghĩ và diễn đạt bằng những ý vay mượn, bằng
những lời có sẵn của người khác trong các sách tham khảo. Do đó, học sinh trở
thành những con người lệ thuộc vào sách vở, các em không hào hứng và không
quen bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập thể, cho nên khi nói

những mặc cảm, tự ti, những khó khăn trong cuộc sống...) và cuối cùng là đạt
kết quả cao trong học tập. Do đó, mỗi giáo viên cần tâm niệm: Một giáo viên
mãi cũng chỉ là một giáo viên, nhưng sẽ là một thầy giáo, một nhà giáo vĩ đại
nếu có thể làm thay đổi được cuộc đời của học sinh theo hướng tích cực.
Muốn vậy giáo viên phải thường xuyên học tập và rèn luyện về tri thức,
phương pháp, kĩ năng dạy học và nhân cách, tâm hồn của mình. Đó là những
điều tối cần thiết cho sự nghiệp trồng người để xứng đáng với nghề nghiệp
"Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý".
1.2. Gây hứng thú học Ngữ văn bằng cách xây dựng không khí lớp học
Ngạn ngữ Đức có câu “Bắt đầu làm việc bằng sự nghỉ ngơi”

15


Đúng vậy, trong mọi công việc, 40 phút làm việc và 5 phút để thư giãn
sẽ mang lại kết quả lớn so với 45 phút làm việc liên tục bị gò bó. Huống chi đối
với việc học - công việc liên quan đến trí óc và thường làm chúng ta mệt mỏi về
tinh thần. Chỉ có sự nhiệt tình, tổ chức điều khiển giờ dạy một cách khoa học,
sinh động của giáo viên mới kích thích sự hứng thú học tập trong học sinh. Từ
đó, tạo ra bầu không khí tích cực thi đua giữa các học sinh. Bầu không khí
chung của lớp học đầy tinh thần bác ái, hài hòa và say sưa cũng góp phần rất
lớn tạo ra sự thành công của tiết học.
Như vậy, không khí lớp học có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao
chất lượng dạy học, cảm xúc tích cực sẽ làm tăng hiệu suất của hoạt động nhận
thức trong học sinh.
Cho nên, giáo viên phải biết cách mang một không khí thoải mái vào lớp
học. Giáo viên có thể tạo không khí lớp học bằng các chuyện vui, các câu thơ,
câu văn hay hình thức đố vui có liên quan đến nội dung bài học; bằng các tranh
vẽ, sơ đồ... để gợi hứng thú, trí tò mò muốn khám phá bài học cho học sinh.
Vì thế, trong một tiết dạy, chỉ cần một ví dụ thực tế gắn với bài giảng,

- Các tác phẩm chính:.......................................
- Phong cách nghệ thuật thơ:............................
2. Tác phẩm:
- Xuất xứ:................
Giáo viên yêu cầu học sinh điền vào chỗ còn trống. Học sinh thay nhau
làm theo yêu cầu của giáo viên. Lớp học sẽ sinh động và học sinh có hứng thú
học tập hơn. Từ đó, ta thấy rằng các em sẽ tiếp thu kiến thức tốt hơn nếu trong
giờ học có sự xen kẽ nhau giữa các hoạt động dạy học.

17


1.4. Kích thích hứng thú học sinh học Ngữ văn bằng các tình huống có
vấn đề.
Dạy học theo tình huống là giáo viên không trình bày đơn thuần nội dung
bài học mà sắp xếp lại tài liệu dạy sao cho toàn bộ bài giảng là vấn đề lớn được
chia thành một số vấn đề nhỏ có liên quan chặt chẽ với nhau, rồi kích thích
hứng thú cho học sinh và khéo léo đưa các em vào những tình huống có vấn đề.
Từ đó mà bắt đầu những phần của bài giảng. Và như thế, hứng thú sẽ được duy
trì đến khi nào chưa tìm ra được câu trả lời.
Ví dụ: Khi dạy tác phẩm “Làng”- Kim Lân, sách Ngữ văn 9, tập I, giáo
viên đặt ra những tình huống có vấn đề:
- Tại sao Kim Lân lại để cho ông Hai nghe được tin làng Chợ Dầu theo
Tây?
- Tại sao Kim Lân lại xây dựng nhân vật ông Hai có tính hay khoe làng
như vậy?
Tập luyện cho học sinh biết giải quyết các vấn đề từ đơn giản đến phức
tạp trong học tập không những tạo nên sự hưng phấn mà chính là chuẩn bị cho
các em khả năng sáng tạo, giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống.
1.5. Gắn bài giảng với thực tế cuộc sống là một trong những biện

Ví dụ: Khi dạy bài “Nói với con”- Y Phương, Sách Ngữ văn 9, tập II, giáo
viên cho học sinh xem một vài đoạn phim nhỏ nói về hình ảnh của lễ hội Lồng
Tồng cùng với những lời giới thiệu về lễ hội này... chắc hẳn sẽ tác động trực
tiếp đến tâm hồn của các em, làm cho các em phải trăn trở suy nghĩ và từ đó sẽ
gây hứng thú hơn trong việc tìm hiểu nội dung lời nói của người cha trong bài.

19


Hoặc khi tìm hiểu về văn bản “Tức nước vỡ bờ- trích tiểu thuyết Tắt
đèn”- Ngô Tất Tố, sách Ngữ văn 8, tập I, kèm theo những lời giảng, giáo viên
cho học sinh xem một đoạn phim trong bộ phim Tắt đèn.... chắc hẳn niềm hứng
thú học văn chương sẽ tăng lên rất nhiều trong tâm hồn các học sinh.
1.7. Gây hứng thú học tập Ngữ văn qua các bước lên lớp.
Chỉ cần học sinh có hứng thú học tập thì các em sẽ vượt qua mọi khó
khăn, trở ngại ngăn cản bước chân các em tiến vào thế giới khoa học.
Vì thế, giáo viên cần duy trì được hứng thú học tập của các em trong tất
cả các bước lên lớp. Ở đây cần tập trung vào ba bước lên lớp:
1.7.1. Kiểm tra bài cũ:
Đây là khâu củng cố lại kiến thức đã học. Qua đó giáo viên có thể tự
đánh giá, rút kinh nghiệm phương pháp đã truyền đạt ở tiết trước, phát hiện
những lỗ hổng kiến thức của học sinh để chấn chỉnh kịp thời. Tuy nhiên, trong
thực tế, học sinh rất sợ khâu này vì một số thầy cô có quan niệm hết sức sai lầm
khi đòi hỏi học sinh trả lời bài cũ phải thuộc lòng từng câu, từng chữ. Càng
thuộc bao nhiêu thì càng được điểm cao bấy nhiêu, kể cả những vấn đề không
phải là định nghĩa. Và khi học sinh trả lời, chỉ cần có vài yếu tố bên ngoài tác
động vào là học sinh không nhớ gì cả. Do đó, gây ra trong tâm hồn các em một
sự ức chế, chán học, mất đi sự hứng thú.
Do vậy, nếu giáo viên Ngữ văn cải tiến được khâu này, chắc hẳn học sinh
sẽ hứng thú hơn trong suốt tiết học và trong cả quá trình học tập môn Ngữ văn.

về tác phẩm.
1.7.3. Củng cố bài:

21


Củng cố bài là khâu rất quan trọng, bài giảng dù hay, hấp dẫn đến đâu
nhưng không có củng cố thì chưa thể coi là tiết dạy tốt. Bởi lẽ trong công đoạn
này, giáo viên phải khắc sâu thêm kiến thức cho học sinh, hệ thống hóa những
tri thức, kĩ năng quan trọng, tập cho học sinh vận dụng kiến thức mới, nâng cao
tính tích cực, khả năng tư duy, sáng tạo.
Củng cố không đơn thuần là lặp lại nguyên si những vấn đề đã trình bày
vì như thế, học sinh sẽ chán nản và mất tập trung. Hơn nữa, thường ba đến năm
phút cuối tiết, học sinh hay có hiện tượng xao nhãng bài học, mệt mỏi...Cho
nên, khâu này sẽ đạt được hiệu quả cao hơn nếu học sinh tập trung chú ý, hào
hứng, hợp tác với giáo viên. Vì vậy rất cần thiết phải gây hứng thú khi củng cố
bài. Thay vì cách củng cố thông thường, giáo viên có thể kể một câu chuyện
vui, đọc một bài thơ hay của tác giả và nêu câu hỏi kèm theo. Hoặc cũng có thể
củng cố bằng những câu hỏi trắc nghiệm có kết hợp với những phần mềm của
công nghệ thông tin..., học sinh sẽ không còn cảm thấy gò bó, mệt mỏi trong
những phút cuối cùng của tiết học. Và như thế chất lượng học tập sẽ được nâng
cao. Dư âm của những buổi học sẽ in đậm mãi trong tâm hồn học sinh và các
em sẽ khao khát, chờ đón những tiết học sau.
2. Gây hứng thú bằng việc lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ
văn.
2.1. Bản chất:
Trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục:
giáo dục bằng trò chơi - một phương pháp đã được nhiều nền giáo dục tiên tiến
trên thế giới vận dụng. Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết
hợp với phương pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi

trò chơi huy động kiến thức, trò chơi vận dụng kiến thức...), tự đặt tên một số

23


trò chơi (theo nguyên tắc vừa phù hợp, vừa kích thích sự tò mò của các em. Ví
dụ: Ô chữ, Hùng biện, Tiếp sức, Điền bảng, Rung chuông vàng...
2.3. Lồng ghép trò chơi vào các phân môn Ngữ văn:
Do đặc thù của mỗi phân môn, việc vận dụng lồng ghép trò chơi có
những điểm khác nhau.
* Văn học: Tùy thuộc dạng bài ( bài khái quát, ôn tập, đọc - hiểu văn
bản...), lượng kiến thức, mục tiêu bài học, thời lượng để áp dụng hình thức trò
chơi: trò chơi nhỏ dành cho một hoạt động dạy học hay trò chơi lớn cho cả tiết
học. Do đặc thù của phân môn với mục đích cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác
phẩm văn chương, đòi hỏi những cảm xúc tinh tế, nên mức độ vận dụng trò
chơi chỉ vừa phải.
* Tiếng Việt: Lồng ghép trò chơi đối với phân môn này là khá phù hợp,
đặc biệt là đối với những tiết thực hành, luyện tập. Trò chơi cần phải gắn với
các bài tập hoặc các hình thức thực hành, luyện tập khác mà giáo viên nghĩ ra.
Vận dụng tốt giải pháp này, giờ học Tiếng Việt sẽ không còn khô cứng, học
sinh cảm thấy thoải mái, hứng thú, kích thích hoạt động tư duy của các em,
quan trọng hơn là góp phần phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở học sinh.
Qua trò chơi, tư duy và khả năng ngôn ngữ của học sinh sẽ được bộc lộ tự
nhiên, giáo viên có thể phát hiện và uốn nắn kịp thời những mặt còn hạn chế.
* Làm văn: Chính là phần thực hành Văn học và Tiếng Việt. Có thể vận
dụng trò chơi trong một số tiết học và không nên thực hiện hình thức này trong
cả tiết. Với phân môn này, việc lồng ghép hình thức trò chơi không thể thay thế
được các phương pháp cũng như hình thức tổ chức lớp học đặc thù như thực
hành, luyện tập,...hoạt động theo nhóm hay cá nhân tự luyện tập các kĩ
năng...Do đó không nên gượng ép để cố tình đưa trò chơi vào tất cả các giờ học

+ Các thẻ kiến thức trắng đều nhau được cắt ra từ giấy Ao.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status