TÀI LIỆU THAM KHẢO TĂNG CƯỜNG sự LÃNH đạo của ĐẢNG đối với sự NGHIỆP văn hóa TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 40

1

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP VĂN HOÁ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

I. Đòi hỏi khách quan về sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn
hoá văn nghệ.
Ngay từ khi xã hội loài người chưa phân chia giai cấp, chưa biết đến
đảng phái chính trị thì đã có văn hoá. Văn hoá tồn tại như một phương thức
để con người nhận thức, duy trì và phát triển cuộc sống của mình. Văn hoá
phát triển do con người, vì con người. Văn hoá trường tồn cùng nhân loại.
Lịch sử cho thấy rằng, bất cứ lực lượng xã hội - chính trị nào muốn tác
động tích cực vào quá trình phát triển đều phải nắm lấy văn hoá. Khi xã hội
có những chuyển biến lớn lao thì lực lượng tiên phong lại càng coi trọng vai
trò của văn hoá. Các chính đảng có sứ mệnh lãnh đạo xã hội xưa nay đều
sử dụng văn hoá văn nghệ như là một vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh
giai cấp trên mặt trận tư tưởng. Dù công khai hay che giấu việc sử dụng văn
hoá văn nghệ như là lợi khí đều được các lực lượng chính trị sử dụng một
cách có ý thức, có tổ chức.
Điều này có căn rễ sâu xa từ bản chất và chức năng của văn hoá văn
nghệ : trong xã hội có giai cấp, văn hoá văn nghệ tất có tính giai cấp. Văn
hoá văn nghệ không phụ thuộc vào chính trị của giai cấp này sẽ phụ thuộc
vào chính trị của giai cấp khác.
Lịch sử cũng cho ta kinh nghiệm: giao lưu văn hoá giữa các nước là
con đường tốt nhất để tăng cường hiểu biết, tăng cường tình đoàn kết và
hữu nghị giữa các dân tộc, làm phong phú lẫn nhau giữa các nền văn hoá.


2

Ngược lại, kẻ xâm lược cũng có thể thực hiện các cuộc xâm lăng bắt đầu từ

và hệ tư tưởng tư sản trên lĩnh vực văn hoá văn nghệ lại quyết liệt hơn bao
giờ hết. Tiến hành diễn biến hoà bình, chủ nghĩa đế quốc luôn lấy tư tưởng,
ý thức làm khâu đột phá, bên ngoài tuyên truyền không có đối đầu tư tưởng
nhưng bên trong thì vấn đề "đối đầu hệ ý thức và hệ tư tưởng, tăng cường
tuyên truyền để ngăn chắn sự thâm nhập của các quan niệm thuộc hệ tư
tưởng và ý thức cộng sản"(1). Lại là một nội dung kết cấu nên chiến lược
toàn cầu của Mỹ. Bên ngoài tuyên truyền không có đối đầu tư tưởng nhưng
bên trong lại ngầm đưa lực lượng chống chủ nghĩa cộng sản vào trong lòng
cộng sản, biến những nơi này thành trận địa chống cộng với sự phối hợp từ
bên ngoài, tăng cường tuyên truyền cả bên trong và bên ngoài nước cộng
sản để chuyển hoá lực lượng "từ đỏ sang xanh" là phương sách không có
xa lạ gì của lực lượng chống chủ nghĩa xã hội. Điều đó góp phần cắt nghĩa
về lao "diễn biến hoà bình" từ một tư tưởng chỉ đạo trong chính sách đối
ngoại của Mỹ đã trở thành một chiến lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm thủ
tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trong cuốn "1990- chiến thắng không cần chiến tranh", một cuốn sách
được suy nghĩ và viết trong 40 năm, cựu tổng thống Mỹ Ních Xơn đã không
hề giấu diếm mục đích chống chủ nghĩa xã hội: "biện pháp của chúng ta để
tiến hành cạnh tranh hoà bình ngay trên đất Liên Xô là bằng những
chương trình phát thanh và trao đổi văn hoá. Tuy các chương trình phát
thanh của ta (Mỹ) không thúc giục nổi loạn bạo động, song ta phải làm sao
cho nó chú ý tới vấn đề chủng tộc và động viên họ đấu tranh đòi quyền dân
tộc".


4

Sau khi Tây và Đông Đức sát nhập "sách của CHDC Đức bị nghiền nát
hàng tấn vứt vào đống rác... Các quảng trường và đường phố mang tên
chién sĩ chống phát xít hay những người cộng sản có công lao đều bị đổi

mọi người đều được hưởng "hạnh phúc văn hóa".
Đời sống xã hội phức tạp và mang đầy tính chính trị. Văn nghệ trong
khi phản ánh đời sống không thể xa rời chính trị. Nói tới cuộc sống, không
thể không động chạm đến lý tưởng sống thái độ sống, thái độ thẩm mỹ đối
với thực tại; với đời sống với các mối quan hệ xã hội và với các tác phẩm
văn hoá văn nghệ, cũng không bao giờ tách rời thái độ chính trị của giai
cấp.
Tuy có những đặc thù về phương thức nhận thức và phản ánh nhưng
văn nghệ không tách khỏi những mối quan tâm có tính chất chính trị trong
đời sống xã hội. Những gì có liên quan đến con người đều là mối quan tâm
của cả chính trị và văn nghệ. Trên ý nghĩa ấy văn nghệ và chính trị cùng
chung mục đích vì hạnh phúc con người.
Ở nước ta từ ngày có Đảng, văn nghệ đã thực sự trở thành một bộ
phận khăng khí của cách mạng, trở thành vũ khí đắc lực trong sự nghiệp
đấu tranh vì độc lập, tự do, dân chủ. Gắn bó với cách mạng, văn hoá văn
nghệ Việt Nam, ở mọi thời kỳ đều đạt được thành tựu.
Lịch sử cũng cho ta bài học về tiếng nói nghệ thuật phải được bảo đảm
bằng bản lĩnh chính trị. Trong một nền văn nghệ của chúng ta đã từng có
những tên tuổi tài năng mà trong một lúc nào đó không tỉnh táo và không đủ
sức nhận đường đã vấp váp và có những sai lầm lệch lạc.


7

Khi đưa ra "Đề cương văn hoá" 1943 Đảng ta đã chủ trương giải phóng
văn nghệ khỏi sự kiểm chế của hệ tư tưởng thống trị của chủ nghĩa thực
dan, đưa văn nghệ trở về bản chất và lẽ sống của nó. Bởi "dân tộc bị áp
bức thì văn nghệ cũng mất tự do. văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia
cách mạng" (7, tr.63).
Khi chưa biết cách mạng, chưa hiểu cách mạng, nhiều nghệ sĩ có tài,

hệ tư tưởng vẫn đang nóng bỏng. Điều đó biểu hiện rất rõ trong văn nghệ,
một bộ phận cấu thành quan trọng, một thành tố có tính đặc thù và có tính
tiêu biểu của văn hoá.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nới: "Cán bộ văn hoá nói riêng cũng như tất
cả các cán bộ ta nói chung phải rèn luyện tư tưởng, chính trị, ý chí phấn đấu
và tinh thần trách nhiệm… Tất cả những người làm báo (người viết, người
in, người sửa bài, người phát hành, v.v…) phải có lập trường chính trị vững
chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì việc khác
mới đúng được". (7, tr,37,43).
Sự nhận thức, hay nói đúng hơn, sự tự ý thức về tính tất yếu của mối
quan hệ giữa chính trị và văn nghệ với tính chất là một phạm trù lịch sử sẽ
giúp văn nghệ sĩ thấy tự do trong sáng tạo, sẽ là tác nhân quan trọng tăng
cường hiệu lực lãnh đạo của Đảng với văn hoá văn nghệ.
Mỗi xã hội đều có nền văn hoá của mình. Mỗi nền văn hoá được hiểu
và đánh giá bằng những quan niệm và thước đo của chính nó. Lãnh đạo,
định hướng cho sự phát triển và tiếp nhận văn hoá chính là để đảm bảo cho
văn hoá, cho mọi thành tố cấu thành của nó, trong đó có bộ phận đặc biệt
nhạy cảm là văn hoá nghệ thuật phát triển phù hợp với truyền thống dân
tộc, phát huy được bản sắc dân tộc, Nếu bản sắc dân tộc là một quá trình


10

thường xuyên tự ý thức, tự khám phá và tái tạo; nếu truyền thống của một
dân tộc luôn luôn là sự bảo tồn và chắt lọc, kế thừa và phát triển, giữ gìn và
tiếp biên thông qua hiện tại, thì sự lãnh đạo, định hướng là cần thiết để qua
đó bản sắc truyền thống không chỉ là sự vận động theo quán tính mà còn là
sự vận động được con người nhận thức và thúc đẩy.
Ngày nay, trong quá trình cơ cấu kinh tế - xã hội các nước đều xem xét
lại để điều chỉnh những nguyên tắc chỉ đạo trong các chính sách văn hoá

tranh giải phóng dân tộc, giành dộc lập tự do đồng thời thực hiện sứ mệnh
thiêng liêng là giải phóng văn hoá, xây dựng văn hoá mới Việt Nam.
Từ ngày thành lập Đảng cho đến khi có Đề cương văn hoá Đảng đã tạo
một bước chuyển biến lớn trong văn hoá văn nghệ, đưa nó từ chỗ là
phương tiện nô dịch, ru ngủ của kẻ thù của cách mạng, là tiếng thở than
của người dân mất nước chưa tìm ra con đường giải phóng trở thành vũ khí
đấu tranh cách mạng, hướng văn nghệ sĩ đi theo con đường của Đảng, góp
phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân.
Cách mạng Tháng Tám thành công, văn nghệ sĩ lại cùng với nhân dân
bước vào cuộc chiến đấu mới: xây dựng lại đời sống về mọi mặt và tiến
hành cuộc kháng chiến anh hùng chống thực dân Pháp.
Trong giai đoạn lịch sử này, ngay trong điều kiện kháng chiến, Đảng vẫn
không ngừng cụ thể hóa đường lối văn hoá văn nghệ, nêu ra và giải quyết
nhiều vấn đề rất cơ bản của lý luận văn nghệ: vấn đề tự do và quy luật trong
sáng tạo nghệ thuật, vấn đề quan điểm đối với văn hoá cổ và văn hoá nước
ngoài, vấn đề đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng
chiến kiến quốc là nhiệm vụ của văn hoá, vấn đề nhận thức sâu sắc hơn về
quan điểm dân tộc, khoa học, đại chúng trong Đề cương văn hoá trước yêu


14

cầu mới, vấn đề học tập lý luận Mác- Lênin để tạo bước chuyển căn bản
trong thế giới quan và tâm hồn văn nghệ sĩ,.. (1) Chính trong giai đoạn này,
Hồ Chủ Tịch đã phát biểu luận điểm cơ bản của Đảng về văn hoá văn nghệ
trong bức thư Người gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ năm 1951:
"Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt
trận ấy" (6, tr.349).
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình được lập lại, nửa nước được
giải phóng, cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, nhân dân ta phải gánh

quyết về "Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ
thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới" (Nghị quyết 05-NQ/TW ngày
28-11-1987). Nghị quyết đã đánh giá một cách toàn diện, đúng đắn về tình
hình văn nghệ từ sau Cách mạng tháng Tám đến 1987 và các thành tựu,
thiếu sót trên các mặt lãnh đạo, quản lý, sáng tác, lý luận phê bình… Nghị
quết đã làm rõ hơn nhiều vấn đề lý luận về vai trò, bản chất, nhiệm vụ của
văn hoá văn nghệ trong giai đoạn cách mạng mới. Những phương hướng
chỉ đạo có tính chiến lược, những chính sách lớn được nêu ra trong nghị
quyết, trong đó có việc đề ra phương hướng và một số biện pháp cụ thể
khắc phục những nhược điểm thiếu sót trong lãnh đạo và quản lý văn hoá
văn nghệ, "đã tạo điều kiện cho văn hoá, văn nghệ đạt nhiều thành tựu, đáp
ứng một phần nhu cầu hưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân, đóng
góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới" (19, tr.51).
Kế thừa và phát triển đường lối văn nghệ nhiều năm trước, Đại hội VIII
tiếp tục xác định "xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra một đời sống tinh
thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến
bộ. Phát huy vai trò văn hoá, nghệ thuật trong việc nuôi dưỡng, nâng cao
tâm hồn Việt Nam" (11, tr.9).


18

Sau 6 năm thực hiện nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, gần 2 năm thực
hiện nghị quyết Đại hội VII, Đảng lại có nghị quyết "Về một số nhiệm vụ văn
hoá, văn nghệ những năm trước mắt" (số 04, ngày 14-1-1993). Nghị quyết
trong khi khẳng định những quan điểm đổi mới có tính nguyên tắc của Đảng
trên lĩnh vực văn hoá văn nghệ đã chỉ ra một số nhược điểm của nghị quyết
05, những thiếu sót chung quanh việc phổ biến và thực hiện nghị quyết 05.
Những tư tưởng chỉ đạo và những biện pháp thực hiện đối với văn hoá văn
nghệ nước nhà trong tình hình mới đang được nghiên cứu triển khai

còn như trước.
Trong từng thời kỳ lịch sử, những sự kiện chính trị - xã hội quan trọng
bao giờ cũng là nội dung cơ bản của ý thức xã hội, chi phối tư duy xã hội và
từng cá nhân công dân - nghệ sĩ, là tiền đề và là cơ sở cho tư duy nghệ
thuật.
Trong những năm tháng chiến đấu để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, ý
thức tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, tất cả vì độc lập tự do đã
trở thành nhịp đập, hơi thở, tthành mệnh lệnh đối với tất cả mọi người Việt
Nam yêu nước. Cả nước hoạt động dưới sự chi phối khắc nghiệt của quy
luật chiến tranh. Cái bất bình thường của chiến tranh được chấp nhận cả
trong đời sống thường ngày cũng như trong sản xuất và công tác. Khi "cả
nước lên đường xao xuyến bờ tre hồi trống giục", khi toàn dân lao vào cuộc
chiến đấu sinh tử với kẻ thù để giữ nước và giành lại toàn vẹn đất nước thì
độc lập dân tộc là đỉnh cao nhất định hướng cho mọi hoạt động sáng tạo.
Sáng tác về cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc đã là cảm hứng
chủ dạo của mọi nghệ sĩ - chiến sĩ. Nhu cầu lớn nhất lúc đó là cổ vũ con
người vượt qua trăm ngàn khó khăn để chiến đấu và giành chiến thắng.


20

Phản ánh, tái tạo những hình tượng nghệ thuật cao đẹp nhằm cổ vũ quân
dân ta trong cuộc kháng chiến, đó là nhiệm vụ lịch sử cũng là nhu cầu, là
lương tâm, tình cảm của người nghệ sĩ gắn bó tha thiết và hiểu biết sâu sắc
cuộc sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân. "Với thành tựu đã đạt được
chủ yếu trong việc phản ánh hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, văn
học nghệ thuật nước ta xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của
những nền văn học, nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay" (9,
tr.121.
Vị trí tiên phong của nền văn học nghệ thuật mà Đảng ta đánh giá, trước

một trong những biểu hiện quan trọng nhất của hệ ý thức tư tưởng của một
chế độ xã hội nhất định. Nhưng xem văn hoá như là một mặt của công tác
tuyên huấn, hình thành một nếp tư duy với ý tưởng văn hoá chỉ là một số
công tác có ý nghĩa tuyên truyền chính trị hoặc chỉ là chuyện "cờ, đèn, kèn,
trống" thì đó là chưa thật sự nhận thức đầy đủ và văn hoá.
Nhận thức đó đã dẫn đến việc sử dụng văn nghệ như là một công cụ
phục vụ cho mục đích tuyên truyền chính trị, nhìn nhận tác phẩm nghệ thuật
một chiêu từ chính trị, dẫn đến can thiệp không thích hợp vào quá trình
sáng tạo nghệ thuật: quan tâm đến đề tài hơn đối tượng, yêu cầu phản ánh
hiện thực và con người trên cơ sở bám sát chính trị với cách "phục vụ
chính sách", "phục vụ kịp thời", khoanh vùng đề tài, hướng dẫn suy tư trong
sáng tạo nghệ thuật. Đây là một hạn chế trong lãnh đạo văn hoá văn nghệ
mà ngay từ năm 1957, Đảng đã tự phê bình: "Đảng Lao động Việt Nam
nhận rằng có một số cán bộ chính trị của Đảng can thiệp vào việc lựa chọn
chủ đề, hình thức và cá tính văn nghệ sĩ" (39, tr.217).


22

Hiểu "Văn nghệ phục vụ chính trị"(1), "Văn nghệ phục tùng chính trị"(2)
một cách giản đơn, thô cứng đã làm cho văn nghệ chỉ tập trung khai thác
những vấn đề trực tiếp liên quan đến nhiệm vụ trước mắt, đến việc tuyên
truyền các chủ trương chính sách một cách khô khan, công thức, đến việc
ca ngợi một chiều và thuyết minh giản đơn cho một tư tưởng vô hình trung
đã tầm thường hoá văn nghệ, đã làm nghèo đi bức tranh nghệ thuật, làm
văn hoá nghệ thuật thiếu sức sống tự nhiên của nó.
Từ Đại hội VI, chúng ta đã thấy xuất hiện trong văn kiện những dòng
"Văn học nghệ thuật phải không ngừng nâng cao tính đảng và tính nhân
dân, gắn bó với hai nhiệm vụ chiến lược"(17, tr.130).
Không nói văn nghệ phục vụ chính trị mà nói văn nghệ gắn bó với hai

thống nhất nước nhà" (16, tr.75).
Trong khi nhấn mạnh chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, khẳng
định nguyên tắc cơ bản là văn hoá văn nghệ chịu sự lãnh đạo của Đảng,
Đảng ta không quy các hoạt động văn nghệ vào khuôn với các hoạt động
khác.
Coi trọng chức năng thẩm mỹ của văn hoá văn nghệ là biểu hiện sự coi
trọng con người, do chỗ quan tâm đến nhu cầu nhân bản nhất của nó. "Cảm
xúc về cái đẹp là một điều kiện làm nên phẩm giá con người. Phải có nó con
người mới có trí tuệ, phải có nó nhà bác học mới cất mình lên tới những tư
tưởng tầm cỡ thế giới, mới hiểu được bản chất và các hiện tượng trong tính
thống nhất của chúng; phải có nó người cộng sản mới có thể hiến dâng cho
Tổ quốc cả những hoài vọng cá nhân lẫn những lợi ích riêng tư của mình,


24

phải có nó người ta mới không thể quỵ ngã dưới sức đè nặng trĩu của cuộc
đời và làm nên những chiến công" (29, tr.18).
Phản ánh đời sống bằng hình tượng nghệ thuật, theo một lý tưởng thẩm
mỹ nhất định là một "đặc quyền" của văn hoá nghệ thuật trong việc tham gia
vào sự nghiệp to lớn của con người là cải tạo cuộc sống. Con người đến
với văn hoá nghệ thuật trước hết để được hưởng cái hay, cái đẹp, được vui
sướng được giải trí cho đời đỡ buồn, cho cuộc sống tươi vui hơn. Tác phẩm
nghệ thuật chỉ có thể là hay, là đẹp mới hấp dẫn người đọc, người nghe,
người xem, mới có dịp nói được với công chúng nghệ thuật điều muốn nói.
Khác đi, người ta sẽ không đọc, không nghe, không xem mà chẳng thể nào
bắt buộc nổi.
Ngay từ năm 1949, Hồ Chủ Tịch đã viết: "Văn nhân, nghệ sĩ thi đua
nhau sáng tác cho hay, cho nhiều để cổ động nhân dân, tuyên truyền ra thế
giới, và để lưu lại cho đời sau những sự tích vĩ đại trong cuộc kháng chiến

động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người" (17,
tr.129-130). Sự tác động đó là qua hình tượng; tác phẩm đến được với công
chúng bằng (và chỉ hiệu quả một khi bằng) con đường của nhận thức thẩm
mỹ, của tình cảm thẩm mỹ.
Trình độ của công chúng nghệ thuật ngày càng được nâng cao. Nhu cầu
văn hoá và năng lực cảm thụ nghệ thuật của công chúng văn nghệ và thự
sự cần thiết thích ứng với nhu cầu đó. Người nói: "Chớ viết khô khan quá.
Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc chỉ muốn biết
những việc thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy
hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc"(7, tr.47).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status