LỜI MỞ ĐẦU
Nhằm góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đổi mới đất nước nói
chung và sự phát triến bền vững của mỗi địa phương nói riêng.
Mỗi cán bộ, công chức phải tích cực học tập, rèn luyện, trau dồi kiến
thức, nâng cao trình độ học vấn cũng như trình độ lý luận nhằm thực hiện tốt
chức năng nhiệm vụ được giao, góp phần làm cho bộ máy Đảng, Nhà nước
nói chung, cơ quan, đơn vị nói riêng hoạt động thông suốt, đạt hiệu quả cao.
Với ý nghĩa và mục đích đó, tôi được cơ quan cử đi học lớp “Đại học xây
dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, khóa 32” tại Trường Chính trị tỉnh
Ninh Thuận. Qua hơn 3 năm tham gia học tập tại Trường Chính trị tỉnh Ninh
Thuận, tiếp cận với nhiều môn học rất có ý nghĩa và quan trọng, trong đó có
môn “Quán lý Nhà nước trên các lĩnh vực trọng yếu” đã được các thầy, cô
giáo truyền đạt những kiến thức cơ bản về quản lý hành chính Nhà nước,
cùng với sự quan tâm, tạo điêu kiện giúp đỡ của Học viện báo chí và tuyên
truyền, Trường chính trị tỉnh Ninh Thuận, tôi đã cơ bản hoàn thành môn học.
Qua môn học này, đã giúp tôi nhận thức rõ hơn chức năng, vai trò, nhiệm vụ
của mình trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước đế áp dụng vào thực
tiễn công tác. “Dân số ổn định - Gia đình hạnh phúc - Xã hội phát triển ”
Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) luôn được xác
định là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, một trong
những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của quốc gia. Thực hiện tốt chính sách
dân số - kế hoạch hoá gia đình là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng
cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ
trương, chính sách, luật pháp, chiến lược nhằm quan tâm toàn diện đến vấn đề
dân số - kế hoạch hoá gia đình. Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và
các Bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều thông tư liên tịch, văn bản hướng
dẫn để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và luật
pháp của Nhà nước về công tác này. Ngày 14/01/1993 tại Hội nghị Ban Chấp
mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có 2 con).
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do chưa nhận thức đầy đủ
tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác này trong bối cảnh kinh
tế, văn hoá và xã hội của địa phương dẫn đến chủ quan, thoả mãn với những
kết quả đạt được ban đầu. Tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác dân số - kế
hoạch hoá gia đình thiếu on định, hiệu quả chưa cao. Trong hoàn cảnh kinh tế
- xã hội xã nhà chưa phát triến, tình trạng nghèo khó vẫn còn, quy mô dân số
chưa ổn định, chất lượng dân số chưa được cải thiện đáng kể... Do đó, việc
tăng dân số nhanh sẽ phá vỡ những kết quả đạt được, cản trở sự phát triển
kinh tế - xã hội và việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác dân số - kế hoạch hoá gia
đình là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong thời gian tới.
Xuất phát từ mục đích ý nghĩa to lớn ấy, công tác dân số - kế hoạch gia
đình cần phải được quan tâm, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động.
Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về vấn đề này, bản thân iựa chọn đề
tài “Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở xã Phước Đại, huyện Bác
Ái, tỉnh Ninh Thuận, thực trạng và giải pháp”
Đê tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin , căn cứ vào một số quan điểm trong
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), đặc biệt là những vấn đề lý luận và từ
thực tiễn công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Do điều kiện về thời gian, về tài liệu cũng như trình độ hiểu biết vấn đề
còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu từ quý thầy cô để tiểu luận này được hoàn
thiện hơn!
NỘI DUNG
Chương I. NHỮNG VẤN ĐỀ Cơ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ
mục đích chung.
Lập kế hoạch đòi hỏi các nhà quản lý phải dự đoán được những gì xẩy
ra trong tương lai, những vấn đề cần được ưu tiên giải quyết trong vô số
những vấn đề về DS-KHHGĐ, giải pháp và phương thức thực hiện để đạt
được kết quả mong muôn.
Như vậy kế hoạch đề cập đến mục tiêu, mục đích của quản lý và các
cách thức và phương tiện để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Kế hoạch còn là
căn cứ cho các hoạt động tổ chức, điều hành, giám sát và đánh giá kết quả,
hiệu quả quản lý Nhà nước về DS-KHHGĐ nói riêng, công tác DS-KHHGĐ
nói chung.
1.5 3. Chức năng tể chức, điều hành
Tố chức là sự phối hợp hài hòa giữa các đối tượng quản lý, giữa các cá
nhân hoặc giữa các nhóm trong việc thực hiện những hoạt động chung nhằm
đạt được các mục tiêu đặc thù.
Điều hành là một quá trình chỉ đạo và thường xuyên ra các quyết định
để giải quyết các khó khăn, duy trì các hoạt động hợp lý và đảm bảo tiến độ
thực hiện.
Chức năng tổ chức, điều hành công tác DS-KHHGĐ là tập hợp những
nhiệm vụ mà cơ quan nhà nước các cấp phải thực hiện nhằm thiết lập hệ
thống quản lý cũng như vận hành hệ thống đó hoạt động trong khuôn khổ của
pháp luật theo định hướng của chính sách và kế hoạch về DS-KHHGĐ.
1.5.4. Chức năng giám sát, kiểm tra, thanh tra, đánh giá
a) Giảm sát
Giám sát về DS-KHHGĐ là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà
nước nhằm phát hiện, chấn chỉnh những lệch lạc trái pháp luật, sai mục tiêu
trong công tác DS-KHHGĐ.
Các hoạt động giám sát của các cơ quan hành chính bao gồm:
lý nhà nước về DS-KHHGĐ nói riêng, là khâu cuối và không thể thiếu của
quá trình quản lý. Đánh giá là một hoạt động khoa học, có tính khái quát mà
bản chất là sự so sánh giữa các phần việc, kết quả đã đạt được sau một khoảng
thời gian nhất định với các mục tiêu đề ra đế xem xét mức độ đạt được mục
tiêu về DS- KHHGĐ.
e)
Điều phổi
Điều phối là một quá trình lồng ghép các hoạt động của nhiều đối
tượng quản lý khác nhau (bao gôm các đối tượng quản lỷ trong và ngoài đơn vị)
nhằm đảm bảo cho các hoạt động được tiến hành đồng bộ, tuân theo trật tự,
tạo nên sự cộng hưởng trong việc thực hiện mục đích đề ra.
2. Mục tiêu quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ
2.l. Khái niêm
' Mục tiêu quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ là trạng thái DS-KHHGĐ
mong muốn, phải đạt tới tại một thời điểm nào đó trong tương lai hoặc sau
một thời gian nhất định.
Những mục tiêu này phải thể hiện một cách tập trung những biến đổi
quan trọng nhất về quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số.
2.2.
2.2.1.
Hệ thống mục tiêu quản lý Nhà nước về DS-KHHGĐ
về quy mô dân số
Kiểm soát quy mô dân số “..thực hiện gia đình ít con, tiến tới ổn định
mô dân sổ một cách hợp lý.. ” thông qua chương trình KHHGĐ nhằm tạo thuận
Nguyên tắc quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ
1.
1.1. Khái niệm
Các nguỵên tắc quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ là các quy tắc chi
đao, những tiêu chuấn hành vi mà các cơ quan quản lý Nhà nước phải tuân
thủ trong quá trình quản lý lĩnh vực DS-KHHGĐ.
Để thực hiện tốt các chức năng quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ, đòi
hỏi trong quá trình quản lý các nguyên tắc cần phải đáp ứng các yêu cầu cơ
bản sau:
-
Phù hợp với mục tiêu quản lý về DS-KHHGĐ;
-
Phản ánh đúng tính chất và các quan hệ quản lý trong lĩnh vực
DSKHHGĐ, bao gồm cả tính chất và quan hệ chung, phổ biến của quản lý
nhà nước nói chung và tính chất, quan hệ đặc thù riêng biệt của quản lý nhà
nước về DS-KHHGĐ;
-
Phải đảm bảo tính hệ thống nhất quán và được đảm bảo bằng
pháp luật nhà nước;
hiện chính sách, pháp luật, kiểm tra đánh giá việc thực hiện các mục tiêu DSKHHGĐ;
-
Đảm bảo cán bộ, Đảng viên gương mẫu thực hiện chính sách,
pháp luật về DS-KHHGĐ, đồng thời tích cực vận động nhân dân tham gia,
thực hiện.
1.2.2. Tôn trọng quy luật khách quan
Mọi sự vật và hiên tượng trong tự nhiên và xã hội bao gồm cả các yếu
tố và quá trình dân số đều tồn tại và vận động theo các quy luật khách quan.
Các quy luật dân số là mối liên hệ bản chất, tất nhiên phổ biến, bền vững, lặp
đi, lặp lại của các hiện tượng dân số, trong những điều kiện nhất định. Ví dụ:
Quy luật quá độ dân số, quy luật “bùng nổ dân số” sau chiến tranh, quy luật
hút, đẩy chi phối quá trình di dân...
Để có thể quản lý được các yếu tố quy mô, cơ cấu, phân bố và chất
lượng dân số trên cơ sở tác động đến các hành vi của các cá nhân, đòi
hỏi phải nhận thức được các quy luật về dân số.
Chương II. PHƯƠNG PHAP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DSKHHGĐ
Khái niệm
1.
Phương pháp quản lý Nhà nước về DS-KHHGĐ là tổng thể các cách
thức tác động có the có và có chủ đích của Nhà nước (chủ thế quản lý) đối vối
các tổ chức, cá nhân (đối tượng quản lý) và khách thể quản lý nhằm thực hiện
các mục tiêu về DS-KHHGĐ; là biểu hiện cụ thể mối quan hệ giữa Nhà nước
và các cơ quan của nó với các đối tượng quản lý về DS-KHHGĐ.
thông tin, số liệu về dân số công tác đăng ký dân số và hệ cơ sỏ dữ liệu quốc
gia về dân cư; tong điều tra dân số định kỳ;
2.6.
Tố chức, quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
làm công tác dân số;
2.7.
Tố chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và
chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực dân số;
2.8.
Tố chức, quản lý và thực hiện tuyên truyền, phổ biến, vận động
nhân dân thực hiện pháp luật về dân số;
2.9.
Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số;
Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xủ lý vi phạm
2.10.
pháp luật về dân số.
QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ-KHHGĐ
II.
theo dự án.
x
-
1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn chương trình mục tiêu quốc gia
Các vấn đề được chọn để giải quyết bằng chương trình mục tiêu
quốc gia phải là những vẩn đề có tính cấp bách, liên ngành, liên vùng và có tầm
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, cần phải
được tập trung nguồn lực và sự chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành để giải
quyết trong thời gian ngắn nhất.
-
Mục tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia phải nằm trong chiến
lược phát trỉên kỉnh tê - xã hội của đât nước. Chương trình quốc gia có thế có
một hoặc một số mục tiêu, nhưng mục tiêu phải được xác định rõ ràng, lượng
hoá được và dễ dàng trong việc kiểm tra, đánh giá trong quá trình thực hiện.
-
Thời gian thực hiện chương trình ỉà thời gian cần thiết cho việc đạt
được mục tiêu của chương trình nên phải quy định giới hạn, thường là 5 năm
hoặc phải phân kỳ thực hiện cho từng giai đoạn 5 năm. Trường hợp thời gian
rút ra mức độ cấp bách của vấn đề phải giải quyết.
c)
Các vấn đề xã hội mà Chính phủ Việt Nam cam kết với quốc tế.
1.3.2.
Mục tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia
Mục tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia phải nằm trong chiến lược
chung về phát triến kinh tế - xã hội của đất nước. Chương trình mục tiêu quốc
gia có thể có một hoặc một số mục tiêu, nhưng các mục tiêu phải được xác
định rõ ràng, lưọng hoá được và cũng dễ dàng trong việc tính toán, kiểm tra,
đánh giá trong quá trinh thực hiện. Có thể phân định mục tiêu trước mắt và
mục tiêu lâu dài khi kết thuc chương trình mục tiêu quốc gia.
^
ỊS.3. Thời gian thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia
Là thời gian cần thiết cho việc đạt được mục tiêu của chương trình mục
tiêu quốc gia. Thời gian này phải có giới hạn, thường là 5 năm.
1.3.4. Phạm vi hoạt động, địa bàn của chương trình mục tiêu quốc
gia
Phạm vi hoạt động của toàn bộ chương trình và từng dự án là giới hạn
tác động trực tiếp của chương trình, dự án đến ngành nào, lĩnh vực nào, vùng
nào hay đối với cả nước. Phạm vi hoạt động liên quan đến quy mô và địa bàn
thực hiện chương trình, dự án.
phí của chương trình mục tiêu quốc gia cho từng dự án và chi tiết cho các Bộ,
ngành, cơ quan trung ương và các tỉnh phù hợp với các mục tiêu, nhiệm vụ đã
được duyệt (trong trường họp còn có ý kiến chưa thống nhất về cơ cấu và
mức vốn cụ thể cho các đơn vị thực hiện thì ý kiến của cơ quan quản lý
chương trình là quyết định).
-
Ket quả phân bổ kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia
được gửi về Bộ Ke hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đế tống họp vào ngân sách
chung của Bộ, ngành, cơ quan trung ương và các tỉnh, trình Thủ tướng Chính
phủ quyết định.
-
Phân bổ chi tiết kế hoạch, dự toán chi Chương trình mục tiêu
quốc gia và báo cáo kết quả phân bổ vốn;
^
(a)
2.2. Giao chỉ tiêu kế hoạch các chương trình mục tiêu quốc gia
Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương và Uỷ ban nhân dân tỉnh các chỉ tiêu.
(b)
Đối với các Bộ, ngành, cơ quan trung ương. Căn cứ dự toán
ngân sách đã được Thủ tướng Chính phủ giao và hướng dẫn của Bộ Tài chính,
Bộ Ke hoạch và Đầu tư, tiến hành phân bo, giao nhiệm vụ, mục tiêu và kinh
không đáp ứng đủ cầu.
về mặt kinh tế, khi mà tài nguyên thiên nhiên, đầu tư cơ sở vật chất
không đáp ứng kịp tỉ lệ tăng dân số, nạn thất nghiệp sẽ là một vấn đề nan giải.
Từ đó dẫn đến những vấn đề như người lang thang, ăn xin, thậm chí là những
tệ nạn xã hội như trộm, cướp, mại dâm v.v...
về mặt giáo dục, dân số tăng nhanh có thể vượt mức đáp ứng của hệ
thống giáo dục công với điều kiện kinh tế gia đình khó khăn làm tăng tình
trạng thất học, bỏ học dẫn đến trình độ dân trí trung bình giảm thấp, ảnh
hưởng đến sự phát triến chung của xã hội cũng như chất lượng cuộc sống.
về mặt y tế, dân số tăng nhanh vượt quá mức cung ứng sẽ dẫn đến dịch
bệnh gia tăng dẫn đến giảm sức lao động, thương tật, tử vong. Hậu quả
nghiêm trọng nhất của việc tăng dân số là vấn đề môi trường. Việc khai thác
thiên nhiên một cách bừa bãi như phá rừng lấy đất canh tác, khai thác gỗ, vật
dụng, khai thác thú rừng, đào quặng bừa bãi v.v... đã tàn phá trầm trọng đến
nguồn tài nguyên thiên nhiên gián tiếp ảnh hưởng đến các rối loạn về mặt sinh
thái như nạn lụt lội, hạn hán.
Ngoài ra, dân số tăng dẫn đến mật độ dân cư cao, sống chen chúc, mất
vệ sinh dẫn đến sự gia tăng các dịch bệnh. Khói thải, nước thải, rác thải làm ô
nhiễm môi trường không khí, nước, đất làm trọng trầm thêm những vấn đề
sức khỏe. Ánh hưởng về mặt kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường đã tác động
mạnh đến đời sống xã hội và tâm lý của người dân. Cuộc sống khó khăn dẫn
đến quẫn bách hoặc xào xáo, mâu thuẫn trong gia đình càng làm giảm thêm
chất lượng cuộc sông.
Vai trò của công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình:
1.2.
Từ những phân tích trên, bên cạnh các biện pháp phát triển kinh tế, y tế,
Tại Nghị quyết TW 4 (khoá VII) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
“về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình”, Đảng ta nêu rõ:
-
Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan
trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng
cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội.
-
Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá
gia đình là vận động, tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ kế
hoạch hoá gia đình đến tận người dân; có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp
cho người chấp nhận gia đình ít con, tạo động lực thức đẩy phong trào quần
chúng thực hiện kế hoạch hoá gia đình.
-
Đầu tư cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là đầu tư
mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao. Nhà nước cần tăng mức chi ngân
sách cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời động viên sự
dóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế.
-
Huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia eông tác dân số và
kế hoạch hoá gia đình, đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để
đề dân số và nâng cao mức sống nhân dân.
-
Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho sự phát triển bền vững
và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội trực tiếp, gián tiếp và rõ rệt. Nhà nước
đảm bảo đủ nguồn lực cho công tác dân số, đồng thời vận động sự đóng góp
của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế.
-
Đẩy mạnh công tác truyền thông - giáo dục về dân số và phát
triển, kết hợp với việc thực hiện đầy đủ, có hiệu quả Chương trình chăm sóc
sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình, tăng cường vai trò của gia đình và
thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch
hoá gia đình là các giải pháp cơ bản để đảm bảo tính bền vững của chương
trình dân số và phát triển.
-
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các
cấp đối với công tác dân số, đẩy mạnh xã hội hoá là yếu tố quyết định sự
thành công của chương trình dân số và phát triển.
Cơ sở pháp lỷ:
2.2.
Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình hiện nay được tập trung thực
hiện theo quy định tại các văn bản sau:
-
Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ
tướng Chính phủ “về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ
thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kí hoach hoa gia đình”.
-
Nghị định số 114/NĐ-CP ngay 03/10/2006 của Chính phủ “quy
định xử phạt hành chính về dân số và trẻ em”.
-
Chỉ thị số 13/2007/CT-TTg ngày 06/6/2007 của Thủ tướng
Chính phủ “về việc tăng cường thực hiện Chương trình hành động của Chính
phủ thựe hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về
tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình”.
-
Quy định số 94-QD/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị “về
xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”.
-
Hướng dẫn số 11/HD-UBKTTW ngày 24/03/2008 của Ban
Chấp hành Trung ương “về việc thực hiện Quy định số 94-QD/TW ngày
15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”. Thông báo
kết luận số 160- TB/TW ngày 04/6/2008 của Ban Bí thư “về thự chiện chính
sách dân số - kế hoạch hoá gia đình và một số giải pháp cấp bách”.
'Tĩĩếo số liệu Tổng điều tra dân số ngày 01/4/1989 nước ta eó
64.412.000 người, đến năm 2007 số dân đã tăng lên tới 85.154.000 người,
năm 2008 tăng lên 86.160.000 người. Đen tống điều tra dân số và nhà ở tại
thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2009 dân số nước ta còn 85.789.573 người.
Từ nửa sau thế kỷ XX đến nay dân số Việt Nam tăng nhanh hoặc quá
nhanh như giai đoạn 1954-1960 với tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm là 3,93%;
1960-1970: 3,24%; 1970-1976: 3%. Năm 1992 nhịp độ tăng dân số của nước
ta là 2,26%, năm 1997: 1,88%. Tốc độ tăng dân số đã giảm từ 2,34% vào năm
1979 xuống còn 1,51% vào năm 1999 và 1,21% vào năm 2007. Yới tỷ lệ gia
tăng dân số quá nhanh nói trên, mỗi ngày nước ta có them 3.100 người (tương
đương dân số 1 xã nhỏ), mỗi tháng thêm khoảng 97.000 người (khoảng 1
huyện) và mỗi năm thêm khoảng 1,1 triệu người (tương đương dân số 1 tỉnh
trung bình). Đen nay, dân số nước ta đã hơn 90 triệu người.
Sự gia tăng dân số quá nhanh đã tạo nên sức ép rất lớn đối với việc phát
triến kinh tế - xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
thành viên trong xã hội.
1.2.
Thực trạng dân số của xã Phước Đại, huyện Bác Ái, tỉnh
Ninh Thuậri.
Từ khi mới thành lập huyện Bác Ái vào năm 2001, đân số xã Phước
Đại có sự tăng trưởng ngày một nhanh và tỷ lệ sinh con thứ 3 ngày một tăng.
Theo số liệu thống kê dân số hết tháng 12/2006 Xã Phước Đại có 1.141
người, đến năm 2008 số dân đã tăng lên tới 2.330 người, năm 2009 tăng lên
3.028 người. Thống kê dân số và nhà ở tại thời điểm hết tháng 12/2010 dân số
xã Phước Đại còn 3.420 người.
Từ năm 2000 đến nay dân số xã Phước Đại tiếp tục tăng như giai đoạn
(năm 2014) và đến nay đạt cận mức sinh thay thế (mỗi cặp vợ chồng có 2
con); tỉ lệ phát triển dân số giảm tương ứng từ hơn 3,07% xuống còn 1,9%.
Ket quả công
-
tác dân số và kế hoạch hóa gia đình đã
gópphần
rất
quan
trọng vào sự phát triên kinh tê - xã hội, tăng thu nhập bình quân đâu
người hàng năm, xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân.
Tuy nhiên, nhận thức về công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình chưa sâu
sắc; một số cán bộ, đảng viên vẫn còn sinh con thứ 3, làm ảnh hưởng tiêu cực
đến Dhong trào thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình. Năm
2007, tỉ lệ sinh con thứ 3 tăng hơn nhiều so với năm 2006, nhiều chỉ tiêu về
thực hiện các biện pháp tránh thai đạt kết quả thấp. Năm 2008, số trẻ sinh ra
tăng 7,2%, tỉ lệ sinh con thứ ba tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2007, kết quả
thực hiện các biện pháp tránh thai giảm nhiều so với kế hoạch, đây là thách
thức gay gắt đối với công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trong giai đoạn
tới. Ngoài ra, tỷ lệ kết hôn sớm diễn ra khá nhiều, một nào ảnh hưởng đến
công tác dân số.
Ngụyên nhân của những hạn chế, yếu kém:
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan về tâm lý, tập quán, điều
biện pháp tránh thai giảm so với cùng kỳ năm trước mà hậu quả sẽ tăng sinh
vào cuối năm và những năm tiếp theo.
• VI. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CÔNG
TÁC DÂN SÓ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH
©
1. Xây dựng phương án:
Trước tình hình như đã nêu ở trên là “ có nhiều người đã sinh con thứ 3
đặc biệt có một số cán bộ, đảng viên sinh con thứ 3” làm thế nào để hạn
chế tình trạng này? sau đây là một số phương án:
*
Phương án 1: Uỷ ban nhân dân xã phải có nhiều hơn nữa văn bản
cụ thế hoá Pháp lệnh và Nghị định về dân số, quy định xử phạt cụ thể trong
các trường hợp sinh con thứ 3.
*
Phương án 2: Phải cương quyết thực hiện đồng thời các biện
pháp một cách mạnh mẽ bao gồm:
*
-
Tăng cường lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp.
-
Công tác tuyên truyền vận động.
những người sinh con thứ 3 là cán bộ, công chức sẽ bị đuối việc, nhưng điều
này lại trái với bộ luật lao động (trong các điều khoản để chấm dứt hợp đồng
lao động không có điều khoản nào nói đến việc sinh con thứ 3 không nằm
trong khu vực quản lý Nhà nước nên cũng khó khăn trong việc xử phạt.
Một số người có thể sẵn sàng nộp phạt đế sinh thêm con, nhưng cũng
có trường hợp họ vẫn sinh thêm con mà không thu được phạt, về chế độ chính
sách thì những hộ nghèo (thường sinh trên 3 con) được trợ cấp, được vay
vốn... Nói tóm lại việc ra một văn bản pháp quy đế quy định các chế tài xử
phạt vẫn còn khó khăn bởi trong khi các Bộ luật, các chế độ, chính sách vẫn
còn chưa đồng bộ.
- Phương án 2:
+Thuận lợi: Phương án này không có gì mới, lâu nay chúng ta vẫn làm
và đã thu được nhiều kết quả. Neu thực hiện đồng bộ các biện pháp và tập
trung có hiệu quả thì sẽ có tính bền vững cao. Người dân sẽ có thay đổi nhận
thức, từ thay đối nhận thức đến thay đổi hành vi, mọi người tự nguyện thực
hiện tốt kế hoạch hoá gia đình (không sinh con thứ 3) vì nhận thức được lợi
ích cho chính bản thân họ chứ không bị ràng buộc bởi chế tài bắt buộc. Đây
cũng chính là mục tiêu mà chương trình DS-KHHGĐ cần phải đạt được.
Phương án này có thuận lợi nữa là Ĩ 1Ó huy động được sự tham gia của nhiều
tổ chức xã hội, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính quyền địa phương, có cả