Chuyển đổi bố sung thạc sỹ: Tổ chức một cách khoa học lao động của người cán bộ quản lý - Pdf 40

HỌC PHẦN: TỔ CHỨC MỘT CÁCH KHOA HỌC LAO ĐỘNG CỦA
NGƯỜI CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHƯƠNG 1. TÍNH CHẤT, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA LAO ĐỘNG QUẢN

1.1. Lao động quản lý
1.1.1. Khái niệm lao động
Lao động là hoạt động đặc trưng, sáng tạo nhất của con người, quyết định sự
tồn tại và phát triển của mọi tổ chức và quốc gia
Lao động là sự tiêu dùng sức lao động có mục đích, có ý thức của con người
nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần phục vụ cho các nhu cầu đời sống xã
hội
1.1.2. Khái niệm lao động quản lí
Lao động quản lý theo nghĩa rộng là lao động của tất cả những người tham gia
vào bộ máy quản lý bao gồm cả cán bộ lãnh đạo quản lý, các chuyên gia, cản bộ
chuyên môn và nhân viên nghiệp vụ.
Lao động quan lý theo nghĩa hẹp là lao động của những người trực tiếp làm
chức năng quản lý trong bộ máy quản lý, bao gồm lao động của cán bộ lãnh đạo
quản lý và một bộ phận nhân viên thừa hành tác nghiệp.
Cán bộ trong bộ máy quản lý có thể phân chia thành ba nhóm:
Những người lãnh đạo quản lý;
Các chuyên gia, cán bộ chuyên môn
Đội ngũ nhân viên
Các cán bộ của mỗi nhóm này đảm đương trọng trách riêng cụ thể trong hệ
thống quản lý, được phân định bởi đặc tính hoạt động lao động của từng nhóm
+ Những người quản lý: Là những người chỉ huy, đứng đầu một tập thể lao
động, có quyền lực, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của đơn vị
+ Các chuyên gia, cán bộ chuyên môn: Là những người được đào tạo chuyên
sâu một vài lĩnh vực chuyên môn, chịu trách nhiệm đề xuất cho người quản lý
những phương án hoặc những quyết định để người quản lý lựa chọn.
1


- Tính sáng tạo
2


Lao động quản lý của người cán bộ quản lý là lao động trí óc (chủ yếu là quá
trình tư duy) mang tính sáng tạo và quyết đoán cao của người đứng đầu tập thể lao
động, nhằm phát huy dân chủ, xủ lý thông tin trong việc đưa ra các quyết định, tổ
chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra.
- Tính đặc thù
Tính đặc thù của lao động quản lý thể hiện ở các thành tố của nó như: đối
tượng, công cụ, qui trình công nghệ, kĩ thuật và sản phẩm của nó.
+ Đối tượng
Đối tượng chủ yếu của lao động quản lí là con người. Mọi giải quyết mọi vấn
đề của tổ chức, trước hết, người cán bộ quản lí phải giải quyết tốt vấn đề con
người. Vấn đề con người rất phức tạp, nên người cán bộ quản lí phải tư đuy sáng
tạo cao.
- Quy trình công nghệ kỹ thuật:
Người cán bộ quản lí phải tiếp nhận, xử lý, lưu trữ, vận dụng các thông tin về
hệ bị quản lí và môi trường, nhất là thông tin về con người. Người CBQL phải có
những tin tức cần và đủ về hiện trạng của hệ bị quản lí ở từng thời điểm về từng
mặt cũng như toàn cảnh. Càng giàu thông tin càng quản lí tốt. Không nắm được
thông tin về phân hệ bị quản lí, người CBQL không thể quản lí thành công được.
Do đó, người CBQL phải tốn nhiều công sức, thời gian, trí tuệ cho việc thu nhận,
xử lí thông tin. Vì vậy, thực chất của quản lý là tư duy để xử lý thông tin.
+ Công cụ lao động quản lý
* Công cụ lao động quản lý trước hết là tư duy và phong cách tư duy, bao gồm
toàn bộ học vấn và trình độ chuyên môn sâu của người CBQL
* Cùng với tư duy và trình độ chuyên môn, các lý thuyết khoa học có thể sử
dụng được vào công tác quản lý. Chẳng hạn lí thuyết hệ thống, lí thuyết điều
khiển, lí thuyết thông tin, lí thuyết arogit (thuật toán), lí thuyết grap…

càng, dũng cảm, quyết đoán. Quyết đoán là một phẩm chất của ý chí của người
quản lý; thể hiện ở dám quyết định, dám làm, dám chịu trách nhiệm, khi thấy việc
làm là đúng đắn (dựa vào tư duy khoa học)
1.2.2. Lao động của người cán bộ quản lý giáo dục mang tính chất, đặc điểm
của lao động sư phạm
Lao động của người cán bộ quản lý giáo dục là lao động sư phạm với những
đặc điểm riêng biệt
- Mục tiêu, sản phẩm và kết quả lao động sư phạm mang đậm tính nhân văn
4


Mục tiêu lao động là góp phần đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Sản phẩm của lao động là con người được giáo dục. Sản phẩm này có đặc
trưng riêng về đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,…Yêu cầu của
loại sản phẩm lao động này là không được phép phế phẩm.
- Chủ thể và đối tượng lao động sư phạm mang đậm tính dân chủ
Chủ thể của lao động sư phạm là nhà giáo, cán bộ quản lý và các chuyên viên,
nhân viên phục vụ. Họ cần được phát huy dân chủ thực sự trong mọi công việc của
tổ chức, cơ sở giáo dục.
Đối tượng chính của lao động sư phạm là con người (người học và những
người khác). Lao động sư phạm chỉ có hiệu quả cao khi người học hoạt động một
cách tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo (được phát huy dân chủ thực sự). Ngoài
ra đối tượng của lao động sư phạm còn có nguồn lực vật chất (cơ sở vật chất và
thiết bị giáo dục) và các tri thức của loài người,…
- Nội dung lao động sư phạm mang tính khoa học cao
+ Đối với lao động của cán bộ lãnh đạo quản lý giáo dục: Lao động của người

quản lý và lao động sư phạm. Người cán bộ quản lý giáo dục phải vừa là nhà quản
lý tài năng (nhất là nắm vững lý luận chính trị và hệ thống văn bản pháp luật; có
năng lực tư duy quản lý), vừa là nhà sư phạm lão luyện (nhất là có trình độ, năng
lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm).
1.3. Nội dung lao động của người CBQLGD trong tổ chức.
- Xây dựng kế hoạch phát triển tổ chức để thực hiện chức năng và nhiệm vụ
Nhà nước giao
- Quy hoạch và kế hoạch hóa việc thực hiện khối lượng công tác trong tổ chức:
dài hạn, ngắn hạn, hàng ngày.
- Ra các quyết định để thực hiện kế hoạch
- Tổ chức thực hiện các quyết định và tổ chức làm việc một cách tốt nhất để
công việc được tiến hành nhanh gọn, có hiệu quả, toàn bộ cơ quan có hiệu suất
công tác cao.
- Chỉ đạo, giám sát các công việc.
6


- Kiểm tra việc thực hiện các quyết định và xử lý một cách nghiêm minh kết
quả đã kiểm tra
- Tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm việc thực hiện quyết định, chuẩn bị và ra
quyết định mới.
1.4. Những yêu cầu chủ yếu đối với lao động của người cán bộ quản lý giáo
dục.
Lao động của người cán bộ quản lý giáo dục phải đảm bảo các yêu cầu:
- Các yêu cầu chính trị
Người quản lý phải quán triệt quan điểm Mác lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước; phải thực thi quyền lực
nhà nước vào trong lao động của mình. Vì vậy có thể coi lao động của người quản
lý như lao động của các nhà chính trị.
- Các yêu cầu về pháp lý

- Ý nghĩa quyền lực nhà nước
Người cán bộ quản lý là người đại diện nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước
trong một tổ chức
- Ý nghĩa chính trị
Người cán bộ quản lý là người tuyên truyền, vận động cấp dưới, nhân viên và
nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của
nhà nước.
- Ý nghĩa giáo dục
Người cán bộ quản lý là tấm gương sáng về đức và tài để cấp dưới, nhân viên
và nhân dân học tập, noi theo.

CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC MỘT CÁCH KHOA HỌC LAO ĐỘNG CỦA
NGƯỜI CBQLGD
2.1. Tổ chức khoa học lao động
2.1.1. Tổ chức lao động
Tổ chức lao động trong phạm vi một tập thể lao động nhất định là một hệ
thống các biện pháp đảm bảo hoạt động lao động của con người nhằm mục đích
nâng cao năng xuất lao động và sử dụng đầy đủ nhất các tư liệu sản xuất
2.1.2. Tổ chức lao động khoa học
Là tổ chức làm việc theo phương pháp khoa học, dựa vào thành tựu của khoa
học và kinh nghiệm tiên tiến để tổ chức công việc hợp lí nhất, có hiệu quả cao
8


nhất, nhanh chóng nhất và bảo đảm sức khỏe con người tốt nhất trong quá trình lao
động.
2.2. Tổ chức khoa học lao động quản lí
2.2.1. Tổ chức khoa học lao động quản lí là toàn bộ các phương pháp, biện
pháp, thủ thuật được người cán bộ quản lý cùng bộ máy quản lý thực hiện trong
quá trình quản lí phải dựa trên những luận cứ, những phân tích khoa học, những

- Tổ chức khoa học lao động quản lí của người CBQL là cải tiến các phương
pháp làm việc, các điều kiện sống và làm việc, làm cho các nhiệm vụ chủ yếu của
người CBQL được thực hiện có chất
2.3.3. Các nguyên tắc tổ chức khoa học lao động quản lí của cá nhân người cán
bộ quản lý
- Tổ chức khoa học lao động quản lý của người CBQL phải nhằm mục đích tiết
kiệm được thời gian để người CBQL tập trung vào công tác quản lý tổ chức nhằm
chú trọng đến việc cải tiến quá trình hoạt động, tổ chức khoa học lao động trong tổ
chức nhằm nâng cao chất lượng công việc trong tổ chức
- Trong quá trình tổ chức khoa học lao động quản lý của người cán bộ quản lý
cần lưu ý áp dụng các phương pháp khoa học trong công tác quản lý và coi trọng
việc sử dụng triệt để và hợp lí các phương tiện vật chất và kĩ thuật hiện có.
- Đảm bảo hài hào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý tổ chức và việc phát
triển bản thân của người CBQL.
2.4. Nội dung tổ chức lao động một cách khoa học của người cán bộ quản lý
giáo dục
2.4.1. Kế hoạch hóa lao động quản lý
1.4.1.1. Kế hoạch hóa công việc
Trên cơ sỏ phân tích các quá trình hoạt động thực tiễn để thực hiện các nhiệm
vụ và mục tiêu quản lý, người cán bộ quản lí phải kế hoạch hóa toàn bộ công việc
của tổ chức trong năm, trong tháng, trong tuần, trong ngày. Kế hoạch công việc
của tổ chức trong một năm cần được cụ thể hóa thành kế hoạch công việc của từng
tháng. Kế hoạch công việc của từng tháng phải được thể hiện thành văn bản pháp
lý và phổ biến rộng rãi trong toàn tổ chức, trước ngày mồng một. Trên cơ sở đó
người cán bộ quản lý kế hoạch hóa công việc của cá nhân.
- Xây dựng cho mình một chế độ làm việc được tổ chức một cách có kế hoạch,
phân định, xắp xếp thời gian một cách hợp lý để làm từng loại công việc trong
năm, trong tháng, trong tuần, trong ngày.
10


giáo, người cán bộ quản lí còn dành thời gian cho tự học và các công việc cá nhân
khác.
11


2.4.1.3. Cụ thể hóa kế hoạch:
Kế hoạch công việc và kế hoạch thời gian cần được cụ thể hóa thành kế hoạch
hành động và được thể hiện bằng bảng ma trận:
Khẩn

Không khẩn

Công việc
Thời gian
Quan trọng
Không quan trọng
Ma trận công việc – thời gian
2.4.2. Sử dụng khoa học phong cách lãnh đạo
2.4.2.1. Khái niệm phong cách lãnh đạo
Phong cách lãnh đạo là hệ thống các phương pháp được nhà quản lí sử dụng
theo một hướng nhất định, trở thành khuôn mẫu (mô thức) hành vi để tác động đến
những người dưới quyền.
Phong cách lãnh đạo được coi như một nhân tố quan trọng của quản lí, trong
đó thể hiện không chỉ mặt khoa học và tổ chức quản lí, mà còn thể bản sắc nhân
cách người cán bộ quản lý trong mối quan hệ biện chứng với môi trường. Khuôn
mẫu hành vi của người cán bộ quản lý chỉ có giá trị khi dựa trên cơ sở khoa học (lí
luận về phong cách lãnh đạo; lý luận quản lý; lý luận sử dụng khoa học phong
cách lãnh đạo;…) và cơ sở thực tiễn (thực tế của tình huống, của đối tượng, của
môi trường…)
2.4.2.2. Một số loại phong cách lãnh đạo

Phong cách dân chủ phù hợp với bản chất của chủ nghĩa xã hội, cần thiết với
mọi người quản lý. Nó có ưu điểm là tạo được những điều kiện thuận lợi để phát
huy tính chủ động, sáng tạo của những người dưới quyền và làm cho họ hài lòng
với công việc được giao. Song, không nên sử dụng phong cách dân chủ trong điều
kiện không có thời gian để tranh luận và bàn bạc, yêu cầu phải đưa ra một quyết
định gấp có tính chất chỉ thị và quyết đoán.
Khi sử dụng phong cách dân chủ, các thành viên làm việc với nhau một cách
cởi mở, thân thiện. Mối quan hệ giữa tập thể và người quản lý được tự do hơn, tự
nhiên, tích cực hơn. Công việc vẫn được tiến hành một cách đều đặn và liên tục
khi vắng mặt người quản lý.
- Phong cách tự do
Người quản lý vạch ra kế hoạch chung chung, ít trực tiếp chỉ đạo mà thường
giao khoán cho cấp dưới, không quan tâm đến công việc, không can thiệp vào tiến
trình. Ở đây người quản lý chỉ đóng vai trò là người cung cấp thông tin, ít khi tham
gia vào hoạt động của tập thể và sử dụng rất ít quyền điều hành của mình. Người
13


quản lý cho phép cấp dưới và nhân viên được quyền ra quyết định những vẫn chịu
trách nhiệm với những quyết định được ra.
Với phong cách lãnh đạo này, các nhân viên thường thực hiện công việc một
cách cẩu thả và chậm chạp vì phần lớn thời gian bị hoang phí trong những cuộc
vui chơi, hoặc cãi vã giữa các thành viên với lý do mang tính cá nhân, do đó công
việc năng suất thấp.
2.4.2.3. Sử dụng khoa học phong cách lãnh đạo
Để quản lý có hiệu quả người cán bộ quản lý cần sử dụng khoa học phong cách
lãnh đạo:
- Kết hợp tính nguyên tắc cứng rắn với linh hoạt, mềm dẻo trong xử lí công
việc
- Dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao tính tập thể trong quản lý đi

quần chúng mà cần phải kết hợp đúng đắn hài hòa với thái độ dám nghĩ dám làm,
dám chịu trách nhiệm của người cán bộ quản lí
2.4.3. Sử dụng quyền lực hợp lí
2.4.3.1. Khái niệm về quyền lực
Quyền lực là khả năng của một người hay một nhóm người trong việc ảnh
hưởng tới người khác.
Quyền lực có hai đặc tính quan trọng:
- Quyền lực là khả năng ảnh hưởng đến người khác. Người có quyền lực có thể
sử dụng hay không sử dụng nó, cho nên quyền lực thường ở dưới dạng tiềm năng
- Quyền lực gắn liền với nhận thức của đối tượng. Chủ thể chỉ có khả năng ảnh
hưởng tới những người nhận thức được quyền lực của chủ thể.
Khi nỗ lực ảnh hưởng được thực hiện nó có thể tạo ra các kết quả ở các mức
độ sau đây:
- Sự tích cực nhiệt tình tham gia: Đối tượng đồng ý về nội tại đối với những
hành động, những yêu cầu của CBQL và sẵn lòng tham gia tích cực trong việc
thực hiện các yêu cầu, đòi hỏi của CBQL.
- Sự tuân thủ phục tùng: Đối tượng thực hiện các yêu cầu của CBQL, song
không nhất trí với CBQL về điều phải làm. CBQL chỉ tác động tới hành vi của đối
tượng, song không tác động được tới thái độ của đối tượng. Đối với các nhiệm vụ
đơn giản thì kết cục này cho phép hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng với những nhiệm
vụ phức tạp và những nhiệm vụ đòi hỏi một nỗ lực lớn và sự tự chủ, sáng tạo cao
như nhiệm vụ giảng dạy của người giáo viên trên lớp, thì kết cục này khó có thể
dẫn đến việc hoàn thành tốt nhiệm vụ.
15


- Sự kháng cự, chống lại: Đây là kết cục tồi tệ nhất của nỗ lực ảnh hưởng. Đối
tượng không những không thực hiện yêu cầu của CBQL mà còn chống lại các yêu
cầu đó. Đối tượng sẽ cố gắng một cách chủ động trong việc không thực hiện các
yêu cầu của CBQL..

cả những quyền trong việc quản lí các nguồn lực, thiết bị; quản lí công tác khen
thưởng và kỷ luật; quản lý thông tin và quản lý môi trường.
Động lực cho sự tuân thủ những đòi hỏi và nguyên tắc mang tính hợp pháp có
thể là những giá trị bên trong của con người như tuân thủ các biểu tượng quyền
lực, trung thành với tổ chức, với sự nghiệp giáo dục, tôn trọng luật pháp, nguyên
tắc, điều lệ, quy chế được áp dụng trong tổ chức hoặc ít ra cũng là đòi hỏi tối thiểu
để được chấp nhận là thành viên của tổ chức. Cán bộ, giáo viên, nhân viên đồng ý
tuân thủ các nguyên tắc, luật lệ và chỉ dẫn của người CBQL để có được lợi ích là
thành viên của tổ chức với những giá trị về tinh thần và vật chất mà thành viên của
một tổ chức được hưởng. Điều tiên quyết cho việc chấp nhận quyền lực của người
CBQL trong vị trí lãnh đạo tổ chức là sự nhận thức của những người khác về tính
hợp pháp của người CBQL trong vị trí lãnh đạo tổ chức. Khía cạnh này của tính
hợp pháp phụ thuộc khá lớn vào cách thức mà người CBQL được chọn lựa. Những
người CBQL được chọn lựa theo cách khác với quá trình được xem là hợp pháp
bởi các thành viên thì quyền lực của người đó là tất yếu. Tầm quan trọng của chọn
lựa hợp pháp luôn là một quan tâm của những người lãnh đạo trong việc thiết lập
sự nhận dạng cho quyền lực của họ. Trên cơ sở quyền lực chính thức, người
CBQL có khả năng kiểm soát các lĩnh vực sau đây:
- Sự kiểm soát đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ:
Người cán bộ quản lý cần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; đồng
thời kiểm soát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cấp dưới để đạt được mục
tiêu của tổ chức. Đây là cơ sở quan trọng nhất của quyền lực.
- Sự kiểm soát đối với các nguồn lực
Một trong những cơ sở khác nữa của quyền lực trong tổ chức là sự kiểm soát
đối với những nguồn lực: Nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực cơ sở
vật chất và tài sản. Sự kiểm soát này gắn liền với quyền hạn chính thức của người
CBQL.
- Sự kiểm soát đối với phần thưởng và sự trừng phạt
Quyền thưởng không chỉ dựa trên sự kiểm soát đối với nguồn lực mà còn dựa
trên nhận thức của người dưới quyền rằng đòi hỏi hoặc nhiệm vụ là khả thi và nếu

- Sự kiểm soát đối với thông tin
Sự kiểm soát thông tin cũng là một cơ sở để tạo ra quyền lực. Sự kiểm soát này
bao gồm khả năng tiếp cận những thông tin quan trọng và sự kiểm soát trong việc
cung cấp thông tin cho người khác
- Sự kiểm soát đối với môi trường làm việc
18


Sự kiểm soát môi trường làm việc cũng là một cơ sở tạo ra quyền lực. Người
CBQL có thể ảnh hưởng tới hành vi người dưới quyền thông qua việc thiết lập môi
trường làm việc, phân công công tác, chi phối môi trường vật chất, các điều kiện
làm việc, công nghệ và cấu trúc của công việc.
Việc chi phối tới những điều kiện vật chất của môi trường làm việc cũng là
một dạng phổ biến của việc sử dụng loại quyền lực này. Do hành vi của con người
bị chi phối bởi nhận thức về đặc tính và những điều kiện về môi trường nên hành
vi đó có thể điều khiển thông qua thay đổi môi trường làm việc. Do đó người
CBQL cần quan tâm xây dựng môi trường làm việc trong tổ chức để tác động tích
cực đến thái độ và hành vi của cán bộ giáo viên học sinh trong tổ chức.
b. Quyền lực cá nhân
Quyền lực cá nhân của người CBQL có cơ sở dựa trên năng lực, phẩm chất cá
nhân, cách thức ứng xử của CBQL đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên cũng như
các cá nhân và tổ chức liên quan đến tổ chức. Các cơ sở chính cần được lưu ý là:
- Phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng
Phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của người cán bộ quản lí thể hiện ở
các phẩm chất Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí, Công vô tư. Khi người cán bộ quản
lý chí công vô tư – tức là có lý tưởng cộng sản – tính Đảng sẽ hết lòng hết sức
phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân, từ đó chiếm được lòng tin yêu tuyệt đối của
quần chúng nhân dân.
- Tài năng chuyên môn
Tài năng chuyên môn của người CBQL thể hiện ở năng lực của người CBQL

thể lưu ý đến như sau: diện mạo đứng đắn, lôi cuốn, trong công tác và quan hệ đối
xử thể hiện sự nhiệt tình, sự tôn trọng người khác, có khả năng thuyết phục, khả
năng gây ấn tượng,..Những người CBQL có sức thu hút, hấp dẫn luôn luôn thấu
hiểu những nhu cầu, mong đợi và những giá trị của người dưới quyền đồng thời có
khả năng nhìn xa, trông rộng và tầm nhìn này động viên những người dưới quyền
tích cực tham gia một cách nhiệt tình vào các chương trình kế hoạch do CBQL
vạch ra.
- Tự giáo dục, tự rèn luyện
Người cán bộ quản lý thường xuyên, kiên trì tự giáo dục, tự rèn luyện để nâng
cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ; hoàn thiện nhân
cách nhằm cũng cố và nâng cao uy tín.
2.4.3.3. Việc sử dụng quyền lực của người CBQL
20


Việc lãnh đạo, tổ chức luôn luôn gắn liền với việc sử dụng quyền lực. Tuy
nhiên người CBQL chỉ được phép sử dụng quyền lực để thực hiện các mục tiêu
cao đẹp, không được sử dụng quyền lực để đạt các mục tiêu cá nhân, trù dập người
khác. Trong trường hợp sau này, quyền lực thường ẩn chứa trong nó sự phủ định,
sự phản kháng, bởi lẽ nó thường được sử dụng để đạt tới kết cục bi thảm cho đối
tượng và cũng bởi lẽ những gì nó mang lại cho người nắm giữ nó thường là để
thỏa mãn những ham muốn cá nhân, trong khi đó lại không quan tâm đến những
thiệt hại gây ra cho người khác. Người CBQL không nên bó hẹp mình vào một
cách thức tạo ra quyền lực. Điều này dễ dẫn đến những hành động cứng nhắc.
Ngược lại những người CBQL có nhận thức đầy đủ và rộng rãi về nhiều loại
nguồn gốc phát sinh quyền lực thì có thể hành động theo nhiều phương cách khác
nhau phù hợp với tình huống.
Quyền lực của người CBQL tự nó không đủ giải thích về hiệu quả lãnh đạo
của người CBQL trong việc ảnh hưởng tới những người dưới quyền. những người
CBQL có hiệu quả luôn có kỹ năng nhận dạng các cách thức ảnh hưởng phù hợp

quyền hạn, trách nhiệm giữa các bộ phận, qui định mối quan hệ qua lại ràng buộc
lẫn nhau của các bộ phận nhằm thực hiện các hoạt động quản lí nhất định trên cơ
sở chức năng và quyền hạn của cơ quan.
Xây dựng cơ cấu hợp lí tức là xây dựng cơ cấu gọn nhẹ, khoa học, có sự phân
công cụ thể rõ ràng về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, có mối quan hệ qua lại
ràng buộc lẫn nhau giữa các bộ phận nhằm đảm bảo cho tổ chức hoạt động nhịp
nhàng, đồng bộ, không có sự chồng chéo, trùng lắp chức năng giữa các bộ phận
Để xây dưng cơ cấu tổ chức của tổ chức hợp lí cần chú ý một số vấn đề sau”
- Phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức để xác định cơ
cấu tổ chức cho thích hợp.
- Cần xây dựng qui chế làm việc của các bộ phận, xác định mối quan hệ qua lại
giữa các bộ phận trong khi thực hiện các chức năng của mình, góp phần thúc đẩy
nhau, tránh tình trạng không đồng bộ, chồng chéo nhau.
- Xây dựng cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, mà chức năng nào cũng có người đảm
nhiệm là một trong những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện cơ cấu hợp lsi trong
tổ chức. Qui định rõ họ trực thuộc ai, trực thuộc vấn đề nào, phải phối hợp công
tác với ai.
- Việc qui định quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên
trong tổ chức phải tương đương nhau. Quản lí chỉ có hiệu quả khi cấp dưới được
giao một tổng số quyền hạn và trách nhiệm cần thiết tùy thuộc chủ yếu vào phẩm
22


chất công tác của cấp dưới. Cán bộ càng thông thạo thì càng có nhiều trách nhiệm
và quyền hạn. Nếu trách nhiệm và quyền hạn chỉ được trao hình thức, sau đó bị
hạn chế và cắt xén thì công tác quản lí sẽ kém hiệu quả. Chỉ khi nào người cán bộ,
giáo, nhân viên trong tổ chức nhận thấy đầy đủ sự cần thiết công việc và gánh lấy
trách nhiệm về mình thì người đó mới làm hết năng lực của mình và có sự sáng tạo
trong công việc.
- Để mỗi cán bộ, nhân viên trong tổ chức thực hiện tốt nghĩa vụ, quyền hạn và

việc cần thiết để hoàn thành một công việc cụ thể hay một loại công việc nào đó
trong tổ chức
So với định mức lao động trong sản xuất, việc định mức lao động trong nhà
trường phức tạp hơn vì phần lớn là lao động trí óc, không thể trực tiếp khảo sát và
đo lường được. Mặt khác công việc quản lí rất đa dạng, khác nhau về tính chất, nội
dung, thời gian hoàn thành. Việc đánh giá kết quả không dựa vào hao phí lao động
mà dựa vào kết quả hoạt động của tổ chức, của cả hệ thống quản lí. Định mức lao
động trong tổ chức là cơ sở để:
- Xác định nhu cầu biên chế trong tổ chức
- Đánh giá chính xác kết quả lao động, công tác của từng cán bộ, giáo viên,
nhân viên, từng bộ phận trong tổ chức.
- Kích thích cán bộ giáo viên, nhân viên hăng say công tác, nâng cao tinh thần
tự giác, ý thức trách nhiệm
- Dự trù các chi phí cho công tác của tổ chức
- Có cơ sở để cải tiến công tác nâng cao năng suốt lao động
Để định mức lao động có căn cứ khoa học và việc kiểm tra, giám sát quá trình
thực hiện định mức được tốt, cần phải nghiên cứu cơ cấu thời gian làm việc của
cán bộ, giáo viên, nhân viên.
- Đối với những tiêu chuẩn có thể lượng hóa được, ta dùng phương pháp phân
tích, tính toán để xác định hao phí tổng cộng của việc thực hiện các công việc theo
những tiêu chuẩn có căn cứ khoa học
- Đối với những tiêu chuẩn không lượng hóa được, ta dùng phương pháp phân
tích khảo sát dựa trên cơ sở đánh giá các kết quả công việc
2.4.4.3. Phân công công tác trong tổ chức
- Các cơ sở để phân công công tác trong tổ chức
Sự phân công công tác trong tổ chức dựa trên các cơ sở sau:
24


+ chức năng và nhiệm vụ của tổ chức. Tùy thuộc vò khối lượng công việc, tính

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status