giải pháp đẩy mạnh áp dụng cơ giới hoá trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện kiến thụy thành phố hải phòng - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------

----------

ĐỖ XUÂN KHƯƠNG

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ÁP DỤNG CƠ GIỚI HOÁ TRONG
SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIẾN THỤY
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------

----------

ĐỖ XUÂN KHƯƠNG


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page i


LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân,
tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều
cá nhân và tập thể.
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa
Kinh tế & Phát triển nông thôn và Bộ môn Phân tích định lượng, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Ngô Thị Thuận đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các ban ngành của thành phố Hải Phòng,
huyện Kiến Thụy đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan
giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân
đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 30 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn

Đỗ Xuân Khương

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ii


1

1.2

Mục tiêu nghiên cứu

2

1.2.1 Mục tiêu chung

2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

3

1.3

Câu hỏi nghiên cứu

3

1.4

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu


12

2.1.5 Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về cơ giói hóa trong
sản xuất lúa
2.2

13

Thực tiễn áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 18

2.2.1 Kinh nghiệm áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở một số nước
trên thế giới

18

2.2.2 Kinh nghiệm cơ giới hóa trong sản xuất lúa tại Việt Nam

28

2.2.3 Bài học từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới và ở Việt Nam

34

2.3

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế


38

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

41

3.2

48

Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Khung phân tích

48

3.2.2 Phương pháp chọn điểm khảo sát

49

3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

50

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu

50

3.2.5 Phương pháp phân tích


bàn huyện Kiến Thụy
4.2

75

Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất trên địa
bàn huyện Kiến Thụy

79

4.2.1 Địa hình canh tác lúa

80

4.2.2 Khí hậu và thời tiết

82

4.2.3 Số lượng và chất lượng lao động trong canh tác lúa

82

4.2.4 Sự liên kết trong sản xuất lúa

84

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page iv


103

5.1

Kết luận

103

5.2

Kiến nghị

104

5.2.1 Đối với Nhà nước

104

5.2.2 Đối với huyện Kiến Thụy

105

TÀI LIỆU THAM KHẢO

106

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page v


HTX

: Hợp tác xã



: Lao động

NHNN

: Ngân hàng nông nghiệp

NN

: Nông nghiệp

NN&PTNT

: Nông nghiệp và phát triển nông thôn



: Quyết định

SL

: Sản lượng

UBND


3.2

Tình hình phát triển và cơ cấu kinh tế huyện Kiến Thụy năm 2012 – 2014

43

3.3

Tình hình dân số - lao động huyện Kiến Thụy qua các năm 2012 – 2014

47

3.4

Diện tích đất, dân số của ba xã chọn năm 2014

49

4.1

Sản xuất lúa huyện Kiến Thụy qua các năm

53

4.2

Số lượng máy cơ giới được áp dụng trong sản xuất lúa tại huyện
Kiến Thụy tính đến thời điểm cuối năm 2014

4.3


71

4.8

So sánh chi phí đoạn thu hoạch

72

4.9

Ảnh hưởng của phương pháp thu hoạch đến tổn thất thu hoạch

73

4.10

Năng suất lúa đối với các loại hình sản xuất lúa khác nhau

74

4.11

Đánh giá tổng hợp hiệu quả cơ giới

75

4.12

Tổn thất trong sản xuất lúa


92

4.18

Định hướng cơ giới hóa đến năm 2015, 2020

93

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vii


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế nước ta đang hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực, trong
đó hội nhập lĩnh vực nông nghiệp được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
Quá trình hội nhập vấn đề nâng cao được chất lượng và khả năng cạnh tranh của
các sản phẩm trong đó có nông sản là bài toán khó khăn. Trong những năm qua
Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp để thúc đẩy quá trình hội nhập và nhận
thấy vấn đề cơ giới hoá nông nghiệp là yếu tố tác động trực tiếp việc nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm, không chỉ thế cơ giới hoá nông nghiệp đã góp
phần thay đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, tăng thu nhập đáng kể cho dân cư
nông thôn. Hơn thế nữa, cơ giới hóa nông nghiệp đã góp phần thực hiện chủ
trương Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước.
Thành phố Hải Phòng được Bộ Chính trị xác định là địa phương đi đầu
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ bản trở thành thành phố công
nghiệp văn minh hiện đại trước năm 2020. Vì vậy, ngay sau khi Trung ương

như các địa phương khác đang chịu chung sức ép cùng thành phố hoàn thành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước năm 2020; trong đó công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nói chung và cơ giới hóa trong sản xuất lúa nói riêng là yêu
cầu tất yếu của quá trình. Theo định hướng của Ủy ban nhân dân thành phố về
phát triển kinh tế xã hội huyện Kiến Thụy, vẫn lấy nông nghiệp là mục tiêu phát
triển trung tâm. Vì vậy, việc đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa là
cấp thiết.
Tuy nhiên, cơ giới hóa trong sản xuất lúa tại huyện Kiến Thụy còn gặp
nhiều khó khăn như tiến độ dồn điền đổi thửa còn chậm, chưa triệt để; kinh phí
đầu tư máy lớn đối cá nhân; lúng túng trong việc thành lập tổ cơ giới hóa; hợp
đồng thực hiện dịch vụ cơ giới hóa chưa chặt chẽ; chưa nghiên cứu sâu, bài bản
về cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Kiến Thụy. Vì vậy tôi chọn
nghiên cứu đề tài “Giải pháp đẩy mạnh áp dụng cơ giới hoá trong sản xuất lúa
trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng cơ giới hóa trong sản xuất lúa và đề ra những giải
pháp nhằm đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện
huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hoàn thiện lý luận và thực tiễn về cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp nói
chung và sản xuất lúa nói riêng;
- Đánh giá thực trạng cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Kiến
Thụy những năm qua;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ứng dụng cơ giới hóa trong sản

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
a) Về nội dung
Nghiên cứu thực trạng áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên địa bàn
huyện Kiến Thụy, các chính sách của Đảng và Nhà nước về cơ giới hóa trong sản
xuất lúa, kinh nghiệm cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam,
các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa, các
giải pháp đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa
tại huyện Kiến Thụy.
b) Về không gian
- Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Khảo sát nội dung nghiên cứu chuyên sâu tại xã Đoàn Xá, Tân Trào,
Ngũ Đoan, huyện Kiến Thuy.
c) Về thời gian
- Dự liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu được thu thập, thống kê từ năm
2012 - 2014;
- Dự liệu sơ cấp sẽ khảo sát ở năm 2014 - 2015;
- Các giải pháp đề xuất đến năm 2020.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
* Sản xuất: Sản xuất là quá trình kết hợp các nguồn lực để tạo ra một số hàng hóa hay
dịch vụ có giá trị. (Nguyễn Đức Minh, 2010)
* Sản xuất lúa: Hoạt động sản xuất nông nghiệp là những tác động của con người lên

chỉ hỗ trợ gián tiếp thông qua việc điều khiển từ xa hoặc máy móc được lập trình tự
hoạt động còn gọi là tự động hóa. Tự động hóa đã được các nước có nền nông
nghiệp phát triển nhưng tự động hóa trong sản xuất lúa chưa được nhắc đến.
Giai đoạn đầu của cơ giới hóa cũng có bước thay đổi khác nhau từ cơ giới
hóa từng bộ phận như thực hiện các công đoạn thu hoạch máy gặt, máy phụt lúa;
tiến thêm được thực hiện bởi một thiết bị máy GĐLH. Hiện nay, cơ giới hóa đã
tham gia hầu hết các khâu sản xuất lúa từ gieo hạt, cấy, làm đất, tưới tiêu, chăm
sóc, thu hoạch và vận chuyển, say xát, nói chung là cơ giới hóa tổng hợp các
khâu sản xuất lúa nhưng với tỉ lệ khác nhau. Trong từng giai đoạn phát triển sức
lao động của con người hay súc vật được giảm dần và thay vào đó là máy móc;
các địa phương nước ta đã và đang áp dụng mô hình cơ giới hóa tổng hợp trong
sản xuất lúa và đã đạt được những kết quả rất khả quan. (Phan Hữu Hiền, 2008)
2.1.2. Ý nghĩa cơ giới hóa trong sản xuất lúa
Cơ giới hóa trong sản xuất lúa tạo đột phá trong sản xuất và thay đổi tư
duy sản xuất, phương thức sản xuất với ý nghĩa chính như sau:
Cơ giới hóa là bước tiến trong sản xuất nông nghiệp, thực hiện chủ trương
công nghiệp hóa hiện đại hóa và hiện nay, mô hình sử dụng máy móc tham gia
thực hiện các khâu trong sản xuất lúa đang được áp dụng tại nhiều địa phương.
Cơ giới hóa đã giải phóng phần lớn sức lao động, góp phần chuyển dịch
cơ cấu lao động; đồng thời làm tăng đáng kể năng suất lao động nông nghiệp và
nâng cao trình độ kỹ thuật của người lao động.
Nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh tế và giảm cường độ nặng nhọc cho
nông dân từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng đất đai và lao động; tạo điều kiện mở
rộng diện tích canh tác và đáp ứng được yêu cầu sản xuất lớn, tiết kiệm giống,
phân bón, nước….(Lê Văn Bảnh, 2012)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


được mất trong sản xuất lúa. Đến nay, để giảm bớt sự ảnh hưởng của nước đến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


sản xuất lúa và thay thế sức lao động của con người thì hệ thống thủy lợi, thiết bị
tưới tiêu được ứng dựng rộng rãi.
Hệ thống thủy lợi hiện nay cơ bản đã được chủ động được nước tưới nên
đã đáp ứng kịp thời phục vụ khâu làm đất, tạo thuận lợi cho việc áp dụng hệ
thống máy móc vào sản xuất; đồng thời, thực hiện khâu tiêu thoát nước trong
thời điểm mưa, úng lụt.
Hệ thống tưới tiêu của nước ta cũng như các nước có sản xuất nông
nghiệp khác là công trình do con người tạo ra phục vụ cho mục tiêu con người và
có sự thay đổi và phát triển theo từng thời kỳ phát triển của sản xuất lúa nói
riêng, sản xuất nông nghiệp nói chung. Hệ thống tưới tiêu, không chỉ cung cấp đủ
nước cho khâu làm đất, còn điều hòa nước theo từng giai đoạn sinh trưởng, phát
triển của cây lúa và ngăn nước để phục vụ thu hoạch.
Hệ thống cấp nước chủ động đã là phổ biến, việc điều hành tưới tiêu được
tập trung và việc điều hành chỉ đạo sản xuất có hiệu quả hơn thông quan việc
điều tiết nước. Hệ thống thủy lợi đảm bảo, trạm bơm có công suất phù hợp với
diện tích vùng sản xuất nên người dân không phải tham gia tưới như trước bằng
các phương tiện thủ công như gầu sòng, gầu dây.
Hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ sản xuất lúa được nhiều địa phương
quan tâm đầu tư cứng hóa hoặc bê tông hóa để nâng cao hiệu quả cấp nước.
2.1.3.3 Sử dụng máy móc quá trình gieo, cấy
Gieo cấy theo phương thức truyền thống vẫn được các hộ nông dân áp
dung rộng rãi, qua nhiều năm việc cơ giới hóa chưa thực hiện khâu này. Tuy
công đoạn này tốn thời gian nhưng không cần nhiều lao động nên các hộ vẫn tự
thực hiện, vì theo tư duy lấy công làm lãi trong sản xuất nông nghiệp, các khâu:

thực vật đã được cơ giới hóa bằng bình phun có gắn động cơ hoặc máy phun
thuốc nhưng máy phun thuốc không được bà con hưởng ứng sử dụng do chi phí
lớn so hộ gia đình, hiệu quả sử dụng không cao. Thời gian làm cỏ giảm do sử
dụng thuốc trừ cỏ nhưng nhược điểm là như trước đây việc làm cỏ kết hợp sục
bin thì nay việc sục bùn ngần như bị bỏ qua; trong khi đó sục bùn là biên pháp kỹ
thuật quan trọng cho cây lúa, tạo bộ rễ khỏe giúp cho cây lúa sinh trưởng và phát
triển mạnh.
2.1.3.5 Thu hoạch lúa bằng máy
Theo quan điểm nhiều nước trên thế giới sản xuất nông nghiệp, chia thành
hai công đoạn: Trước thu hoạch và sau thu hoạch và họ thống nhất rằng công
đoạn sau thu hoạch bắt đầu từ sản phẩm ăn được tách khỏi cây trồng vốn đã sản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


sinh ra sản phẩm đó do hành động có chủ tâm của con người với ý định bắt đầu
từ sản phẩm này và đưa vào bữa ăn. Công đoạn sau thu hoạch bao gồm: Thu
hoạch, các hoạt động trước bảo quản (sơ chế, tuốt, phơi, làm sạch, bảo quản, xay
xát…), bảo quản, vận chuyển, thương mại và tiêu dùng. Đề tài này, chúng tôi
không đặt vấn đề rộng như vậy, căn cứ tình hình thực tế địa bàn nghiên cứu và
tập quán canh tác vùng miền, việc thu hoạch chỉ dừng lại việc cắt, ra hạt, làm
sạch, vận chuyển, phơi và cất giữ, không đề cập đến việc thương mại và chế biến.
Hiện nay, gần như tất cả các công đoạn trên đã được cơ giới hóa và nhiều
máy đã đảm nhận được nhiều công đoạn.
Trước đây, sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực kinh tế chính và lao động sản
xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao thì phương pháp cắt lúa thủ công được áp dụng
rộng rãi tất cả các địa phương, do dư thừa lao động nên người nông dân chưa có
nhu cầu thu hoạch bằng máy và hiện nay, cắt lúa thủ công vẫn tồn tại với tỷ lệ
cao. Phương pháp cắt thủ công này với ưu điểm lớn nhất là giải quyết được lao

ẩm, nhiệt độ nên ảnh hưởng đến chất lượng của gạo.
Hiện nay, thu hoạch lúa được thực hiện bởi hai hình thức chính là thu
hoạch nhiều giai đoạn và thu hoạch một giai đoạn mà phần trên đề cập là cơ giới
hóa tổng hợp.
Thu hoạch nhiều giai đoạn, bao gồm: Gặt, thu gom, vận chuyển, ra hạt,
làm sạch và công đoạn khác, nếu trước đây tất cả các giai đoạn này làm bằng thủ
công với sức người là chính thì nay từng công đoạn được thay thế bằng máy.
Hình thức thực hiện thủ công được sử dụng từ thời kỳ sơ khai sản xuất lúa và nay
nước ta vẫn còn tồn tại ở những tỉnh miền núi và địa phương đặc biệt khó khăn.
Hiện nay, một số công đoạn được cơ giới hóa hay gọi bán cơ giới hóa
trong thu hoạch lúa thì đây là phương pháp thu hoạch chính hiện nay ở các tỉnh
miền Bắc với hình thức cụ thể như sau: Phương án 1. Thủ công các công đoạn
gặt, thu gom và làm sạch, còn lại ra hạt bằng máy tuốt hạt hoặc máy phụt;
phương án 2. Thu gom, làm sạch bằng thủ công, gặt bằng máy xếp hàng.
Thu hoạch một giai đoạn là việc sử dụng máy GĐLH thay thế sức lao
động con người các giai đoạn gặt, thu gom, ra hạt và làm sạch.
Máy GĐLH với nhiều chức năng như vậy nên cấu tạo của máy rất phức
tạp, việc di chuyển trên địa hình không được thuận lợi (như mặt ruộng thường
khi sình lầy, mặt đồng ít khi được bằng phẳng, qua nhiều bờ lô, kênh rạch, v.v...),
thao tác gặt lúa, vận chuyển lúa mớ lên cho vào bộ phận đập, phóng rơm ra, có
sàng làm sạch sơ bộ hạt thóc, cho vào bao hoặc thùng chứa trên máy. Do trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 11


cùng một lúc máy phải làm nhiều công đoạn phức tạp như vậy trên địa hình khó
khăn (như mặt ruộng sình lầy, ẩm ướt...) nên chất lượng vật liệu và công nghệ
chế tạo máy GĐLH có yêu cầu đạt tiêu chuẩn cao mới đảm bảo máy hoạt động
tốt. Máy GĐLH có những ưu điểm là: thu hoạch 1 giai đoạn, rút ngắn 3 công


gần như được chuẩn hóa nhưng từng địa phương có phương pháp thực hiện khác
nhau, có địa phương chưa coi trọng công tác san phẳng mặt đồng nên ảnh hưởng
đến sự tiếp cận cơ giới hóa vào sản xuất lúa (Phan Hiếu Hiền, 2008).
- Điều kiện đồng ruộng: Đây vấn đề điều điện tự nhiên của từng vùng
nhưng ngay chính một vùng thì chân ruộng cũng khác nhau, trong khi đó các
máy mọc làm việc hiệu quả khi ruộng bằng phẳng không sụt lún và nhà cung cấp
máy không thể sản xuất nhiều loại máy có thể đáp ứng điều kiện tường đồng
ruộng khác nhau. Do vậy, địa hình đồng ruộng hay rộng hơn điều kiện đồng
ruộng có ảnh hưởng lớn đến cơ giới hóa (Phước Minh Hiệp, 2014).
- Giống: Ảnh hưởng chính đến khâu thu hoạch, giống lúa khác nhau với
biện pháp chăm sóc, quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau nên thời điểm
lúa chin có giống lúa ít bị đổ, hoặc đổ với tỷ lệ lớn sẽ ảnh hưởng đến việc thu
hoạch bằng máy (Nguyễn Văn Khải, 2013).
- Khí hậu, thủy văn: Sản xuất lúa phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết, trong khi
đó máy móc bị hạn chế không thể vận hành hoặc hạn chế rất nhiều và thời điểm
mưa bão. Nhưng chính máy móc sẽ hỗ trợ quá trình sản xuất lúa tránh được mức độ
ảnh hưởng thời tiết như giảm tỷ lệ mạ chết, thu hoạch nhanh tránh mưa bão (Phước
Minh Hiệp, 2014).
- Trình độ của người dân: Tư duy sản xuất lúa và quan điểm ngại thay đổi
của người dân đã ảnh hưởng đến việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa; tư
duy sản xuất nhỏ, lẻ manh mún và ngại thay đổi hình thức sản xuất. Đặc biệt với
máy móc chuyên dụng, được sử dụng trên địa hình không thống nhất, phức tạp
nên người lao động phải được đào tạo để tránh tai nạn đáng tiếc và tăng năng
suất, hiệu quả lao động (Phước Minh Hiệp, 2014).
2.1.5 Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về cơ giói hóa trong sản
xuất lúa
* Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2009 và được sửa
đổi bổ sung tại Quyết định số 2213/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về
việc hỗ trợ vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông

thủ tục đơn giản, thuận tiện và phù hợp với điều kiện hoạt động của các tổ chức,
cá nhân khu vực nông thôn), kiểm tra, giám sát và định kỳ báo cáo Thủ tướng
Chính phủ việc thực hiện Quyết định này.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Chỉ đạo chính
quyền cấp xã, phường, thị trấn xác nhận đối tượng được vay vốn theo Quyết định
này; Căn cứ khả năng ngân sách địa phương, chủ động hỗ trợ cho việc mua máy
móc thiết bị, phương tiện, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


dựng nhà ở nông thôn ngoài chủ trương hỗ trợ tại Quyết định này.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
* Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ
về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của Nghị định để đảm bảo
an ninh lương thực quốc gia là: Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng cơ giới hóa
đồng bộ từ sản xuất đến thu hoạch, bảo quản, chế biến. Đối với cây lúa, thúc đẩy
nhanh cơ giới hóa sau thu hoạch để giảm thất thoát, đến năm 2020 thực hiện thu
hoạch bằng máy đạt 50%, trong đó khu vực đồng bằng Sông Cửu Long đạt 80%,
chủ yếu sử dụng Máy GĐLH có tính năng kỹ thuật cao.
* Nghị định số 68/2013/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn
thất sau thu hoạch trong nông nghiệp.
Ngày 14/11/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
68/2013/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch trong
nông nghiệp, trong đó:
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay trong hai năm đầu,
50% trong năm thứ ba khoản vay (100% giá trị hàng hóa) thương mại đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân mua thiết bị nhằm

cơ giới hóa trong sản xuất lúa được cấp từ các nguồn ngân sách của Trung ương,
địa phương và các ngồn tài trợ đóng góp hợp pháp của các nhà tài trợ và các tổ
chức trong và ngoài nước.
* Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02 tháng 02 năm 2012 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất
ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Đối với cơ giới hóa nông nghiệp nói chung, trong một số giải pháp chủ
yếu của Quyết định nêu:
Cơ giới hóa là giải pháp quan trọng để phát triển nông nghiệp. Phấn đấu
đến năm 2020 tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất tăng từ 70% năm 2010 lên 95%,
khâu gieo trồng, chăm bón từ 25% lên 70%, khâu thu hoạch từ 30% lên 70%,
khâu chế biến từ 30% lên 80%.
Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất máy động cơ, máy
canh tác phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp, diêm nghiệp với giá thành hợp
lý. Mở rộng sản xuất theo hướng tập trung chuyên canh, hình thành cánh đồng
mẫu lớn, nhằm tạo điều kiện cho nông dân, doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp, diêm nghiệp áp dụng nhanh cơ giới hóa vào các khâu từ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status