1
1. Tên đề tài:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÍ VÀ DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ DON, HUYỆN NAM TRÀ MY, TỈNH
QUẢNG NAM.
2.Đặt vấn đề.
Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
nêu rõ : “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ,
làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học. Công nghệ thông tin là
phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”.
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương
pháp và hình thức dạy học. Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến
tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học theo hợp đồng, dạy học phát hiện và
giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy
học như dạy theo lớp, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong
môi trường công nghệ thông tin.
Ngày nay, khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc phát ứng dụng công
nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo dục
đào tạo, Công nghệ thông tin (CNTT) bước đầu đã được ứng dụng trong công tác
quản lý, một số nơi đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với nhu
cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở các trường nước ta
còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ
giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh
vực CNTT mang lại, chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ
hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của mình.
Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ hông tin có tác dụng mạnh
mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến
2
tới “xã hội học tập”. Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc
thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên
thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người
và xã hội”. Như vậy, công nghệ thông tin là tập hợp các phương tiện và công cụ kĩ
thuật hiện đại như ti vi, máy tính, máy chiếu Projector, mạng Internet, các phần
mềm… để cung cấp nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, đa dạng cho mọi lĩnh
vực trong đời sống con người và xã hội. Đặc biệt, ngày nay Internet với các kết nối
băng tầng rộng đã đi tới tất cả các trường học đã giúp cho việc ứng dụng các kiến
thức, kĩ năng và hiểu biết về công nghệ thông tin vào dạy học đã dần trở thành hiện
thực.
3. 2. Vai trò của công nghệ thông tin.
Ngày nay, việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông đang
rất được nhà nước và xã hội quan tâm. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và
học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 Khóa VII (1.1993), Nghị
quyết Trung ương 2 khóa VIII (12.1996), được thể chế hóa trong Luật giáo dục
(2005). Đặc biệt, theo Luật Giáo dục điều 82.2 đã ghi: “...phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Như vậy, theo quy định của Luật giáo
dục, giáo viên phải chuyển dần từ phương pháp dạy học truyền thống (giáo viên
giữ vai trò trung tâm) sang phương pháp dạy học tích cực – lấy học sinh làm trung
tâm của hoạt động dạy và học để có thể phát huy được tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh, tạo cho học sinh hứng thú trong học tập. Ngoài ra, giáo viên
còn phải bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng nhận biết bản chất vấn đề, có năng lực tư
duy độc lập và vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào thực tiễn. Để đạt mục tiêu
4
trên, giáo viên phải tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá
trình dạy học vì những lí do sau:
quá trình giảng dạy và giúp giáo viên cung cấp cho học sinh nhiều nguồn tư liệu
khác nhau về một sự vật, hiện tượng như: kênh chữ, kênh hình, phim tư liệu…để
cho học sinh tự tìm ra tri thức cho mình. Từ đó, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh trong học tập.
- Thứ ba, công nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hóa các phương tiện dạy
học, các phần mềm dạy học như Activestudio, Powerpoint, Violet, …sẽ giúp giáo
viên tạo bài giảng phù hợp nhu cầu của học sinh, giúp học sinh có nhiều phương
pháp tiếp thu kiến thức. Đặc biệt, nó sẽ giúp cho giáo viên tạo ra một lớp học mang
tính tương tác hai chiều: giáo viên – học sinh và ngược lại. Điều này phù hợp với
quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo vì “học là quá trình thu nhận thông tin có
định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin; dạy là quá trình phát thông tin và
giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả” . Do đó, ứng dụng
công nghệ thông tin sẽ giúp học sinh tiếp nhận thông tin bài học hiệu quả hơn và sẽ
biến những thông tin đó thành kiến thức của mình. Đồng thời, nó cũng phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, khai thác nhiều giác quan của
người học để lĩnh hội tri thức.
-Thứ tư, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lí giúp cho cán bộ
quản lí giải quyết công việc kịp thời, nhanh chóng, hiệu quả cao hơn, số liệu chính
xác, thuyết phục hơn; giúp cho người giáo viên rút ngắn thời gian thuyết giảng, có
thời gian đầu tư cho quá trình dẫn dắt, tạo tình huống có vấn đề để kích thích tư
duy sáng tạo của học sinh. Học sinh có thể dễ dàng hình dung và có khái niệm
chính xác về các hình ảnh, sự vật, hiện tượng khi tiếp xúc với chúng bằng những
hình ảnh trực quan (hình tư liệu, bản đồ, những đoạn phim tư liệu …) Như vậy,
ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một nhu cầu cấp thiết
đối với hệ thống giáo dục Việt Nam vì nó giúp giáo viên có nhiều thời gian hơn để
6
dẫn dắt học sinh nắm bắt vấn đề, tạo tình huống có vấn đề để kích thích sự tư duy
sáng tạo của học sinh. Mặt khác, nó cũng sẽ giúp học sinh chủ động hơn trong quá
Tại Nam Trà My hiện nay cũng đã có nhiều trường mạnh dạn ứng dụng
CNTT vào trong quản lí và dạy học, nhưng điều kiện cơ sở vật chất, con người,
cách làm và hiệu quả ở mỗi trường mỗi khác.Tại ngành giáo dục Nam Trà My hiện
nay chưa có một thống kê hay nghiên cứu nào để đánh giá, tổng kết công tác ứng
dụng công nghệ thông tin ở các đơn vị trực thuộc Phòng giáo dục.Vì vậy sáng kiến
kinh nghiệm về Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lí và dạy học
tại trường PTDTBT THCS Trà Don của cá nhân tôi có thể áp dụng và nhân rộng ở
những đơn vị trường có điều kiện tương đồng như trường PTDTBT THCS Trà
Don.
5. Nội dung nghiên cứu.
5.1. Các giải pháp để ứng dụng Công tin trong quản lí và dạy học.
5.1.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên.
Đẩy mạnh tuyên truyền cho giáo viên thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính
tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua việc
triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về ứng dụng CNTT trong dạy học;
thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ khối, hội thảo chuyên đề; thông qua
dự giờ thăm lớp và qua việc triển khai các cuộc thi có ứng dụng CNTT do ngành tổ
chức.
Phát động sâu rộng thành phong trào và đề ra yêu cầu cụ thể về số tiết ứng
dụng CNTT đối với mỗi giáo viên để chính họ qua áp dụng thấy được hiệu quả và
sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, đặc biệt là đối với đổi mới
phương pháp dạy học.
8
5.1.2 Nâng cao trình độ Tin học cho đội ngũ.
Tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao trình độ Tin học ( 01 giáo viên
Tin học của trường được tạo điều kiện về thời gian để tham gia học nâng cao trình
độ từ Cao đẳng lên Đại học Tin học).Vận động các bộ, giáo viên tích cực học Tin
học, trao đổi kinh nghiệm và kĩ năng sử dụng Tin học.
giáo viên ( bằng cách làm này nhà trường đã có nhiều tài liệu hay, dễ thực hành
cho giáo viên sử dụng như: tài liệu hướng dẫn soạn giáo án Power Point, hướng
dẫn sử dụng máy chiếu, hướng dẫn thiết kế bài giảng điện tử E-Learning, E Mind
Maps, Violet, Lecture Maker, Photo Story...)
- Động viên giáo viên tích cực tự học, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ,
luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp; chuyên môn nhà
trường phải là bộ phận kết nối, là trung tâm tạo ra một môi trường học hỏi chuyên
môn tích cực.
- Tích cực tham gia các cuộc thi ứng dụng CNTT do trường, ngành tổ chức.
Bởi vì khi tham gia bất cứ cuộc thi nào yêu cầu sản phẩm cũng đòi hỏi người tham
gia cuộc thi phải có sự đầu tư nhiều hơn về thời gian, công sức, chất xám và cả
việc phải học hỏi ở những người giỏi hơn. Như vậy, vô hình chung cả việc rèn kỹ
năng, tự học và học hỏi đồng nghiệp đều được đẩy mạnh.
Để làm được điều đó, cán bộ quản lí đặc biệt là phó hiệu trưởng, các tổ
trưởng chuyên môn phải luôn quan tâm sâu sát, đi đầu gương mẫu, cùng học hỏi-
10
cùng làm với giáo viên thì mới hiểu được họ yếu ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu
nào, cần giúp đỡ gì. Nói đi đôi với làm luôn được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để
thúc đẩy phong trào phát triển.
5.1.4. Công tác xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị
- Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp cùng với sự tích cực tham mưu của
nhà trường, đến nay tình trạng cơ sở vật chất về tin học và công nghệ thông tin của
nhà trường đã được cải thiện đáng kể.
Số máy tính phục vụ cho văn phòng BGH, phòng chuyên môn, giáo viên, kế
toán, thư viện, TPT Đội là 06 máy (trong đó có 4 mát tính xách tay); phục vụ cho
dạy học là 18 máy. Nhà trường có 01 tivi 43 ind, 1 máy chiếu Projector, 05 máy in,
01 máy ảnh và một số phương tiện khác. Đặc biệt từ năm học 2012-2013, nhà
trường đã bắt được hệ thống cáp quang của VNPT với khả năng phát sóng WIFI
trực tuyến – phần mềm hiện nay được Sở GD&ĐT Quảng Nam và một số đơn vị
trường học trên địa bàn tỉnh đang triển khai khá hiệu quả). Tại đây, mọi công tác
quản lí của 1 cán bộ quản lí được tích hợp khá đầy đủ và tiện lợi như: lập lịch công
tác, trao đổi thông tin: đi - đến, chia sẽ hồ sơ tại liệu, lưu trữ và xử lí công văn,
quản lí nhân sự…
5.2.2. Quản lí hồ sơ sổ sách chuyên môn, hồ sơ phổ cập giáo dục THCS.
12
- Các hồ sơ sổ sách chuyên môn, các loại biểu bảng liên quan công tác
chuyên môn hiện nay được hệ thống hóa theo từng loại tài liệu và lưu trữ đảm bảo
theo từng năm học.
- Trong công tác phổ cập giáo dục, bản thân đã sử dụng phần mềm
Microsoft Excel để thống kê số liệu phổ cập hằng năm. Đồng thời bản thân cũng
đã cùng với giáo viên Tin học tại trường tự thiết lập một biểu mẫu riêng trên
Microsoft Excel để kiểm tra số liệu phổ cập giáo dục THCS (Phụ lục 2), chính vì
làm được điều này nên công tác phổ cập giáo dục của đơn vị trong nhiều năm qua
luôn đảm bảo tính chính xác giữa các số liệu, giữa các biểu mẫu, được các đoàn
kiểm tra của Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT đánh giá cao. Nhờ ứng dụng CNTT vào
trong công tác quản lí hồ sơ của đơn vị, nên hồ sơ sổ sách về công tác phổ cập giáo
dục của đơn vị luôn đảm bảo tính chính xác, khoa học.
5.2.3.Quản lý hồ sơ, đánh giá xếp loại của HS .
- Để quản lý hồ sơ của HS cũng như đảm bảo thông tin giữa cán bộ quản lí
và giáo viên chủ nhiệm tôi đã áp dụng thử một số trang Web như:
, , s…Từ
năm học 2012-2013, nhà trường đã áp dụng thử nghiệm sổ điểm điện tử từ phần
mềm của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) tại địa chỉ
(Phụ lục 3).Đây là trang web được tích hợp khá nhiều tiện
ích cho phép người dùng cập nhật đầy đủ các thông tin và hoạt động liên quan đến
học sinh như thông tin cá nhân, điểm số, thông báo của trường, của lớp, hạnh kiểm
đã
xây
dựng
Website
riêng
tại
địa
chỉ:
(Phụ lục 4), tại đây đã tạo ra một nguồn tài liệu mở
gồm các thư mục như: chuyên đề, đề cương ôn tập, thư viện phần mềm, thư viện
bài giảng, thư viện đề thi...tại đây cán bộ giáo viên có thể tra cứu, tham khảo, gởi
lên các tài liệu mà mình có, tạo ra nguồn tài liệu phong phú phục vụ cho công tác
quản lí và giảng dạy cho những năm học tiếp theo.
+ Một số trang web hay:
14
•
•
•
•
•
về yêu cầu sư phạm. Những thiết bị, dụng cụ thí nghiệm căn bản chỉ được hỗ trợ
bằng CNTT chứ không thể thay thế hoàn toàn bằng CNTT.
- Để xác định những đồ dùng dạy học nào nên ứng dụng CNTT, những đồ
dùng dạy học nào không nên ứng dụng CNTT, chúng ta cần căn cứ vào: Chủng
loại đồ dùng dạy học, tính chất vật lý của chúng (kích thước, hình dạng, cấu
tạo…); mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học của môn học, khả năng của phần
mềm và các giải pháp CNTT; mục đích áp dụng CNTT; mức độ phù hợp giữa
CNTT và thiết bị…
6. Kết quả nghiên cứu.
- Cái được đầu tiên phải kể đến đó chính là giáo viên đã có sự chuyển đổi về
nhận thức, từ qui định (mang tính áp đặt) lúc ban đầu sang tâm thế thích thú với
bài giảng ứng dụng CNTT. Từ yêu thích đến chủ động học hỏi cho nên kỹ năng
soạn giảng các tiết có ứng dụng CNTT của giáo viên không ngừng được nâng lên,
chất lượng bài dạy cũng tốt hơn, hấp dẫn với học sinh hơn.
- Hiện nay, 100% giáo viên nhà trường có chứng chỉ Tin học văn phòng từ
trình độ A trở lên và đều soạn bài bằng máy vi tính; 100 % giáo viên biết sử dụng
16
kỹ thuật trình chiếu hỗ trợ giảng dạy, sử dụng các phần mềm dạy học bộ môn, các
tư liệu điện tử, trong đó có nhiều giáo viên có kĩ năng cao trong việc kết hợp nhiều
phần mềm tiện ích khác nhau trong một bài giảng.
- Tổng số tiết ứng dụng CNTT trong năm học 2011-2012 là 45 tiết ( chỉ tính
những tiết bắt buộc trong các đợt khảo sát, thi giáo viên giỏi), trong năm học 20122013 là 67 tiết; ngoài ra môn Tin học được sử dụng giáo án điện tử thường xuyên
trong các tiết dạy.
- Thành lập được thư viện đề thi với tất cả các môn tại Website của đơn vị.
- Trường xây dựng trang web riêng tại địa chỉ: ;
100% cán bộ giáo viên biết khai thác thông tin trên website của ngành. Công việc
liên quan đến thông tin, biểu mẫu được sử dụng qua kênh điều hành office (Văn
phòng trực tuyến); công việc cần số liệu nhanh và chính xác khi làm việc với các
Năm học
TS
học sinh
2009 - 2010 192
2010 - 2011 180
2011-2012 139
06
04
10
0
0
0
Số giỏi Học sinh Học sinh Học sinh Học sinh Học sinh
cấp
giỏi
tiên tiến
huyện cấp trường
0
5
41
2
9
thể, từng cá nhân trong đơn vị từng bước được nâng cao và đi vào nề nếp. Nếu
chúng ta biết khai thác tốt và ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin vào công tác
quản lí và giảng dạy thì công tác quản lí sẽ kịp thời, hiệu quả và chính xác hơn;
trong công tác giảng dạy sẽ giúp các em hứng thú hơn trong học tập, chất lượng
dạy học ngày càng nâng cao . Đó cũng là niềm mong mỏi và hi vọng của tất cả
những người làm công tác giáo dục. Hi vọng trong những năm học tới, cùng với sự
18
đầu tư trang thiết bị ngày càng đồng bộ, hiện đại của cấp trên, việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào công tác quản lí và giảng dạy sẽ trở nên phổ biến để góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của trường PTDTBT THCS Trà Don nói
riêng và Ngành GD Nam Trà My nói chung.
8. Đề nghị.
Việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lí và giảng dạy ban đầu là một bài
toán khó đối với đơn vị, lãnh đạo trường và toàn thể giáo viên của đơn vị, nhưng
qua một thời gian không dài, chủ trương này đã cho thấy hiệu quả tích cực khi
CNTT đã đem lại nhiều kết quả như đã trình bày. Để việc ứng dụng CNTT vào
trong công tác quản lí và dạy học mạng tính đồng bộ và đem lại hiệu quả cao hơn;
để đề tài nghiên cứu này có thể áp dụng rộng rãi hơn ở các đơn vị trường học trên
đại bàn huyện, tôi xin đề nghị một số ý kiến sau:
Đối với trường:
- Thường xuyên tổ chức tập huấn, trao đổi kinh nghiệm trong việc ứng dụng
CNTT cho giáo viên trong đơn vị. Tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động có ứng
dụng CNTT để cán bộ, giáo viên trong đơn vị cùng tham gia.
- Khai thác có hiệu quả Website ở đơn vị, nhất là phần mềm office ( Văn
phòng trực tuyến). Một số công việc cụ thể bắt buộc phải thực hiện qua Văn phòng
trực tuyến.
- Từng bước xây dựng cơ sở vật chất hiện đại hơn như: nâng cấp hệ thống
cáp quang WIFI tại đơn vị có bán kính phủ sóng trên 100m để khu tập thể giáo
22
10. Tài liệu tham khảo:
1.
Nguyễn Sơn Hải, MS.Power Point, Trung tâm tin học Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
2.
Bernd Meier, Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện
dạy học mới,Hà Nội, 2005.
3.
Tài liệu tập huấn kĩ năng CNTT, VVOB, 2009.
4.
Tài liệu hội thảo tập huấn chia sẻ và hợp tác, VVOB, 2009.
5.
Tài liệu CNTT cho dạy học tích cực, VVOB, 2009.
6.
Tài liệu Hội thảo tập huấn về E.learning, VVOB, 2010.
23
11. Mục lục:
Thứ
tự
1
2
3
4
5
6
7
17
18
5.2.3.
5.2.4.
5.2.5.
19
20
21
22
23
24
25
5.3.
6.
7.
8.
9.
10
11.
Tên đề mục
Tên đề tài
Đặt vấn đề
Cơ sở lí luận
Khái niệm công nghệ thông tin
Vai trò của công nghệ thông tin
Cơ sở thực tiễn
7
7
7
7
8
10
11
11
11
12
13
13
14
15
17
18
19
22
23